Bài 4: Giá trị nhân văn muôn đời

01/09/2021
Nói đến Đại tướng Võ Nguyên Giáp là nói đến tài thao lược quân sự kiệt xuất với những chiến công lẫy lừng, điều này đã được lịch sử khắc ghi, thế giới công nhận. Nhưng còn những giá trị sâu thẳm hơn, làm nên sự khác biệt giữa Đại tướng Võ Nguyên Giáp với các thống soái quân sự trên thế giới, đó là tinh thần dĩ công vi thượng, tư tưởng nhân văn, đức tính khiêm nhường và tấm lòng nhân hậu rất mực yêu thương chiến sĩ…

 

Người cách mạng phải dĩ công vi thượng

 

Trong bài tham luận tại Hội thảo kỷ niệm 115 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh do Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức năm 2005, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã kể lại một kỷ niệm sâu sắc: Một buổi tối mùa đông lạnh lẽo, trong hang Pác Bó (Cao Bằng), Bác Hồ trao cho tôi nhiệm vụ tổ chức "Ðội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân". Hang nhỏ nằm sâu trong khe núi. Ngoài cửa hang, nơi Bác Hồ đã khắc vào đá dòng chữ 8-2-1941 là ngày Bác tới ở hang này. Trong hang tối, không khí ẩm và lạnh. Tôi nhặt những cành củi khô nhóm một ngọn lửa sưởi ấm cho Bác. Không dám đốt lửa to, sợ ánh sáng lọt ra ngoài, lộ bí mật. Khói bốc cay xè, củi nổ tí tách. Tôi ở lại nghỉ một đêm với Bác. Nằm bên Bác trên một chiếc giường lát bằng cành cây, tôi lắng nghe tiếng Người nói nhỏ nhẹ đều đều, giọng xứ Nghệ ấm áp. Bác và tôi trò chuyện đến quá nửa đêm, bàn về vấn đề chuẩn bị phát động võ trang khởi nghĩa. Bỗng nhiên Bác dừng lại nói một câu: "Chú Văn ạ, làm cách mạng là phải dĩ công vi thượng".  

 

 

Theo Đại tướng, dĩ công vi thượng là cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích chung lên trên hết, tất cả vì nước vì dân, đặt lợi ích của dân, của nước, của Ðảng lên trên hết, đem lòng chí công vô tư mà đối xử với người, với việc, không mảy may có chút chủ nghĩa cá nhân.

  

Sau này, mỗi khi nói đến thời điểm lãnh sứ mệnh cầm quân, ông Giáp lại nhắc đến cái đêm không bao giờ quên ấy, cái đêm mà Cụ Hồ trao cho ông cẩm nang định hướng hành động cho cả một đời làm cách mạng của mình. “Bác chỉ nói ngắn bốn chữ như vậy thôi, mà tôi nhớ mãi và phấn đấu làm theo lời Bác suốt đời cho đến tận ngày nay”.

 

Dù ở bất kỳ cương vị nào, được Đảng, Nhà nước phân công làm việc gì, kể cả những việc không phải “sở trường”, Đại tướng luôn vui vẻ đón nhận và đặt lợi ích chung lên trên hết, tất cả vì nước vì dân."Tôi đã cống hiến một cách tự nguyện, đã thanh thản trong mọi thử thách, thế là tôi sống vui, sống lâu... Như vậy, tôi đã làm theo lời dạy và noi theo tấm gương của Bác Hồ là "Dĩ công vi thượng".

 

Trên tờ The Sunday Times Magazine, số ra ngày 12-11-1972, tác giả James Fox viết: "Sẽ là sai lầm nếu ta tìm cách tách ông (Võ Nguyên Giáp) ra khỏi khuôn khổ lãnh đạo tập thể".

