Bảo vệ thành công luận án tiến sĩ Sử học, đề tài: “Quan hệ Thái Lan-Mỹ từ năm 1991 đến năm 2013”

02/06/2016
Ngày 16 tháng 4 năm 2016, Học viện Khoa học xã hội tổ chức Lễ bảo vệ luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh Nguyễn Quốc Toản về đề tài: “Quan hệ Thái Lan-Mỹ từ năm 1991 đến năm 2013”; Chuyên ngành: Lịch sử thế giới; Mã số: 62 22 03 11; Người hướng dẫn khoa học: PGS.TSKH. Trần Khánh

 

Luận án tập trung nghiên cứu tổng thể quan hệ song phương Thái Lan – Mỹ từ năm 1991 đến năm 2013 trên các lĩnh vực, đặc biệt là trong quan hệ chính trị, an ninh và kinh tế. Từ đó rút ra thành tựu cũng như những trở ngại chính trong quan hệ hai bên; bản chất, đặc điểm của quan hệ này trong bối cảnh mới và các tác động của quan hệ Thái Lan – Mỹ đối với sự phát triển của hai nước, cũng như đối với khu vực, trong đó có ASEAN và Việt Nam.

 

Để giải quyết mục tiêu trên, ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án cấu trúc thành 4 chương, trong đó chương 1 là chương tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài; chương 2,3,4 là chương chính của luận án.

 

Chương 2 của luận án tập trung phân tích quan hệ Thái Lan – Mỹ từ năm 1991 đến năm 2000 trên các lĩnh vực chính trị - an ninh, kinh tế và văn hóa – xã hội. Trong đó, lĩnh vực chính trị - an ninh tập trung khảo sát quan hệ đối ngoại và an ninh giữa Thái Lan và Mỹ trên cơ sở đánh giá “giá trị chiến lược” của Thái Lan đối với Mỹ sau Chiến tranh Lạnh cùng những “kỳ vọng” Bangkok đặt ra trong quan hệ với Washington trong bối cảnh mới. Lĩnh vực kinh tế đi sâu phân tích quan hệ thương mại, đầu tư giữa hai nước, đặt trong mối tương quan với ASEAN và Trung Quốc. Trong khi tương tác văn hóa – xã hội được tiếp cận từ góc nhìn tác động chính sách “Đối ngoại công chúng” của Mỹ với Thái Lan, ảnh hưởng của truyền thông và “giá trị Mỹ” đối với đời sống chính trị - xã hội tại Thái Lan, quan hệ giáo dục giữa hai bên và vai trò của cộng đồng người Thái tại Mỹ trong giao lưu văn hóa giữa hai nước.

 

Với tiêu đề Sự tiến triển trong quan hệ Thái Lan – Mỹ từ năm 2001 đến năm 2013, chương 3 trình bày khá chi tiết sự tiến triển trong quan hệ ngoại giao giữa hai nước trên từng lĩnh vực:

 

Về chính trị - an ninh: Cùng với điều chỉnh chiến lược của Mỹ trong cuộc chiến chống khủng bố và sau đó là “Tái cân bằng”, quan hệ song phương Thái Lan – Mỹ diễn ra sôi động hơn thập niên 90 với các chuyến thăm cấp cao, các cam kết và thỏa thuận song phương được ký kết và triển khai, được xem như “động lực mới” cho quan hệ đồng minh. Nổi bật trong quan hệ hai bên kể từ 2001 là việc Thái Lan được Mỹ trao cho quy chế “đồng minh chính ngoài NATO” (2003) và hai bên ký Tuyên bố tầm nhìn an ninh 2012. Vai trò đồng minh của Thái Lan cũng được Mỹ nhấn mạnh trong bối cảnh Nhà trắng điều chỉnh chính sách đối với Đông Nam Á và đặc biệt là triển khai chính sách Tái cân bằng.

 

Những diễn biến này mặc dù đem lại một số sung lực mới cho quan hệ Thái Lan – Mỹ nhưng đều chưa đáp ứng được kỳ vọng của hai bên trong bối cảnh mới của thế giới và khu vực, trong khi còn các khác biệt về lợi ích chiến lược. Thái Lan đặt quan hệ với Mỹ trong tổng thể đối ngoại đa phương, đa dạng hóa, ưu tiên cho hợp tác khu vực, cân bằng quan hệ với các nước lớn, coi trọng yếu tố Trung Quốc cả về chiến lược và kinh tế, mở rộng quan hệ với các cường quốc khu vực, nhất là Nhật Bản, Ấn Độ, EU. Về phía Washington, giá trị chiến lược của Thái Lan với Mỹ được xem là “không chắc chắn” do bất ổn chính trị kéo dài tại Thái Lan, trong khi các “đối tác mới” tại khu vực đang thu hút sự quan tâm của Mỹ.

