Phát hiện 2 ngôi mộ nghìn tuổi ở Khu đô thị Nam Thăng Long Ciputra

01/04/2011

Hai ngôi mộ được tình cờ phát hiện vào ngày 1-4 bởi công nhân Xí nghiệp Xây dựng số 1 (thuộc Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển hạ tầng đô thị), khi đang thi công tại khu vực Khu đô thị Nam Thăng Long Ciputra. Ngay sau đó, cuộc khai quật được Hội Khảo cổ học và các cán bộ của Viện Khảo cổ học tiến hành. Đến chiều ngày 14-4, các nhà khảo cổ học cũng đã phát hiện thêm một chiếc giếng cổ.

Ảnh:

Theo PGS-TS. Nguyễn Lân Cường, Viện khảo cổ học thì: "Hai ngôi mộ thuộc thời Lục Triều có niên đại khoảng thế kỷ thứ IV- VI, mộ lớn có sớm hơn ngôi mộ bé một chút. Hai ngôi mộ được xây theo phong cách Hán, niên đại vào thời Bắc thuộc, nhưng chủ nhân của chúng không loại trừ có thể là người Việt". Mái của hai ngôi mộ nằm sâu chừng 2m dưới mặt đất. Mộ lớn có chiều dài 4,7m, rộng và cao khoảng 2m. Mộ bé dài 3,9m, rộng 1,2m; cao gần 1m. Chân ngôi mộ lớn nằm sâu hơn mộ bé chừng 1m. Thành mộ được làm bằng đất nung xếp chồng lên nhau, không có chất kết dính, nhưng vẫn bền đến ngày nay. Cả 2 ngôi mộ được xếp bằng các viên gạch nung chồng lên nhau theo kiểu cuốn vòm với những viên gạch múi bưởi ở phía trên. Điểm khác biệt của hai ngôi mộ cổ này là hàng gạch khóa vòm mộ chạy suốt dọc nóc mộ. Gạch ở mặt trong của vách và trần mộ được trang trí hoa văn. Mộ lớn là hoa văn "đồng tiền", "trám lồng", còn mộ nhỏ là hoa văn "xương cá". Trong ngôi mộ lớn phát hiện được khoảng 40 viên gạch rìa cạnh có chữ Hán, 28 hiện vật ở mộ lớn và 5 hiện vật ở mộ nhỏ. Các hiện vật chủ yếu là đồ gốm; 9 chiếc đinh sắt đã bị gỉ; một số hạt thóc, gạo cháy... Cả 2 ngôi mộ đều không hề có dấu vết của gỗ quan tài và xương cốt người do có thể đã bị tiêu tan. Đối với chiếc giếng cổ, hiện Bảo tàng Hà Nội đã có kế hoạch di dời về khuôn viên Bảo tàng.                      

Mẫn Chi

Giáo sư Văn Tạo (1926 - 2017) (12/04/2017)

Giáo sư Văn Tạo, tên thật là Nguyễn Xuân Đào, sinh ngày 29 tháng 4 năm 1926, tại La Tỉnh, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương, công tác ở Ban Văn Sử Địa từ ngày 8 tháng 12 năm 1953 đến năm 1960, ở Viện Sử học từ năm 1960 đến tháng 12 năm 1999 nghỉ hưu. Công tác Đảng từ năm 1953, Đảng ủy viên Đảng ủy Ủy ban Khoa học Nhà nước (nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) 1959-1960.