 

Thật vậy, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Đại tướng luôn đề cao, tôn trọng tập thể, cùng tập thể lãnh đạo thảo luận mọi vấn đề, cùng nhau quyết định. Theo Đại tá, nhà nghiên cứu lịch sử quân sự Trần Trọng Trung trong cuốn Võ Nguyên Giáp - Danh tướng thời đại Hồ Chí Minh, viết: Dù trong những tình huống đặc biệt khẩn trương, ông Giáp cũng cố tạo điều kiện trao đổi, thảo luận (có khi tranh luận, thuyết phục) nhằm đạt được sự nhất trí của tập thể Quân ủy (hay Đảng ủy) đối với dự kiến của mình. Ví dụ như việc thay đổi mục tiêu tiến công đầu tiên trong Chiến dịch Biên giới, việc lui quân khi ta gặp khó khăn trong đợt cuối của các chiến dịch Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám hay sau mấy trận đánh Nà Sản trong đợt 3 Chiến dịch Tây Bắc...

 

Tinh thần tôn trọng tập thể lãnh đạo của vị Tổng Tư lệnh nắm quyền quyết định tối thượng trên chiến trường được thể hiện rõ nét trong việc thay đổi phương châm tác chiến Chiến dịch Điện Biên Phủ. Là Bí thư Tổng Quân ủy, Bí thư Đảng ủy Mặt trận kiêm Chỉ huy trưởng nhưng ông Giáp lại là người đến sau, khi mà tập thể (cả cố vấn Trung Quốc) đã thống nhất cách "đánh nhanh". Mặc dù ngay từ đầu, ông Giáp đã sớm phát hiện "đánh như thế liệu có mạo hiểm không?", nhưng phải trải qua 12 ngày đêm suy nghĩ gắn liền với theo dõi công tác chuẩn bị của ta do khó khăn nên phải kéo dài trong khi đó tình hình địch đã có nhiều thay đổi, ngày 26-1-1954 ông mới có đủ cơ sở để khẳng định đánh nhanh không đảm bảo thắng lợi. Với tinh thần "dĩ công vi thượng", với trách nhiệm về kết quả của chiến dịch có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đồng thời với ý thức tôn trọng tập thể lãnh đạo, Bí thư Đảng ủy Võ Nguyên Giáp đã kết hợp đấu tranh về nguyên tắc "bảo đảm chắc thắng" với kiên trì thuyết phục về tinh thần trách nhiệm trước chiến dịch lịch sử, cuối cùng đã cùng tập thể Đảng ủy Mặt trận đi đến sự nhất trí về phương châm tác chiến mới, đảm bảo thắng lợi cho chiến dịch.

 

Tại Hội nghị Đảng ủy mặt trận, ông phát biểu: Trước khi tôi ra đi, Bác giao nhiệm vụ: “Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh". Nay với tinh thần trách nhiệm trước Bác Hồ và Bộ Chính trị, tôi đề nghị các đồng chí trả lời câu hỏi: Nếu đánh, có chắc thắng trăm phần trăm không? Lê Liêm nói: Anh Văn nêu câu hỏi thật khó trả lời. Ai dám bảo là sẽ chắc thắng trăm phần trăm? Đặng Kim Giang nói tiếp: Làm sao dám đảm bảo như vậy? Võ Nguyên Giáp một lần nữa nhấn mạnh: Tôi nghĩ, với trận này ta phải bảo đảm chắc thắng trăm phần trăm. Bấy giờ, Hoàng Văn Thái mới nói: Nếu yêu cầu chắc thắng trăm phần trăm thì khó… Lát sau, Đảng ủy mới đi đến nhất trí là trận đánh có thể gặp nhiều khó khăn mà ta chưa có biện pháp cụ thể để khắc phục.  Võ Nguyên Giáp đến đấy mới kết luận cần phải chuyển sang phương châm “đánh chắc, tiến chắc”. (Võ Nguyên Giáp hào khí trăm năm, Nxb. Trẻ).

