image banner

Chủ tịch Hồ Chí Minh với biển đảo tiền tiêu của Tổ quốc
Nhân dịp kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026), việc nhìn lại chuyến thăm đảo Cô Tô ngày 9/5/1961, gần ngày sinh nhật Người càng cho thấy ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đại sâu sắc của sự kiện này. Đây không đơn thuần là một hoạt động thăm hỏi, động viên nhân dân vùng biển đảo, mà còn là một dấu mốc chính trị đặc biệt, thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với hệ thống đảo tiền tiêu trên vùng biển Đông Bắc của Tổ quốc. Hơn sáu thập niên đã trôi qua, song những lời căn dặn của Người dành cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân Cô Tô vẫn giữ nguyên giá trị định hướng, tiếp tục soi sáng nhiệm vụ xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, củng cố quốc phòng - an ninh và kiên quyết bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam trong bối cảnh mới.

 

         Trong lịch sử hiện đại Việt Nam, hiếm có vị lãnh tụ nào dành sự quan tâm sâu sắc và toàn diện đối với biển, đảo như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ rất sớm, Người đã nhìn thấy vị trí chiến lược đặc biệt của biển đảo không chỉ đối với quốc phòng, an ninh mà còn đối với sinh kế, tương lai phát triển và không gian sinh tồn lâu dài của dân tộc. Trong tư duy của Người, biển không phải “vùng ven” của đất nước mà là một phần máu thịt của Tổ quốc, nơi kết nối giữa chủ quyền, kinh tế, văn hóa và vận mệnh quốc gia. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, giữ biển đảo không chỉ là nhiệm vụ quân sự mà trước hết là giữ lấy không gian sinh tồn và tương lai phát triển lâu dài của dân tộc.

1. Chuyến thăm lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đảo Cô Tô năm 1961

Năm 1961[1], Cô Tô - Thanh Lân bước vào thực hiện nhiệm vụ kế hoạch 5 năm đã đề ra. Trong khí thế lao động xã hội chủ nghĩa, nhân dân Cô Tô - Thanh Lân đã vinh dự được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh ra thăm (ngày 9/5/1961).

Chủ tịch Hồ Chí Minh ra thăm đảo Cô Tô giữa lúc đồng bào đang tích cực chuẩn bị cho vụ cá sắp tới và đang hăng hái làm thủy lợi chuẩn bị cho vụ mùa. Người tới thăm hợp tác xã nông nghiệp của người Hoa  trên đảo. Nói chuyện trước hơn 2.000 đồng bào, cán bộ, bộ đội trên khu đồi sim đang mùa hoa nở, Người dặn dò mọi người trên đảo những công việc cụ thể cần làm tốt để các đảo thiết thực góp phần vào sự nghiệp chung xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện hòa bình, thống nhất nước nhà[2].

Anh-tin-bai
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm đảo Cô Tô ngày 9/5/1961 (Nguồn: Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Cô Tô)

 

Nhận được tin Bác đến thăm đảo Cô Tô, Ủy ban hành chính tỉnh Hải Ninh, Ủy ban hành chính huyện Cẩm Phả (nay là huyện Vân Đồn), trực tiếp là Ủy ban hành chính xã Cô Tô cùng một số đơn vị quân đội đóng trên đảo và các dân tộc sinh sống ở quần đảo Cô Tô đã tổ chức mít tinh đón Bác. Đảng bộ và nhân dân xã đảo Cô Tô dưới sự chỉ đạo của ông Voòng Xi - Bí thư đảng ủy và ông Tắc Quang - Chủ tịch Ủy ban đã triển khai phát quang khu bãi cát, làm chòi canh gác, giao cho lực lượng dân quân xã thường trực. Do lịch trình của Bác hết sức bí mật, không biết chính xác Bác sẽ ra thăm đảo lúc nào nên Trung đội dân quân đã triển khai nhiệm vụ bảo vệ mục tiêu từ hai ngày trước, túc trực canh gác không cho người và trâu bò vào trong khu vực đã được đánh dấu ranh giới bằng vạch vôi và những lá cờ đuôi nheo. Các gia đình, các cơ quan đơn vị đóng trên đảo đều nô nức chuẩn bị đón Bác. Các cháu học sinh trên địa bàn được nhà trường tổ chức thành đội ngũ đón Bác. Tại xã Thanh Lân, ông Lường Mũi Nàm - Chủ tịch Ủy ban đã thay mặt Ủy ban hành chính xã thông báo tin Bác ra thăm tới từng gia đình. Hợp tác xã ngư nghiệp Bắc Vàn Thầu và Hợp tác xã ngư nghiệp Tiến Vọt huy động tất cả các tàu thuyền đánh cá nghỉ, tập trung sang Cô Tô đón Bác. Học sinh hai trường Bắc Vàn Thầu và trường Chiến Thắng, mỗi em được trang bị một lá cờ đuôi nheo để vẫy chào Bác[3].

