Bảo vệ thành công luận án tiến sĩ Lịch sử “Tác động của chính sách cải lương hương chính đến đời sống làng xã ở tỉnh Hà Đông trong thời kỳ Pháp thuộc ”

11/10/2014
Ngày 9 tháng 10 năm 2014 tại Học viện Khoa học xã hội, 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội, nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Lệ Hà đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ cấp Học viện, chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Mã số: 62.22.03.13 với đề tài “Tác động của chính sách cải lương hương chính đến đời sống làng xã ở tỉnh Hà Đông trong thời kỳ Pháp thuộc”, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Trần Đức Cường.

        Tháng 6 năm 1884, với Hiệp ước Patơnốt (Patenôtre), thực dân Pháp đã chính thức đặt được ách thống trị trên toàn đất nước Việt Nam. Trong thời kỳ đầu cai trị Việt Nam, đi đôi với việc tổ chức bộ máy thực dân, chính quyền Pháp vẫn bảo lưu bộ máy cai trị truyền thống ở các làng xã. Vì mục đích của chính quyền thực dân Pháp lúc này là ổn định được tình hình an ninh ở nông thôn, đồng thời nắm được các nguồn thu về thuế cùng với việc bắt phu và bắt lính ở làng xã. Kể từ đầu thế kỷ XX đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, chính quyền Pháp đã ban hành 7 văn bản lập quy mang tên “Việc tổ chức lại bộ máy hành chính xã” (Reorganisation de l’Administration communale) mà đương thời gọi là chính sách Cải lương hương chính thông qua việc ban hành và thực thi các Nghị định của chính quyền thuộc địa và các Đạo dụ của chính phủ Nam triều. Nội dung cơ bản của các cuộc cải lương hương chính là tổ chức lại bộ máy hành chính theo hướng thực dân hóa bằng các biện pháp: tân học hóa, viên chức hóa, tư sản hóa và pháp chế hóa và thống nhất việc quản lý tài sản, tài chính và các nguồn ngân sách  làng xã. Mục đích cuối cùng của chính quyền Pháp là làm cho bộ máy chính quyền làng xã phục vụ đắc lực hơn nữa chế độ thuộc địa mà họ đã dựng lên.

 

        Trong thời kỳ Pháp thuộc Hà Đông là một trong những tỉnh lớn ở Bắc Kỳ thời kỳ Pháp thuộc, về mặt vị trí địa lý, giao thông, kinh tế, văn hóa-xã hội cũng như về chính trị, đều thỏa mãn những điều kiện để chính quyền Pháp chọn làm nơi thử nghiệm chính sách cải lương hương chính. Sau 8 năm thử nghiệm ở một số làng xã tỉnh Hà Đông, chính sách cải lương hương chính đã mang lại kết quả khả quan.

 

        Dưới tác động chính sách cải lương hương chính của chính quyền Pháp về mặt nào đó đã đem lại một số mặt tích cực cho đời sống làng xã ở tỉnh Hà Đông như: Một số cải cách “dân chủ”, có tính chất tiến bộ so với chế độ phong kiến; Thủ công nghiệp truyền thống ở tỉnh Hà Đông những năm đầu thế kỷ XX đã khôi phục và phát triển, nhiều nghề mang lại giá trị kinh tế cao như dệt, khảm, mây tre đan… bằng chính sách “chấn hưng công nghệ”; Vệ sinh, y tế dưới tác động của chính sách cải lương hương chính được nâng lên một bước, một số làng xã đã xây được bể lọc nước bằng cát. Một số tục lệ cổ hủ như tổ chức ăn uống linh đình trong đám hiếu, hỉ, khao vọng, lão…đã phần nào được giảm bớt; Giáo dục, về hình thức chính sách cải lương hương chính đã khuyến khích các làng xã mở trường học nên số lượng trường làng và học sinh đã tăng hơn trước, bước đầu giúp con em đi học đỡ vất vả vì đi học gần.