 

 

Vị tướng gần gũi, hết mực thương yêu bộ đội

 

Võ Nguyên Giáp là một vị tướng thương yêu bộ đội hết mực, dù người đó giữ chức vụ gì, quân hàm cao hay thấp. Với cán bộ, chiến sĩ dưới quyền, ông như người cha, người anh, người đồng chí thân thiết và gần gũi. Trước nhiều trận đánh, Đại tướng đều viết thư động viên, nhắc nhở và thăm hỏi tình hình sức khỏe của bộ đội, dân công, thanh niên xung phong… Trong điều kiện cực kỳ khó khăn, thiếu thốn tại chiến trường, Đại tướng vẫn thường xuyên quan tâm, nhắc nhở cơ quan hậu cần, lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị chăm lo sức khỏe, bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội, hết lòng thương yêu bộ đội…

 

Có một câu chuyện cảm động được Đại tá, nhà nghiên cứu lịch sử quân sự Trần Trọng Trung kể lại rằng: Năm 1948, ông là cấp dưới của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Biết ông sắp lấy vợ song hoàn cảnh gia đình lại quá khó khăn, Đại tướng đã chỉ thị cho cơ quan chi 200 đồng để sắm một bộ quần áo mới cho chú rể và đồ dùng cần thiết cho lễ cưới.

 

Hay câu chuyện thể hiện sự bao dung, gần gũi với bộ đội của Đại tướng, được ông Tô Đình Cắm, một trong 34 thành viên của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, khi còn sống đã kể: “Khi tôi tham gia Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân thì tuổi còn rất trẻ, chỉ mới 23 tuổi. Ban đêm khi ngủ tôi thường rất phá, cựa quậy lung tung, nhiều lần tôi còn gác chân lên người anh Văn. Lắm lúc bị anh mắng: Cậu ngủ gác chân quá mình không ngủ được”… Nói thế nhưng Anh vẫn cho tôi ngủ chung”. (Theo 101 khoảnh khắc về Đại tướng Võ Nguyên Giáp-Tủ sách Thăng Long nghìn năm, Nxb Hà Nội).

 

Đại tá Hoàng Minh Phương, nguyên trợ lý cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể với báo chí: Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, khi ta chưa tiêu diệt hoàn toàn đồi A1 và C1, bộ đội thương vong nhiều, Đại tướng triệu tập hội nghị từ cán bộ trung đoàn trở lên rồi nghiêm khắc phê bình: “Đảng giao cho các đồng chí 1 tiểu đoàn có nghĩa là phó thác sinh mệnh của gần 500 con người cho các đồng chí, Đảng giao cho các đồng chí 1 trung đoàn, có nghĩa là các đồng chí quyết định chuyện sống chết của gần 3.000 con người, Đảng giao cho các đồng chí 1 đại đoàn là 1 vạn người con ưu tú của Đảng. Cho nên các đồng chí phải biết tiếc thương từng giọt máu của đồng chí, đồng đội. Các đồng chí thấy thương vong nhiều thì các đồng chí phải biết xót xa”. Nói đến đó, Đại tướng rơi nước mắt.

 

Còn Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, nguyên Tư lệnh bộ đội Trường Sơn, trong Hồi ký đã kể rằng đầu năm 1973, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đi thăm cụm trọng điểm ATP trên đường chiến lược Hồ Chí Minh. Ông hỏi tường tận về tình hình vận chuyển trên đường, tình hình hoạt động của không quân địch, về thương vong của ta. “Những giọt nước mắt dành cho những chiến sĩ vĩnh viễn nằm lại trên trọng điểm này của vị Tổng Tư lệnh giữa chiều Trường Sơn thật sự thấm đậm tình người, lắng sâu trong tâm khảm chúng tôi, không thể nào quên” (Đại tướng Võ Nguyên Giáp với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (2005), Nxb Quân đội nhân dân.

 

 

Là vị Tổng Tư lệnh nhưng ông không bao giờ muốn ở một vị trí cách xa các chiến sĩ của mình, như trong hồi ký của mình, Đại tướng đã tâm sự: “Hạnh phúc lớn nhất đối với người cầm quân, là được ở bên bộ đội, ngay tại mặt trận”. Tấm lòng đó càng được nhân lên bởi đức tính khiêm nhường, dành mọi vinh quang, mọi lời ngợi ca cho nhân dân và người chiến sĩ.