Vào khoảng 8 giờ sáng ngày 9/5/1961, chiếc trực thăng chở Bác Hồ từ từ đáp xuống đúng vị trí đã được đánh dấu và canh phòng, Bác bước xuống cầu thang máy bay trong tiếng hoan hô vang dội của 2.000 người đủ già, trẻ, gái, trai, cán bộ, bộ đội, công an… Bác đi bắt tay các đồng chí lãnh đạo tỉnh, huyện, xã, các đồng chí lãnh đạo các đơn vị lực lượng vũ trang trên đảo. Bác ân cần thăm hỏi các cụ già, các em nhỏ. Nhiều người vô cùng xúc động và vinh dự được Bác bắt tay, thăm hỏi. Giây phút ấy có lẽ là phút giây vinh dự, hạnh phúc, tự hào nhất trong cuộc đời họ. Vì thế nhiều người mãi sau này vẫn còn nhớ như in buổi sáng hôm ấy, như ông Mần Phoóng (tức ông Nguyễn Văn Phương) đảo Thanh Lân, ông Voòng Tống được Bác trực tiếp bắt tay. Bác thân mật hỏi chuyện chị Cảnh Khoằn, một người phụ nữ gốc Hoa; Bác ôm hôn các chiến sỹ thi đua, Bác trồng cây lưu niệm trên đảo Cô Tô; Bác chia kẹo cho các cháu học sinh, thiếu niên, nhi đồng…[4].

Sau đó, Bác nói chuyện với đồng bào, cán bộ và chiến sĩ trên đảo. Trong giờ phút thiêng liêng đầy tình cảm thân mật, cán bộ, chiến sĩ, đồng chí, đồng bào trên đảo được tận mắt nhìn thấy Bác trong bộ quần áo Kaki, chân đi đôi dép cao su giản dị, Bác nói:

Trong thời kỳ kháng chiến đồng bào ta đã hăng hái giúp đỡ cán bộ và bộ đội. Từ khi hòa bình lập lại, đồng bào đã đoàn kết chặt chẽ, khắc phục khó khăn, thi đua sản xuất thực hiện tiết kiệm. Nhờ vậy mà đời sống đã tiến bộ hơn trước, đồng bào đã tổ chức các hợp tác xã để làm ăn cho vui vẻ và tiến bộ. Như thế là tốt. Để tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc, các hợp tác xã cần phải ra sức thực hiện các việc sau đây:

- Thủy lợi tốt, phân bón nhiều, chọn giống tốt, cày sâu bừa kỹ, cấy dày đúng mức, v.v… Nói tóm lại ta quen gọi là “kỹ thuật liên hoàn”, anh em Trung Quốc gọi là “biện pháp 8 chữ”.

- Phải ra sức chǎn nuôi, vì chǎn nuôi vừa là một nguồn lợi lớn, lại là một kho phân nhiều.

- Cần đẩy mạnh nghề đánh cá, nghề làm muối, nuôi dưỡng và bảo vệ các thứ hải sâm, trân châu, v.v.. Để làm tốt những nghề đó, thì cần phải cải tiến kỹ thuật, cải tiến lưới, thuyền.

- Cần trồng nhiều cây ǎn quả, cây lấy gỗ, cây ngǎn gió. Trồng cây sẽ đưa lại cho nhân dân một nguồn lợi to, lại làm cho xứ sở ta thêm tươi đẹp.

- Phải ra sức củng cố hợp tác xã, làm đúng khẩu hiệu: “cần kiệm xây dựng hợp tác xã”.

- Về vǎn hoá, cần cố gắng thanh toán nạn mù chữ và đẩy mạnh phong trào bổ túc vǎn hoá trong cán bộ và nhân dân. Việc vệ sinh phòng bệnh cũng cần tǎng cường. Có sức khoẻ đầy đủ thì sản xuất mới mạnh mẽ.

- Về trật tự, trị an, các đồng chí bộ đội, công an, dân quân và cán bộ lâu nay đã làm tròn nhiệm vụ. Như thế là tốt. Các đồng chí cần tiếp tục cố gắng học tập chính trị, nghiệp vụ và vǎn hoá, cần đoàn kết chặt chẽ với nhân dân và giúp đỡ nhân dân. Đồng bào thì cần giúp đỡ các đồng chí ấy làm nhiệm vụ cho thật tốt.

Để làm tốt các việc trên đây, mỗi người phải nhận thật rõ và làm thật đúng nghĩa vụ người làm chủ nước nhà. Cán bộ phải chí công vô tư, phải một lòng một dạ phục vụ nhân dân. Đảng viên và đoàn viên thanh niên lao động phải làm đầu tàu, làm gương mẫu trong mọi công việc. Hiện nay, trong số hơn 4.000 nhân dân, chỉ có 180 đảng viên và đoàn viên, như thế là quá ít. Cần phải phát triển thêm và phát triển tốt Đảng và Đoàn.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, cùng sự đoàn kết cố gắng của nhân dân, đời sống của đồng bào ta đã cải thiện khá. Thí dụ: Sản lượng cá từ 200 tấn đã tăng lên đến 700 tấn. Trong mấy tháng đầu năm nay, đồng bào đã vỡ hoang và trồng được hơn 45 vạn gốc sắn. Trong hơn 600 gia đình thì 200 gia đình đã làm được nhà mới v.v… Như thế là khá. Nhưng đồng bào phải cố gắng hơn nữa để làm cho đời sống ấm no, vui tươi hơn nữa.

Hiện nay, Hải Ninh có tiến bộ về các mặt, cán bộ tỉnh cần phải hướng dẫn và giúp đỡ cho đồng bào các đảo cũng đều tiến bộ, để đồng bào các đảo góp phần vào xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện hòa bình, thống nhất nước nhà.

Thủ đô Hà Nội tuy cách xa các đảo, nhưng Đảng và Chính phủ luôn luôn quan tâm đến đồng bào các đảo và mong đồng bào đoàn kết cố gắng và tiến bộ”[5].

Điều đáng chú ý là trong bài nói chuyện ngắn gọn ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ căn dặn riêng từng lĩnh vực sản xuất hay đời sống xã hội, mà còn đặt ra một định hướng phát triển tổng thể cho vùng đảo tiền tiêu. Từ thủy lợi, chăn nuôi, đánh cá, làm muối đến giáo dục, y tế, xây dựng Đảng, củng cố quốc phòng - an ninh đều được Người nhìn nhận trong mối liên hệ với nhau. Đó chính là tư duy phát triển toàn diện, kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng, giữa xây dựng đời sống nhân dân với bảo vệ chủ quyền quốc gia - một tư duy vượt trước thời đại trong điều kiện đất nước lúc bấy giờ còn vô cùng khó khăn.

Bài nói chuyện của Bác với đồng bào, cán bộ, chiến sĩ đảo Cô Tô rất ngắn gọn, cụ thể nhưng hàm chứa trong đó tư tưởng lớn về sự kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, kinh tế với văn hoá, “ích chung” cho quốc kế dân sinh mà lại “lợi riêng” cho sự phát triển của mỗi địa phương, đơn vị. Những lời chỉ dạy của Người là ngọn đuốc soi đường và là nguồn cổ vũ, động viên tinh thần to lớn đối với Đảng bộ và đồng bào các dân tộc tỉnh Hải Ninh nói chung, nhân dân Cô Tô nói riêng trong công cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập, chủ quyền không chỉ trong những chặng đường lịch sử đã qua mà còn định hướng thúc đẩy việc thực hiện các nhiệm vụ công tác, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, phát triển biển, đảo Tổ quốc cho hôm nay và mai sau. Sau khi dự lễ mít tinh và nói chuyện với đồng bào trên đảo, Bác đến thăm một số hợp tác xã sản xuất trên đảo. Đi qua khu vực ruộng trồng khoai (nay là khu vực Dốc Khoai), Bác muốn xem năng suất, chất lượng giống khoai bà con trồng trên đảo, đồng chí Hoàng Chính - Bí thư tỉnh ủy Hải Ninh đã bới một bụi khoai dưới ruộng cho Bác xem. Bác xem rồi nói với mọi người: “Khoai rất nhiều củ nhưng vì thiếu phân và thiếu nước nên củ nhỏ”. Tiếp đó Bác đến thăm cánh đồng muối thuộc thôn Nam Hải (nay là khu 1, thị trấn Cô Tô). Sau khi thăm đồng muối, Bác về nghỉ trưa tại trụ sở Ủy ban hành chính xã Cô Tô (hiện nay là Nhà trưng bày lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh)[6].