 

 

Lãnh đạo Viện Sử học tặng hoa chúc mừng tân Tiến sĩ

 

 

        Tuy nhiên, tác động của chính sách cải lương hương chính đến đời sống làng xã tỉnh Hà Đông thời kỳ Pháp thuộc vẫn còn hạn chế, tiêu cực: Chính quyền Pháp đã thành công khi nắm trong tay cả quyền quyết định nhân sự và kiểm soát nguồn tài chính, các hoạt động văn hóa, giáo dục, an ninh trật tự. Vì thế, tính tự trị, độc lập của làng xã cổ truyền ở tỉnh Hà Đông đã bị hạn chế; Chính quyền Pháp đã dùng mọi biện pháp để tận thu mọi khoản từ người dân về hình phạt hay tục lệ của làng: khao vọng, khao lão, hiếu, hỉ…; Đối với giáo dục, về hình thức cải lương hương chính đã tác động tích cực đến giáo dục làng xã, vì số lượng trường, học sinh có tăng lên, nhưng thực chất việc xây trường và trả lương cho giáo viên là do người dân đóng góp, không phải từ nguồn ngân sách của chính phủ Pháp; Chính quyền Pháp đưa ra những khẩu hiệu “khai hóa văn minh” hay “mở mang phong hóa”, “bài trừ hủ tục”, để giúp nông dân thoát khỏi cảnh “tối tăm lầm than”, nhưng sau 3 lần thực hiện chính sách cải lương hương chính ở Bắc Kỳ nói chung và tỉnh Hà Đông nói riêng đời sống làng xã vẫn trong tình trạng hết sức cổ hủ, lạc hậu…

 

        Luận án khẳng định cuộc cải lương hương chính ở Bắc Kỳ nói chung và tỉnh Hà Đông nói riêng về hình thức đã thất bại vì phải thay đổi 3 lần như trên đã trình bày. Nhưng thực chất, chính quyền Pháp đã đạt được mục đích vì nắm trong tay quyền quyết định cuối cùng về mọi mặt ở làng xã từ bộ máy quản lý, ngân sách, kinh tế, văn hóa-xã hội ở làng xã. Đối với tỉnh Hà Đông, chính sách cải lương hương chính đã tác động ít nhiều đến bộ mặt làng xã như: văn minh, dân chủ hơn. Tuy nhiên, con số làng có được sự thay đổi không nhiều. Còn đại bộ phận làng xã tỉnh Hà Đông vẫn sống như trước khi chính quyền Pháp thực hiện chính sách cải lương hương chính.

 

 

Tân Tiến sĩ chụp ảnh lưu niệm với bạn bè đồng nghiệp Viện Sử học

 

 

        Việc nghiên cứu tác động của chính sách cải lương hương chính đến đời sống làng xã tỉnh Hà Đông trong thời kỳ Pháp thuộc đã góp phần để lại những kinh nghiệm quý báu phục vụ việc xây dựng quy ước mới cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam. Cho đến nay, hương ước (hay quy ước mới) ở làng xã vẫn còn có vai trò, thậm chí đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội ở nông thôn vì đã kế thừa và phát huy những mặt tích cực của hương ước cải lương như: bầu cử dân chủ, công khai công quỹ; giữ gìn các quan hệ gia đình, làng xóm hòa thuận; đơn giản, tiết kiệm trong đám cưới, tang ma; xây dựng quỹ khuyến học để động viên con em; đường làng ngõ xóm sạch sẽ, văn minh...

 

        Luận án được 7/7 thành viên Hội đồng nhất trí thông qua.

 

 

NHN

 

Các tin cũ hơn.............................

Giáo sư Văn Tạo (1926 - 2017) (12/04/2017)

Giáo sư Văn Tạo, tên thật là Nguyễn Xuân Đào, sinh ngày 29 tháng 4 năm 1926, tại La Tỉnh, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương, công tác ở Ban Văn Sử Địa từ ngày 8 tháng 12 năm 1953 đến năm 1960, ở Viện Sử học từ năm 1960 đến tháng 12 năm 1999 nghỉ hưu. Công tác Đảng từ năm 1953, Đảng ủy viên Đảng ủy Ủy ban Khoa học Nhà nước (nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) 1959-1960.