 

Trong một lần tiếp cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert McNamara và phái đoàn Mỹ sang thăm, trả lời câu hỏi “Vị tướng nào trong chiến tranh được ông đánh giá cao nhất?”, Đại tướng đã bình thản trả lời: Quân đội nhân dân là một quân đội Anh hùng. Còn vị tướng dù có công lao đến đâu cũng chỉ là giọt nước trong biển cả. Vị tướng mà tôi đánh giá cao nhất là vị tướng nhân dân. Các ngài gọi tôi là vị tướng thần thoại, nhưng tôi tự nghĩ tôi bình đẳng với những người lính của mình… cho nên tôi rất tôn trọng người chiến sĩ.

 

Là người đề ra những kế hoạch, chỉ thị mang tính chất quyết định, nhưng ông coi đó là trách nhiệm và công việc của một Tổng Tư lệnh được Đảng giao phó: “Trên bình diện nhiệm vụ thì tôi cũng như những người chiến sĩ là bình đẳng, vì tôi hoàn thành nhiệm vụ cũng như người chiến sĩ hoàn thành nhiệm vụ”.

 

Suy nghĩ này của Đại tướng thật đúng như cảm nhận của Thượng tướng Trần Văn Trà: Là một cán bộ cấp dưới của anh Văn, tôi luôn luôn thấy anh Văn nói về cái tốt, cái đúng của đồng đội, đồng thời chưa bao giờ thấy Võ Nguyên Giáp thanh minh một vấn đề nào thuộc về bản thân mình. Với Võ Nguyên Giáp, bất cứ công tác nào mà cách mạng giao phó cho anh, anh đều hoàn thành chu đáo” (Võ Nguyên Giáp - Danh tướng thời đại Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị Quốc gia, 2010).

 

Chiều sâu tư tưởng nhân văn quân sự

 

Theo Đại tá, PGS, TS Trần Ngọc Long, nguyên Phó viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, chất nhân văn trong con người Đại tướng cũng chính là hiện thân của tư tưởng nhân nghĩa, nhân văn trong văn hóa giữ nước của dân tộc Việt Nam được tích tụ, bồi đắp qua hàng nghìn năm lịch sử và được tỏa sáng, phát triển lên tầm cao mới trong thời đại Hồ Chí Minh.

 

Trở lại với câu chuyện quân ta thay đổi phương án tác chiến trước trong trận Điện Biên Phủ. Khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp lên đến mặt trận, mọi công việc chuẩn bị cả về vật chất và tinh thần cho trận đánh được triển khai theo phương án “đánh nhanh, thắng nhanh” đã hoàn tất. Nhưng so sánh tương quan lực lượng, ông nhận thấy, quân đội Pháp được trang bị vũ khí tối tân, luôn có máy bay, xe tăng và đặc biệt pháo binh rất mạnh.   

 

Về phía ta, mặc dù được các nước bạn giúp đỡ vũ khí đạn dược, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, không thể so sánh với xe tăng, máy bay, pháo binh... của địch vốn thường xuyên được chi viện. Sự thành công và thất bại của chiến dịch, tính mạng từng người lính trên chiến trường, không thể mạo hiểm dốc toàn lực "đánh nhanh, thắng nhanh", phơi lưng trong thế trận pháo đài chiến lũy kiên cố của kẻ thù. Nhớ lời Bác dặn trước lúc lên đường "tướng quân tại ngoại", nhưng “chắc thắng mới đánh”, Đại tướng đã quyết định chuyển sang phương án “đánh chắc, tiến chắc”, một quyết định mà sau này ông có lần bộc bạch là “khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy của mình”.

 

Thực tế chiến trường đã chứng minh quyết định của Đại tướng là hoàn toàn sáng suốt, nhưng từ đó còn cho thấy một nguyên nhân quan trọng khiến Đại tướng luôn được toàn dân, toàn quân yêu mến, cảm phục là “tính nhân văn” trong phong cách cầm quân của ông, “luôn đau với từng vết thương của mỗi người lính, tiếc từng giọt máu của mỗi chiến binh”. Điều này đã được nhiều tướng lĩnh, cán bộ dưới quyền của ông khẳng định. Như Thượng tướng Hoàng Minh Thảo đã từng nhận xét: “Tổng Tư lệnh không bao giờ chấp nhận một chiến thắng phải trả bằng bất cứ giá nào về xương máu chiến sĩ do những quyết định tùy tiện và thiếu thận trọng gây ra… “Tư lệnh nhiều đêm mất ngủ hoặc nhiều lần chảy nước mắt khi nghe báo cáo số lượng cán bộ và chiến sĩ bị thương vong quá cao cho một trận đánh” (Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp - Hình ảnh và Tư liệu chọn lọc, Nxb Thời đại).

 

 

Thượng tướng Trần Văn Trà, nguyên Tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam nhận xét: “Trong cuộc đời Tổng Tư lệnh của mình, Võ Nguyên Giáp luôn thực hiện một trong những quan điểm cốt tử của chiến tranh chính nghĩa: Dứt khoát phải giành bằng được chiến thắng với hiệu quả cao nhất nhưng phải đi đôi với hạn chế cao nhất sự hy sinh xương máu của tướng sĩ. Anh Văn đã kiên nhẫn và kiên quyết đấu tranh cho quan điểm cốt tử đó. Chính tinh thần kiên nhẫn và kiên quyết bảo vệ quan điểm cốt tử này càng làm cho anh Văn xứng đáng là người Anh Cả của toàn quân, càng làm cho anh trở thành cây đa rợp bóng mát tình yêu thương đồng đội".

 

Đỉnh cao của tư tưởng quân sự nhân văn, nhân đạo và hòa bình trong con người Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn thể hiện ở quan điểm tránh "tiêu diệt sạch sành sanh, đánh đến tên giặc cuối cùng". Quan điểm đó xuất phát từ truyền thống "lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo" được đúc kết từ ngàn đời nay trong lịch sử dân tộc; quyết chiến và quyết thắng, nhưng vẫn biết khoan dung khi kẻ địch đã thất bại, đầu hàng. Chính vì lẽ đó mà nhiều người từng một thời đứng bên kia chiến tuyến, từ những tướng lĩnh của Pháp đến những người lính Âu-Phi... đều dành cho Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp sự kính trọng và khâm phục đặc biệt.

 

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, sau trận mở màn chiến dịch, tiến công cụm cứ điểm Him Lam của Đại đoàn 312, thương vong của địch rất lớn, tử thương la liệt khắp trận địa. Theo đề nghị của Đại đoàn trưởng Lê Trọng Tấn, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chỉ thị cho ông Mạc Ninh thảo ngay một bức thư chuyển cho Bộ chỉ huy quân Pháp ở Điện Biên Phủ đề nghị cho người ra Him Lam nhận tử thương. Ngay sau ngày chiến thắng, trên cánh đồng Mường Thanh và dọc theo bờ sông Nậm Rốm, Đại tướng cùng Bộ chỉ huy chiến dịch đã cho dựng hàng chục chiếc lều từ vải dù để cứu chữa cho tù binh, hàng binh bị thương. Một nữ tù binh sau khi được phẫu thuật cứu sống kịp thời đã thốt lên: “Cha mẹ tôi đã sinh ra tôi, nhưng chính nhân dân và quân đội Việt Nam đã thực sự cứu tôi sống lại” (Nắm ngải cứu trên đầu Tư lệnh. Nxb Từ điển bách khoa).

 

Với 103 tuổi đời, hơn 80 năm hoạt động cách mạng, con người, nhân cách và những cống hiến to lớn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp sẽ mãi mãi được nhân dân, lịch sử khắc ghi. Tài năng, đức độ của ông đã, đang và sẽ là niềm tự hào, là nguồn cổ vũ to lớn để mỗi người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ tiếp bước trên con đường xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày càng giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc./.

P.V (Theo: qdnd.vn)

Giáo sư Văn Tạo (1926 - 2017) (12/04/2017)

Giáo sư Văn Tạo, tên thật là Nguyễn Xuân Đào, sinh ngày 29 tháng 4 năm 1926, tại La Tỉnh, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương, công tác ở Ban Văn Sử Địa từ ngày 8 tháng 12 năm 1953 đến năm 1960, ở Viện Sử học từ năm 1960 đến tháng 12 năm 1999 nghỉ hưu. Công tác Đảng từ năm 1953, Đảng ủy viên Đảng ủy Ủy ban Khoa học Nhà nước (nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) 1959-1960.