Bài nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là lời căn dặn, nhắc nhở đối với Đảng bộ, chính quyền tỉnh Hải Ninh trong việc tăng cường công tác xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận và các tổ chức đoàn thể, lực lượng vũ trang trên địa bàn Cô Tô - Thanh Lân, tích cực phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, để đồng bào các đảo yên tâm sản xuất, góp phần vào xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiếp tục sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Đây là sự kiện lịch sử trọng đại của cấp ủy, chính quyền, quân và dân Cô Tô - Thanh Lân nói riêng, tỉnh Hải Ninh nói chung.

2. Tượng Bác Hồ trên đảo Cô Tô và thông điệp về chủ quyền biển đảo

Từ sự quan tâm và tình cảm đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tháng 11/1962, thể theo nguyện vọng của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trong tỉnh, đặc biệt hai xã Cô Tô - Thanh Lân, Ủy ban hành chính tỉnh Hải Ninh đã xin phép Chủ tịch Hồ Chí Minh được dựng tượng Người trên đảo Cô Tô. Đề đạt này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng ý (tượng được xây dựng và khánh thành vào năm 1968). Đây cũng là nơi duy nhất trên cả nước được phép dựng tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh từ khi Người còn sống[7]. Sự kiện ấy mang ý nghĩa đặc biệt không chỉ đối với nhân dân huyện đảo mà còn trong lịch sử văn hóa, chính trị Việt Nam hiện đại. Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng ý cho dựng tượng của mình tại một hòn đảo xa đất liền cho thấy trong suy nghĩ của Người, biển đảo luôn là phần lãnh thổ thiêng liêng, không thể tách rời của quốc gia dân tộc. Bức tượng không chỉ là biểu tượng tình cảm của nhân dân đối với lãnh tụ, mà còn là một “cột mốc tinh thần” khẳng định chủ quyền Việt Nam nơi tuyến đầu Đông Bắc.

Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng ý cho dựng tượng của Người tại Cô Tô mang nhiều ý nghĩa.

Thứ nhất, đó là sự khẳng định về chủ quyền biển đảo, chủ quyền quốc gia của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cô Tô là vị trí tiền tiêu có ý nghĩa chính trị, quân sự đặc biệt quan trọng của đất nước[8], giữ vai trò quan trọng trong thế trận phòng thủ - tấn công trên vùng biển Đông Bắc. Là một người am hiểu sâu sắc về lịch sử và văn hóa truyền thống hàng ngàn năm của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh biết rõ trong tiến trình phát triển của dân tộc Việt Nam, nhiều dấu mốc lịch sử hết sức quan trọng gắn liền với vị trí, vai trò các vùng biển đảo của Tổ quốc. Tượng đài của Người đặt trên đảo tiền tiêu là hồn thiêng sông núi, dấu mốc lịch sử, khẳng định chủ quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của Việt Nam trên Biển Đông.

Thứ hai, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Người về vai trò, vị thế của biển, đảo trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Trong suốt chiều dài lịch sử, từ các triều đại phong kiến đến thời đại Hồ Chí Minh đã đề ra các quyết sách, chủ trương quan trọng về biển, đảo và triển khai trên thực tế công cuộc khai thác, xác lập chủ quyền, bảo vệ lợi ích, biên cương của Tổ quốc. Sinh thời, Người đã chỉ rõ: “Đồng bằng là nhà, mà biển là cửa. Giữ nhà mà không giữ cửa có được không?... Nếu mình không lo bảo vệ miền biển, thì đánh cá, làm muối cũng không yên. Cho nên một nhiệm vụ quan trọng của đồng bào miền biển là phải bảo vệ bờ biển. Đồng bào miền biển là người canh cửa cho Tổ quốc”. Tượng Bác Hồ mãi mãi nhắc nhở các thế hệ người Việt Nam về vai trò, vị thế của biển, đảo trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Thứ ba, thể hiện sự quan tâm của Người đối với vùng đất và con người Cô Tô - Thanh Lân. Bức tượng Người như một hiện thân hằng ngày động viên, khích lệ tinh thần đoàn kết, hăng say lao động sản xuất, thi đua yêu nước, chiến đấu, anh dũng hy sinh bảo vệ vùng trời, vùng biển của quân và dân Cô Tô - Thanh Lân, phát huy tinh thần độc lập, tự chủ trong kháng chiến, bảo vệ và xây dựng đời sống mới. Sự quan tâm này thể hiện hết sức sâu sắc trong bài nói chuyện của Người đối với nhân dân Cô Tô ngày 9/5/1961.

*

Có thể thấy rằng, trong bối cảnh vấn đề chủ quyền biển đảo tiếp tục đặt ra nhiều yêu cầu mới, những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với quân và dân Cô Tô càng cho thấy giá trị trường tồn. Từ một huyện đảo còn nhiều khó khăn đầu thập niên 1960, Cô Tô hôm nay đã có những đổi thay mạnh mẽ về hạ tầng, kinh tế biển, du lịch, đời sống dân cư và thế trận quốc phòng - an ninh. Nhưng vượt lên trên tất cả những đổi thay ấy, điều còn được lưu giữ bền vững nhất chính là tinh thần bám biển, giữ đảo và ý thức chủ quyền đã được hun đúc qua nhiều thế hệ dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh.

Chuyến thăm đảo Cô Tô năm 1961 là một dấu ấn đặc biệt trong cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh và trong lịch sử vùng biển đảo Đông Bắc của Tổ quốc. Từ chuyến đi ấy, những lời căn dặn giản dị mà sâu sắc của Người đã trở thành phương hướng hành động, nguồn động viên tinh thần to lớn đối với nhiều thế hệ quân và dân nơi đảo tiền tiêu.

Hơn sáu mươi năm đã trôi qua, giữa biển trời Đông Bắc, tượng Bác Hồ trên đảo Cô Tô vẫn hướng mặt ra biển lớn như một biểu tượng thiêng liêng của ý chí độc lập, chủ quyền và khát vọng trường tồn của dân tộc Việt Nam. Trong dòng chảy lịch sử hôm nay, hình ảnh ấy không chỉ nhắc nhớ về tình cảm sâu nặng của Người đối với biển đảo quê hương, mà còn nhắc mỗi người Việt Nam về trách nhiệm giữ gìn từng tấc biển, từng hòn đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

 
Chú thích:

[1] Thời kỳ 1961 - 1962, đảo Cô Tô gồm hai xã đặc biệt Cô Tô và Thanh Lân trực thuộc Ủy ban hành chính tỉnh Hải Ninh. Sau khi tỉnh Hải Ninh và khu Hồng Quảng sáp nhập thành tỉnh Quảng Ninh (tháng 10/1963), hai xã Cô Tô và Thanh Lân nhập vào huyện Cẩm Phả (nay là huyện Vân Đồn), đến năm 1994 thì tách ra thành lập huyện Cô Tô. Cô Tô là huyện đặc biệt của tỉnh Quảng Ninh: bao gồm những hòn đảo ngoài tuyến khơi xa bờ nhất, giữ vị trí tiền đồn hết sức quan trọng trong vùng biển Đông Bắc của Tổ quốc.

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.10, tr.354-355; Báo Nhân Dân, số 2605 và 2609, ngày 9 và ngày 12/5/1961; Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Tỉnh ủy Quảng Ninh, Những sự kiện lịch sử Đảng tỉnh Quảng Ninh (1955-1965), Quảng Ninh, 1984, tr.148.

[3] Xem: Lý lịch Di tích lịch sử Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đảo Cô Tô, Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Cô Tô, tr.13-15.

[4] Xem: Lý lịch Di tích lịch sử Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đảo Cô Tô, Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Cô Tô, tr.13-15.

[5] Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Cô Tô, Lịch sử Đảng bộ huyện Cô Tô (1994-2004) (Sơ thảo), Cô Tô, tháng 3/2004, tr.18-19; BanTuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Ninh, Bác Hồ với nhân dân các dân tộc Quảng Ninh, Quảng Ninh, 7/2007, tr.106-113.

[6] Xem: Lý lịch Di tích lịch sử Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đảo Cô Tô, Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Cô Tô, tr.17-18.

[7]  Đến năm 2023, trong cả nước có 885 di tích và địa điểm di tích liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh ở 32 tỉnh thành phố, trong đó có 40 di tích quốc gia, 7 di tích quốc gia đặc biệt, nhưng duy nhất chỉ có 1 di tích quốc gia đặc biệt về Bác ở một huyện đảo là Cô Tô.

[8] Vùng biển Việt Nam có gần 4.000 hòn đảo lớn nhỏ trong đó: vùng biển Đông Bắc có trên 3.000 đảo, Bắc Trung Bộ trên 40 đảo, còn lại ở vùng biển Nam Trung Bộ, vùng biển Tây Nam và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hệ  thống  đảo tiền  tiêu  có  vị  trí quan  trọng  trong  sự  nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đó là các đảo, quần đảo như: Hoàng Sa, Trường Sa, Thổ Chu, Phú Quốc..., Côn Đảo, Phú Quý, Lý Sơn, Cồn Cỏ, Cô Tô, Bạch Long Vĩ.

[9] Địa chí huyện Cô Tô, Quảng Ninh, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2024. 

TS. Lê Thị Thu Hằng, Viện Sử học, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam
Tin nổi bật
  • Bộ sách gồm 10 tập, Viện Sử học dịch, Nxb KHXH xuất bản.
    23/04/2013
  • Đại Nam nhất thống chí đời Tự Đức là bộ sách địa lý học Việt Nam đầy đủ nhất dưới thời phong kiến. Đại Nam nhất thống chí theo bộ Đại Thanh nhất thống chí của Trung Quốc mà chia ra các mục như: phương vi, phân dã, kiến trí, duyên cách, phủ huyện, hình thế, khí hậu, phong tục, thành trì, học hiệu, hộ khẩu, điền phú, sơn xuyên, quan tấn, dịch trạm, thị lập, tứ miếu, tự quán, phân việt, thổ sản, v.v... Ngoài ra, Đại Nam nhất thống chí còn có quyển chép riêng về Cao Miên (Campuchia), Xiêm La, Miến Điện, Nam Chưởng, Vạn Tượng.
    22/04/2013
  • Trong tập sách này, các tác giả không chỉ trình bày các sự kiện về quân sự, chính trị mà còn nêu lên nhiều sự kiện khác thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại....
    27/09/2012
  • "Việt Nam những sự kiện lịch sử (Từ khởi thủy đến 1858)" là cuốn sách ghi lại các sự kiện lịch sử nước nhà từ khởi thủy đến khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược vào giữa thế kỷ XIX.
    27/09/2012
  • Đại Nam liệt truyện là một bộ sách có quy mô khá đồ sộ trong kho tàng thư tịch cổ viết bằng chữ Hán của Việt Nam, do cơ quan làm sử chính thức của nhà Nguyễn là Quốc sử quán biên soạn vào giữa thế kỷ XIX.
    24/09/2012
  • Lịch triều hiến chương loại chí là bộ bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam. Có nghĩa là Phép tắc các triều đại chép theo thể phân loại do Phan Huy Chú soạn trong 10 năm (1809-1819).
    23/09/2012
  • Là bộ sử có giá trị to lớn và quan trọng bậc nhất trong nền sử học Việt Nam thời kỳ cổ trung đại. Bộ chính sử do Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê biên soạn.
    22/09/2012
  • Cuốn sách Cổ luật Việt Nam gốm 2 bộ Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ. Quốc triều hình luật (còn gọi là bộ luật Hồng Đức) và Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là bộ luật Gia Long) là hai bộ cổ luật duy nhất còn lại cho đến nay của các triều đại phong kiến Việt Nam; là những di sản quý giá có giá trị tham khảo về nhiều mặt cho chúng ta ngày nay.
    19/09/2012
  • Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ là một bộ sách được biên soạn dưới triều Nguyễn theo thể loại Hội điển. Thể loại này được đặt ra nhằm ghi chép lại các điển pháp, quy chuẩn và các dữ kiện liên quan đến tổ chức và hoạt động của một triều đại, một Nhà nước.
    19/09/2012
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1