Hội nghị thông báo Khảo cổ học năm 2014

28/09/2014
Trong hai ngày 25-26/9/2014, tại trụ sở số 1 Liễu Gia, Ba Đình, Hà Nội, Viện Khảo cổ học (thuộc Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam) đã tổ chức Hội nghị thông báo Khảo cổ học lần thứ 49 với sự tham dự của đông đảo các nhà khoa học, nhà nghiên cứu đến từ các trường đại học, trung tâm bảo tồn di sản văn hóa, bảo tàng; đại diện các đơn vị nghiên cứu, quản lý văn hóa các địa phương trong cả nước và một số học giả quốc tế.

 

Phát biểu chào mừng Hội nghị, GS.TS. Võ Khánh Vinh, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (Viện Hàn lâm) đã nhiệt liệt chào mừng sự hiện diện của các vị đại biểu, đánh giá cao công tác tổ chức thường niên của Hội nghị cũng như các thành quả đã đạt được của ngành khảo cổ học trong việc cung cấp các luận cứ quan trọng, khách quan về lịch sử phát triển của dân tộc (thông qua những di sản văn hóa như Hoàng Thành Thăng Long (Hà Nội), Thành Nhà Hồ (Thanh Hóa), Tràng An (Ninh Bình)… Bên cạnh đó giáo sư, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc mở rộng hợp tác nghiên cứu của ngành khảo cổ học và vị trí đặc biệt của khảo cổ học dưới nước và nhận định: Đây là lĩnh vực không mới đối với ngành khảo cổ học thế giới, song lại có ý nghĩa to lớn, góp phần mở rộng không gian nghiên cứu, hỗ trợ đắc lực cho công tác khảo cứu, thám sát, vẽ sơ đồ dưới nước… nhằm tìm kiếm các giá trị văn hóa, khẳng định chủ quyền biển đảo, bảo vệ và phát triển đất nước nói chung.

 

PGS.TS. Nguyễn Giang Hải, Viện trưởng Viện Khảo cổ học phát biểu tại Hội nghị

 

Tại Hội nghị, TS. Bùi Văn Liêm, Phó Viện trưởng Viện Khảo cổ học cho biết: Ban tổ chức đã nhận được được 472 thông báo của các tác giả trong và ngoài nước. Số lượng và nội dung các thông báo khảo cổ đã bám sát các chương trình nghiên cứu lớn; Các cuộc khai quật, điều tra, thăm dò, thám sát, cùng với các phát hiện, nghiên cứu đa dạng và phong phú về di tích, di vật đã bổ sung nhiều tư liệu mới cho ngành khảo cổ học, sử học, văn hóa... Từ đó, có những đóng góp hữu hiệu trong việc xây dựng hồ sơ, quy hoạch, bảo vệ, tôn tạo, phát huy các giá trị của di tích, di sản trong đời sống đương đại.

 

Hội nghị được chia thành 4 tiểu ban: (1) Khảo cổ học thời đại Đá (do TS. Nguyễn Gia Đối, PGS.TS. Hán Văn Khẩn đồng trưởng tiểu ban); (2) Khảo cổ học thời đại Kim Khí (do TS. Trịnh Hoàng Hiệp, PGS.TS. Bùi Chí Hoàng đồng trưởng tiểu ban); (3) Khảo cổ học Lịch sử (do TS. Lê Đình Phụng, TS. Phạm Quốc Quân đồng trưởng tiểu ban); (4) Khảo cổ học Chămpa - Óc Eo (do TS. Nguyễn Tiến Đông; PGS.TS. Ngô Văn Doanh đồng trưởng tiểu ban).

 

Về khảo cổ học Thời đại đá, Ban tổ chức đã nhận được 57 thông báo, tiêu biểu là hoạt động phối hợp giữa Viện Khảo cổ học với các đơn vị khác như:

- Cùng với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bảo tàng Lai Châu khai quật, di dời 7 địa điểm và thu thập hiện vật tại hai địa điểm khảo cổ học phân bố ở hai huyện Mường Tè và Nậm Nhùn. Kết quả khai quật cung cấp nhiều tư liệu khoa học có giá trị, góp phần nghiên cứu tiền sử Lai Châu nói riêng và khu vực Tây Bắc nói chung.