 

Về kinh tế: Thái Lan tiếp tục xem Mỹ là một trong những đối tác quan trọng hàng đầu cả về thương mại và đầu tư. Mỹ nằm trong những thị trường xuất khẩu hàng đầu của Thái Lan, nhất là Thái Lan luôn xuất siêu trong thương mại với Mỹ. Hoa Kỳ cũng là đứng trong nhóm các nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Thái Lan. Tuy nhiên, vai trò của Mỹ đối với Thái Lan về kinh tế không còn sức ảnh hưởng như thập niên đầu sau Chiến tranh Lạnh. Kể từ cuối những năm 2000, Trung Quốc và ASEAN đều vượt Mỹ về các chỉ số thương mại và đầu tư với Thái Lan. Trong khi đó, trong ASEAN, Mỹ tiếp tục quan tâm đến Singapore và Malaysia với tư cách là đối tác kinh tế hơn là Thái Lan. Quan hệ kinh tế Thái Lan – Mỹ trong tương quan quan hệ kinh tế của Thái Lan với Nhật Bản, Trung Quốc và khu vực cùng với những khác biệt lợi ích trong quan hệ kinh tế song phương đã phần nào tác động trở lại tính toán chiến lược của Thái Lan trong quan hệ đồng minh với Mỹ.

 

Về văn hóa - xã hội: Cùng với những điều chỉnh chiến lược nhằm cải thiện “quyền lực mềm” của Mỹ, quan hệ văn hóa – xã hội Thái Lan – Mỹ được thúc đẩy mạnh mẽ, nhất là trong lĩnh vực giáo dục, trao đổi văn hóa, giao lưu nhân dân, qua đó giúp làm mới và thúc đẩy quan hệ đồng minh Mỹ - Thái Lan phục vụ chiến lược của Mỹ tại Đông Nam Á và Châu Á – Thái Bình Dương. Về phía Thái Lan không chỉ ở vị trí “tiếp nhận” mà cũng chủ động thúc đẩy các chính sách tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa hai nước, tranh thủ các yếu tố có lợi trong lĩnh vực văn hóa – xã hội, nhất là về giáo dục, y tế, hỗ trợ công nghệ, viện trợ phát triển… Tuy nhiên, tương tác văn hóa – xã hội giữa Thái Lan với Mỹ cũng đưa lại nhiều tác động tiêu cực đối với văn hóa truyền thống Thái Lan. Ảnh hưởng của lối sống cá nhân, thực dụng, can thiệp của Mỹ trong vấn đề “dân chủ, nhân quyền”… tiếp tục là các thách thức đối với truyền thống văn hóa của Thái Lan cũng như tiến trình hòa giải chính trị tại Thái Lan kể từ sau đảo chính tháng 9 năm 2006.

 

Trên cơ sở trình bày quan hệ từ năm 1991 đến năm 2013 giữa hai nước Thái Lan và Mỹ, luận án dành một chương để đánh giá, nhận xét về một số thành tựu, trở ngại chính trong quan hệ Thái Lan – Mỹ, tìm hiểu các đặc điểm nổi bật của cặp quan hệ song phương này, đồng thời đánh giá tác động của chúng đối với hai thực thể này cũng như với ASEAN, cả mặt tích cực và tiêu cực. Qua đó tìm hiểu các tác động đến Việt Nam, những vấn đề mà Việt Nam có thể tham khảo từ nghiên cứu quan hệ Thái Lan – Mỹ.

 

NCS Nguyễn Quốc Toản chụp ảnh lưu niệm cùng

Hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp Học viện và Giáo viên hướng dẫn

 

 

Theo tác giả, những thành tựu trong quan hệ hai nước giai đoạn 1991-2013 là:

 

- Quan hệ đồng minh quân sự Thái Lan – Mỹ với cơ sở là Hiệp ước Manila 1954 và Tuyên bố chung Rusk – Thanat 1962 được củng cố, khẳng định lại và bổ sung bởi Tuyên bố chung tầm nhìn an ninh Thái Lan – Mỹ 2012; Thái Lan cũng trở thành đồng minh chính ngoài NATO của Mỹ kể từ 2003.

 

- Hợp tác hai nước trong lĩnh vực quân sự và an ninh ngày càng đi vào chiều sâu, đóng vai trò là “xương sống” cho quan hệ song phương; Quan hệ kinh tế - thương mại giữa hai nước không ngừng phát triển và mở rộng theo hướng đối tác;

 

- Quan hệ hai nước trong lĩnh vực văn hóa – xã hội, đặc biệt là giáo dục và giao lưu nhân dân phát triển ngày càng sâu rộng;

 

- Hai nước Thái Lan và Mỹ nhìn chung đã phối hợp thường xuyên, chặt chẽ trên nhiều vấn đề quốc tế và khu vực.

 

Và những vấn đề trở ngại là:

 

Thứ nhất là tác động của thay đổi cục diện chiến lược ở Châu Á – Thái Bình Dương, đặc biệt là sự nổi lên của Trung Quốc, trong khi sức mạnh kinh tế Mỹ suy giảm tương đối kể từ sau khủng hoảng 2008 và Nhà Trắng vẫn đang phải “lao tâm khổ tứ” tại Trung Đông.

 

Thứ hai là sự khác biệt về nhu cầu chiến lược do tính chất bất bình đẳng của quan hệ, dẫn đến khả năng suy giảm lòng tin chiến lược giữa hai bên. Bên cạnh đó, việc Mỹ thực hiện “tiêu chuẩn kép” trong chính sách đối ngoại cũng là một nhân tố khiến người Thái phải thận trọng trong quan hệ đồng minh với Mỹ.

 

Thứ ba là diễn biến tình hình chính trị Thái Lan và vấn đề Hồi giáo miền Nam Thái Lan đã tác động đến sự phục hồi kinh tế và làm suy giảm vai trò của Băng Cốc trong ASEAN cũng như “giá trị” của Thái Lan với Mỹ.

 

Thứ tư là thái độ của Thái Lan trong vấn đề TPP.

 

Thứ năm là những trở ngại do khác biệt về cơ sở văn hóa phương Đông (Thái Lan) và phương Tây (Mỹ), mặc dù giao lưu văn hóa và giao lưu nhân dân đang được chính phủ hai nước tích cực thúc đẩy.

 

Luận án còn đánh giá tác động của quan hệ hai nước Thái Lan – Mỹ đến Việt Nam. Theo tác giả, tác động tích cực từ quan hệ Thái – Mỹ đưa lại cho ASEAN đồng thời đem lại những lợi ích cho Việt Nam với tư cách là thành viên ASEAN và là một chủ thể quốc gia có trách nhiệm tại Đông Nam Á lục địa. Trước hết là vai trò của Mỹ tại khu vực góp phần kiềm chế “cường quyền nước lớn” từ Trung Quốc tại Đông Nam Á, đảm bảo môi trường hòa bình, ổn định phục vụ hợp tác và phát triển. Thỏa thuận hợp tác Thái – Mỹ trong lĩnh vực đảm bảo an ninh và an toàn hàng hải có ý nghĩa nhất định đối với Việt Nam trong vấn đề Biển Đông. Đối thoại chiến lược Thái – Mỹ lần thứ 4 (2012) khẳng định Thái Lan và Mỹ ủng hộ thúc đẩy an ninh hàng hải; hai bên cùng chung lợi ích trong việc duy trì tự do hàng hải cũng như thương mại hợp pháp không bị cản trở trên biển trong khuôn khổ luật pháp quốc tế. Tầm nhìn an ninh Thái – Mỹ 2012 cũng xác định đảm bảo an ninh hàng hải là một lĩnh vực chính trong hợp tác đồng minh quân sự Thái – Mỹ. Đây là các vấn đề phù hợp với lợi ích Việt Nam và là quan điểm chung cần thúc đẩy trong ASEAN.

Bên cạnh đó, những thách thức đối với quan hệ Thái – Mỹ, nhất là trong bối cảnh bất ổn chính trị tại Thái Lan và quan hệ Thái – Trung có thể giúp làm tăng tài nguyên địa chiến lược của Việt Nam tại khu vực và trong ASEAN, tạo ra những cơ hội cho Việt Nam thể hiện vai trò khu vực, đồng thời tăng cường quan hệ với Thái Lan vì lợi ích chung trên tinh thần đối tác chiến lược, giảm các tác động tiêu cực có thể có từ quan hệ Thái – Mỹ, nhất là trong các vấn đề thuộc về lợi ích giá trị của Mỹ. Tuy nhiên, bởi Đông Nam Á là không gian sinh tồn và phát triển trực tiếp của Việt Nam nên khả năng một ASEAN bị chia rẽ, phân hóa, mất đoàn kết có tác động trực tiếp đến các lợi ích của Việt Nam. Mức độ chiều sâu quan hệ Thái – Mỹ và hợp tác quân sự Thái - Mỹ cũng có khả năng làm tăng sức ép về an ninh đối với Việt Nam từ sườn biên giới phía Tây. Bên cạnh đó, trong trường hợp Thái Lan hưởng ứng các đòi hỏi về lợi ích giá trị của Mỹ sẽ có thể có tác động không thuận đến không chỉ Việt Nam mà cả các nước Đông Dương.

 

Luận án là một công trình nghiên cứu công phu, nghiêm túc, 7/7 thành viên Hội đồng đánh giá cao luận án này và nhất trí thông qua.

 

www.gass.edu.vn

 

Các tin cũ hơn.............................

Giáo sư Văn Tạo (1926 - 2017) (12/04/2017)

Giáo sư Văn Tạo, tên thật là Nguyễn Xuân Đào, sinh ngày 29 tháng 4 năm 1926, tại La Tỉnh, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương, công tác ở Ban Văn Sử Địa từ ngày 8 tháng 12 năm 1953 đến năm 1960, ở Viện Sử học từ năm 1960 đến tháng 12 năm 1999 nghỉ hưu. Công tác Đảng từ năm 1953, Đảng ủy viên Đảng ủy Ủy ban Khoa học Nhà nước (nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) 1959-1960.