 

- Cùng với Bảo tàng Sơn La trong khảo sát hang Thẳm Bó đã phát hiện tầng văn hóa và những di vật thu được như: công cụ ghè đẽo, rìu mài toàn thân, mảnh tước, đá nguyên liệu, đồ gốm, vết tích vỏ nhuyễn thể và quả hạt đã cho thấy hang Thẳm Bó là nơi cư trú của cư dân thời đại Đá mới, có tuổi khoảng 7000 đến 4000 năm cách ngày nay. Tại di chỉ Bản Mòn đã phát hiện đồ đá, gốm và xương răng động vật là di chỉ - xưởng chế tác rìu tứ giác và chế tác vòng tay bằng kỹ thuật cưa khoan sớm nhất ở miền Tây Bắc. Nhiều hoạt động khác như thám sát tại hang Mã Tráng, xã Thúy Sơn, huyện Ngọc Lặc, Thanh Hóa, các nhà khoa học cũng phát hiện ra rất nhiều mảnh tước và các mảnh xương hóa thạch trên bề mặt có niên đại cách đây khoảng 1 vạn năm... Những kết quả khai quật và phát hiện mới này đã bổ sung nguồn tư liệu quí giá cho Khảo cổ học Thời đại đá.

 

Khảo cổ học Thời đại kim khí gồm 48 thông báo, mô tả các hoạt động nghiên cứu phong phú, đa dạng: Bộ môn Khảo cổ và Bảo tàng Nhân học, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) phối hợp với Bảo tàng Hà Nội khai quật di tích Vườn Chuối lần thứ 7; Viện Khảo cổ học phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bảo tàng Long An tiến hành khai quật di chỉ Gò Duối lần thứ nhất. Những thám sát ở Cồn Cọc (Hà Tĩnh) tìm hiểu mối quan hệ với di tích Cồn Nền (hệ thống các di tích có gốm tô màu đỏ) và di tích Gò Điệp, Vĩnh Hải, Suối Cam (Khánh Hòa) đã góp thêm tư liệu tìm hiểu mối quan hệ với văn hóa Xóm Cồn với thời kỳ tiền sơ sử ở Khánh Hòa.

 

Trống đồng và các sưu tập hiện vật văn hóa Đông Sơn vẫn là những chuyên đề được phát hiện và thảo luận khá sôi nổi ở tiểu ban kim khí. Những phát hiện và nghiên cứu trống ở Việt Nam tại các tỉnh như: Sơn La, Lai Châu, Thanh Hóa và ngoài Việt Nam như ở Campuchia, Lào, Trung Quốc, những sưu tập di vật phát hiện tại Lào Cai, Tuyên Quang, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An hay tại các bảo tàng tư nhân đã bổ sung vào sưu tập trống Hégơ (loại I, II) và những di vật đồng Đông Sơn vốn đã rất phong phú.

Bên cạnh đó, những nghiên cứu  mới về đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên, Dương Xá, khuôn đúc chùa Gio; khối tượng Đông Sơn độc đáo trong sưu tập ở Hà Nội; Niên đại mộ thuyền Bắc Ninh; đồ gốm bầu trúc Ninh Thuận, nghề đan lát Lò Gạch Long An, hiện vật lạ ở Bình Dương cũng nhận được nhiều ý kiến thảo luận sôi nổi của các đại biểu tham dự.

 

Khảo cổ học Lịch sử nhận được 239 thông báo, tập trung vào những hoạt động tiêu biểu sau: Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long – Hà Nội và Viện Khảo cổ học đã khai quật Khu di tích Điện Kính Thiên từ những dấu tích kiến trúc và di vật đã xác định được rõ tầng văn hóa liên tục từ thời Đại La qua thời Lý, Trần, Lê sơ, Lê Trung Hưng đến thời Nguyễn.

 

Viện Khảo cổ học, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Hà Nội khai quật khu vực nút giao thông Ô Chợ Dừa phát hiện dấu tích di tích, di vật thuộc các thời đại khác nhau Trần - Lê - Nguyễn; Trung tâm Bảo tồn di tích Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Bảo tàng Lịch sử Thành phố, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn khai quật ngôi mộ cổ trong khuôn viên đình An Khánh. Kết quả cho thấy, bình đồ và kết cấu kiến trúc mộ cổ tương đối phổ biến ở Nam Bộ thuộc loại hình mộ hợp chất dành cho tầng lớp thượng lưu, niên đại khoảng nửa đầu thế kỷ XIX.

 

Những hoạt động điều tra, thám sát ở Thành Lữ (Cao Bằng), Thành Nhà Bầu (Tuyên Quang), Thành Cổ Lộng (Nam Định) và kết quả thu được sau khi tìm hiểu về vị trí, quy mô, cấu trúc Thành Vạn An (Nghệ An)… đã bổ sung cho những nghiên cứu trước đây về sự có mặt sớm và liên tục của cư dân thời đại kim khí miền Trung cũng như của người Việt trong lịch sử Việt Nam thời Lý - Trần - Lê - Nguyễn. Ngoài ra, tiểu ban cũng có nhiều thông báo về các di tích, di vật phát hiện được tại các đình, chùa, miếu, đền, các văn chỉ, tư liệu Hán nôm, văn bia, sắc phong, tiền, gốm sứ… góp phần làm phong phú thông tin về Khảo cổ học Lịch sử Việt Nam qua những dấu mốc có tính thời đại của dân tộc.

 

Khảo cổ học Chămpa – Óc Eo, khảo cổ học dưới nước nhận được 33 thông báo về các hoạt động như sau: Trung tâm Khảo cổ học, Viện Khoa học xã hội vùng Nam bộ phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Ninh Thuận khai quật lần thứ 3 di tích Hòa Lai. Kết quả khai quật làm phát lộ tháp cổng, nền móng kiến trúc cụm tháp phía bắc, tháp giữa và phía nam, hệ thống tường bao. Kết quả này đã bổ sung nhiều tư liệu nghiên cứu di tích Hòa Lai nói riêng và nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc trong lịch sử - văn hóa Chămpa. Bộ môn Khảo cổ học, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội phối hợp với Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Huế tiến hành khảo sát Thành Lồi. Kết quả khảo sát cho thấy những mảnh gốm và mảnh ngói phát hiện mang nhiều nét đặc trưng của đồ gốm thô, mịn và ngói Chăm pa thuộc tầng văn hóa trên của Trà Kiệu, tức từ sau thế kỷ IV – V.

 

Các nhà khoa học đã trao đổi nhiều xung quanh những nghiên cứu về kỹ thuật xây đắp lũy thành ở Thành Lồi (Thừa Thiên Huế), di tích Tháp Mẫm (Bình Định), điểm khác lạ trong kiến trúc nhóm đền tháp Champa làng Gọ, tượng Kuts (Bình Thuận), sưu tập Bồ tát quan thế âm, tượng phật Đông Dương, tượng bò Nadin trong văn hóa Óc Eo, thần Siva, thần Hara, thần Garuda (thành phố Hồ Chí Minh), vết tích dừa trong di chỉ ao Thần Gò Minh Sư (Đồng Tháp), di chỉ Đá Nổi An Giang...

 

Bên cạnh đó, tiểu ban cũng dành quan tâm đặc biệt đối với các thông báo về Khảo cổ học dưới nước - lĩnh vực còn mới ở Việt Nam, song đã có những hoạt động khá sôi nổi như: Viện Khảo cổ học phối hợp với Ban Quản lý các di tích trọng điểm của Quảng Ninh khảo sát dấu vết thương cảng Vân Đồn, mục đích tìm hiểu thời gian tồn tại và những dấu tích thương mại và xây dựng hệ thống bản đồ. Các chuyên gia khảo cổ Úc, Canada, cán bộ Viện Khảo cổ học, Bảo tàng Nghệ An đã tiến hành khảo sát khảo cổ tìm dấu vết con tàu đắm dưới sông Lam (Nghệ An). Những hoạt động khảo sát, nghiên cứu di sản văn hóa biển ở Quảng Ninh, Hà Tĩnh của các học giả nước ngoài (Nhật Bản) đã làm tăng tính hấp dẫn của khảo cổ học dưới nước và nhận được nhiều trao đổi của đại biểu tham dự.

 

Phát biểu tổng kết, PGS.TS. Nguyễn Giang Hải, Viện trưởng Viện Khảo cổ học đã nhiệt liệt chúc mừng thành công của Hội nghị và cho rằng, những vấn đề đặt ra trong các thông báo tại các tiểu ban sẽ trở thành định hướng nghiên cứu cho năm tiếp theo. Để các nghiên cứu và thành tựu của ngành Khảo cổ học đi được vào chiều sâu và có ý nghĩa hơn trong giai đoạn tới, Viện Khảo cổ học nói riêng, ngành khảo cổ học cả nước nói chung sẽ có những bước đi mang tính đột phá nhằm khẳng định giá trị to lớn của các di chỉ, di tích cũng như ý nghĩa của ngành khảo cổ học đối với tiến trình lịch sử, phát triển văn hóa - xã hội nước nhà. Những đột phá ấy sẽ được đẩy mạnh đặc biệt đối với khảo cổ dưới nước, mở rộng khu vực nghiên cứu ở Trường Sa và các dự án hợp tác nghiên cứu với các địa phương trong cả nước nhằm tìm kiếm thêm những di vật, di tích, tư liệu... có giá trị khẳng định lịch sử phát triển của dân tộc, hướng tới chào mừng Hội nghị thông báo Khảo cổ học lần thứ 50 sẽ được tổ chức tại Huế vào trung tuần tháng 9 năm 2015.

 

www.vass.gov.vn

 

Giáo sư, Tiến Sĩ Phạm Xuân Nam (1934-2019) (08/04/2019)

GS.TS. Phạm Xuân Nam sinh ngày 28 tháng 6 năm 1934 tại làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay là khu phố Phù Lưu, phường Đông Ngàn, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh)