Viện Sử học với công tác đào tạo
VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ
CỦA VIỆN SỬ HỌC TRONG 70 NĂM QUA (1953-2023)
Lê Quang Chắn*
Quá trình hình thành và phát triển của Viện Sử học trong 70 năm qua (1953-2023) có gắn bó mật thiết với công tác đào tạo cán bộ, bởi “cán bộ là gốc của mọi công việc”, “muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Công tác đào tạo cán bộ của Viện Sử học không những đáp ứng tốt nhu cầu nội tại về cán bộ của đơn vị mà còn mở rộng, góp phần đào tạo cán bộ chất lượng cao về sử học cho các cơ quan bên ngoài. Kết quả đào tạo cán bộ qua Những chặng đường lịch sử đã chứng minh điều đó.
- Giai đoạn 1953-1959
Ngay sau khi thành lập Ban Nghiên cứu Lịch sử, Địa lý, Văn học (ngày 02/12/1953), Tổ Lịch sử có đông cán bộ nhất, lại bao gồm các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Ban, đó là Trần Huy Liệu, Tôn Quang Phiệt, Minh Tranh, Trần Đức Thảo (4/5 thành viên của Ban). Đồng chí Trần Huy Liệu làm Trưởng ban cũng đồng thời là Tổ trưởng. Trong thời gian ở Tân Trào (từ tháng 12/1953 đến tháng 10/1954), Tổ Lịch sử chỉ có 2 cán bộ nghiên cứu (là Văn Tạo và Nguyễn Công Bình), 1 phiên dịch Hán Nôm (Phạm Trọng Điềm), 1 cán bộ thư viện - tư liệu và 2 nhân viên hành chính đánh máy, tổng cộng là 6 người[1].
Sau khi miền Bắc được giải phóng (năm 1954), nhằm đáp ứng yêu cầu của đất nước trong tình hình mới, các ngành khoa học nói chung, khoa học xã hội và nhân văn nói riêng được coi trọng, trong đó công tác bổi dưỡng, đào tạo cán bộ được đặt lên hàng đầu. Tuy bề bộn những công việc khi mới chuyển về Thủ đô Hà Nội (như ổn định nơi làm việc, sắp xếp lại tổ chức, bố trí lại nhân sự, sưu tầm, khai thác tư liệu ở những địa bàn xa xôi của đất nước…), nhưng cán bộ của Tổ Lịch sử nói riêng, Ban Văn Sử Địa nói chung đã tận dụng tối đa thời gian để tự trao dồi kiến thức chuyên môn của mình. Trong khoảng thời gian từ năm 1954 đến năm 1959, công tác cán bộ đã có bước tiến đáng kể, cả về số lượng và chất lượng, vì có sự tiếp nhận một số trí thức từ quân đội sang, từ Khu Học xá Trung ương chuyển về, từ miền Nam tập kết ra, khiến cho số lượng cán bộ của Phòng Lịch sử (khi đó Tổ Lịch sử đổi thành Phòng Lịch sử theo quy chế chung của Bộ Giáo dục) tăng lên, từ 10 cán bộ năm 1956 lên hơn 40 người năm 1959. Đặc biệt, năm 1958, Bộ Giáo dục đã tổ chức bình chọn đợt phong Giáo sư đầu tiên của nước ta, trong số đó, có 6 người thuộc Phòng Lịch sử, đó là Trần Văn Giàu, Trần Đức Thảo, Tôn Quang Phiệt; riêng Trần Huy Liệu và Nguyễn Khánh Toàn được công nhận mà không cần đưa ra bình chọn, vì đây là những nhà quản lý, nhà khoa học có trình độ chuyên môn, chính trị cao, được quần chúng và nhà nước thừa nhận; còn Đào Duy Anh là người được chuyển từ Đại học Tổng hợp sang.
Bên cạnh những tên tuổi trên, nhiều cán bộ uyên thâm, có trình độ chuyên môn cao đang công tác tại Phòng Lịch sử hay Ban Văn Sử Địa như Minh Tranh (tên thật là Khuất Duy Tiễn), Nguyễn Đổng Chi, Văn Tân (tên thật là Trần Đức Sắc), Nguyễn Lương Bích, Nguyễn Khắc Đạm, Dương Kinh Quốc, Hoa Bằng (tên thật là Hoàng Thúc Trâm), Trần Văn Giáp, Nguyễn Danh Phiệt… Những lớp cán bộ đầu tiên này đã trở thành nòng cốt để xây dựng và phát triển Viện Sử học, trong đó họ cũng là những người thúc đẩy công tác đào tạo cán bộ của đơn vị.
- Giai đoạn 1960-1975
Đây là giai đoạn lịch sử thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chính trị quan trọng, là tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Vì vậy, nhiệm vụ của các ngành khoa học nói chung, của khoa học xã hội nói riêng, trong đó có ngành sử học, là phải đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp cách mạng khi đó. Với ý nghĩa quan trọng đó, ngày 02/6/1960, Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng đã ký Quyết định số 039-TTg về việc thành lập Viện Sử học thuộc Ủy ban Khoa học Nhà nước. Bên cạnh nhiệm vụ chính là “căn cứ vào đường lối của Đảng và Chính phủ, nghiên cứu lịch sử theo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, phục vụ sự nghiệp xây dựng của nghĩa xã hội ở miền Bắc và sự nghiệp đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, góp phần vào cuộc đấu tranh cho hòa bình và chủ nghĩa xã hội trên thế giới”, công tác đào tạo cán bộ cũng là một nhiệm vụ trọng tâm. Ngay từ đầu năm 1959, khi kiểm điểm tình hình công tác sử học, Trưởng ban Văn Sử Địa Trần Huy Liệu đã nhấn mạnh: “Để phục vụ cho sự phát triển của cách mạng và công tác sử học, việc đào tạo thêm cán bộ là một yêu cầu cấp thiết. Chẳng những thế, cán bộ sử học còn phải luôn luôn đề cao chất lượng để theo kịp với nhu cầu của công tác. Vì vậy, việc bồi dưỡng cán bộ phải phối hợp với việc đào tạo cán bộ. Trên lĩnh vực sử học hiện nay, vấn đề cán bộ là vấn đề quyết định”[2]. Trong cả giai đoạn 1960-1965, công tác đào tạo cán bộ sử học cũng được xác định rõ ràng, cụ thể. Theo Giáo sư, Viện trưởng Trần Huy Liệu thì, “1. Mặc dầu cán bộ sử học hiện có (kể cả trong biên chế các cơ quan nghiên cứu hay làm công tác sử học theo lối nghiệp dư ở các ngành các giới) đều đi từ cách mạng vào sử học, nhưng vẫn cần được đào tạo chuyên môn theo tinh thần mới mà trước hết là lập trường quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin và phương pháp luận Mác-xít. 2. Với cán bộ đang nghiên cứu, phương châm là vừa học vừa làm - học tập lý luận kết hợp với khảo sát thực tiễn ngay trong nước, theo chương trình đang nghiên cứu, có kết hợp đi khảo sát ngắn hạn ở nước ngoài. 3. Mở rộng diện đào tạo ra tới cán bộ yêu thích sử học (ngoài cán bộ nghiên cứu ở các viện và giảng dạy ở các trường) đang làm công tác sử học ở các ngành, các giới, nhằm tạo nên một màng lưới cộng tác viên sử học rộng rãi, một đội “hậu bị” để có thể bổ sung vào các cơ quan nghiên cứu giảng dạy sử học. 4. Nhà nước cần có quy chế cán bộ sử học và phải tiến tới chế độ nghiên cứu sinh sử học”[3]. Đây có thể nói là một định hướng chiến lược, có tầm quan trọng và ảnh hưởng to lớn đến công tác đào tạo cán bộ sử học dựa trên tinh thần mới, tức theo phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa Mác-Lênin.
Kết quả là, công tác đào tạo cán bộ tại Viện Sử học được đẩy mạnh, thu được nhiều kết quả. Về đào tạo nghiên cứu sinh, trong những năm đầu mới thành lập (1962-1964), Viện Sử học đã cử một số cán bộ cốt cán dự lớp đào tạo nghiên cứu sinh ngành học xã hội đầu tiên do Ủy ban Khoa học Nhà nước tổ chức. Các nhà khoa học Liên Xô, như Viện sĩ Altmychbaev, Tiến sĩ Bukharov được mời sang giảng dạy về chuyên ngành lịch sử. Trước nhu cầu nghiên cứu, biên soạn lịch sử địa phương và chuyên ngành, Viện Sử học đã tổ chức hướng dẫn, bồi dưỡng lý luận và phương pháp biên soạn lịch sử cho các địa phương, các ngành. Vào trung tuần tháng 5/1964, Viện Sử học đã tổ chức lớp bồi dưỡng cho gần 80 cán bộ địa phương và chuyên ngành. Do tầm quan trọng của Hán Nôm trong nghiên cứu lịch sử, nhất là thời kỳ cổ trung đại, trong các năm 1965-1966, Viện Sử học và Viện Văn học kết hợp mở lớp Hán Nôm, với 40 học viên tham gia, và sau này họ đều trở thành những nhà nghiên cứu có trình độ Hán học cao. Bên cạnh đó, Viện Sử học cũng rất chú trọng việc bồi dưỡng và nâng cao trình độ ngoại ngữ như Anh, Nga, Pháp cho cán bộ, vì đây là yếu tố quyết định để khai thác tư liệu nước ngoài trong nghiên cứu. Trong các năm 1967-1968, Viện Sử học đã cử một số cán bộ theo học lớp tiếng Anh và tiếng Pháp do Ủy ban Khoa học xã hội tổ chức, đồng thời cử một số cán bộ cốt cán học chuyên tu tiếng Anh ở các trường Đại học…
Không chỉ tăng lên về số lượng cán bộ (tính đến năm 1965, Viện Sử học có khoảng 80 người), mà chất lượng cán bộ ngày càng tăng lên. Chính vì vậy, thực hiện chủ trương chung của Nhà nước và Ủy ban Khoa học xã hội, nhiều cán bộ của Viện Sử học được điều chuyển và tăng cường cho các đơn vị mới được thành lập, như Viện Khảo cổ lập năm 1968 (có Chử Văn Tần, Nguyễn Duy Hinh), Viện Dân tộc học lập năm 1968 (từ Tổ Dân tộc học), Viện Đông Nam Á lập năm 1973 (có Phạm Nguyên Long, Nguyễn Thị Thu Mỹ, Đặng Bích Hà, Phạm Đức Thành, Nguyễn Lệ Thi, Trần Xuân Thanh), Viện Thông tin Khoa học xã hội lập năm 1975 (với Hoàng Vĩ Nam, Nghiêm Văn Thái, Nguyễn Hoài, Lê Gia Xứng, Nguyễn Linh, Hoàng Hưng…), Viện Khoa học xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh lập năm 1975 (như Nguyễn Công Bình, Phan Gia Bền, Mạc Đường, Nguyễn Duy Tỳ, Huỳnh Lứa…). Họ không chỉ là những người đầu tiên có công khai lập, mà sau đó trở thành những người lãnh đạo, cán bộ chủ chốt của các đơn vị này.
Đánh giá về kết quả của công tác đào tạo cán bộ trong giai đoạn 1960-1975, Giáo sư Văn Tạo nhận xét: “Về đào tạo cán bộ, coi trọng bổi dưỡng lý luận Mác-Lênin, phương pháp luận sử học mác xít, coi trọng rèn luyện trong thực tế, kết hợp tự học với việc học tập theo trường lớp, mà tự học, tự bồi dưỡng là quan trọng. Không chỉ quan tâm đào tạo cán bộ trong Viện mà còn coi trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ sử học nghiệp dư ở các ngành, các địa phương với phương châm đưa sử học về với đại chúng, phát động một phong trào làm lịch sử địa phương và chuyên ngành và mở các Hội nghị chuyên đề bồi dưỡng cán bộ sử học cho các địa phương...”[4].
- Giai đoạn 1976-1990
Sau khi đất nước được thống nhất, yêu cầu của bối cảnh đất nước đặt ra cho ngành sử học, một mặt phải tiếp tục làm rõ những vấn đề của lịch sử dân tộc, mặt khác phải có những đóng góp thiết thực hơn cho công cuộc xây dựng đất nước sau chiến tranh. Chính vì lẽ đó, bắt đầu năm 1978, Viện Sử học được Thủ tướng Chính phủ công nhận là cơ sở đào tạo sau đại học ngành khoa học lịch sử. Đây là một dấu mốc rất quan trọng trong công tác đào tạo, bồi dưỡng có trình độ cao về chuyên ngành lịch sử cho đất nước, đồng thời cũng là một sự kiện đánh dấu bước trưởng thành to lớn của Viện Sử học. Mặc dù vậy, trong điều kiện đất nước vẫn chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội kéo dài từ cuối thập kỷ 70 đến đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX đã tác động không nhỏ đến công tác đào tạo cán bộ nói chung, đào tạo nghiên cứu sinh nói riêng. Chính vì thế, đến năm 1990, Viện Sử học đã mở được 2 khóa nghiên cứu sinh chính quy, một số nghiên cứu sinh hệ ngắn hạn và có 5 người bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sĩ, đó là Nguyễn Chương Thâu (năm 1981), Đàm Đức Vương và Phạm Xuân Nam (năm 1986), Nguyễn Danh Phiệt (năm 1989), Nguyễn Thị Thi (năm 1990), số nghiên cứu sinh còn lại hoặc ra nước ngoài bảo vệ luận án, hoặc do thuyên chuyển công tác sang một lĩnh vực khác nên không tiếp tục theo học. Trong khi đó, số nghiên cứu sinh được đào tạo và bảo vệ thành công ở nước ngoài cũng tăng lên, đã bổ sung thêm nhiều cán bộ có trình độ, cụ thể như bảo vệ ở Liên Xô (gồm có Cao Văn Biền bảo vệ năm 1981, Đinh Thị Thu Cúc bảo vệ năm 1983, Nguyễn Văn Nhật và Nguyễn Xuân Chúc cùng bảo vệ năm 1988, Võ Kim Cương bảo vệ năm 1990), Cộng hòa Dân chủ Đức (có Trần Thị Vinh bảo vệ năm 1986, Trần Đức Cường bảo vệ năm 1988). Ngoài ra, một số cán bộ của Viện Sử học bảo vệ thành công luận án ở một số cơ sở đào tạo ở trong nước, như Đỗ Văn Ninh bảo vệ năm 1982 tại Viện Khảo cổ học.
Cùng với đào tạo nâng cao học vị ở trong và ngoài nước, nhiều cán bộ của Viện Sử học được xét phong học hàm Phó Giáo sư (Văn Tạo, Nguyễn Hồng Phong và Bùi Đình Thanh được phong năm 1980; Phạm Xuân Nam, Cao Văn Lượng, Đỗ Văn Ninh, Lê Văn Lan và Ngô Văn Hòa cùng được phong năm 1984; Nguyễn Chương Thâu phong năm 1990), Giáo sư (Văn Tạo và Nguyễn Hồng Phong đều được phong cùng năm 1984).
Các hoạt động đào tạo khác, như về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu, sưu tầm và xử lý tư liệu, các lớp học tiếng Hán Nôm, tiếng Pháp, tiếng Anh… vẫn được duy trì, góp phần đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ trong Viện Sử học.
Có thể nói, mặc dù trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, hoạt động của Viện Sử học nói chung, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nói riêng, vẫn được duy trì và triển khai có hiệu quả, góp phần quan trọng vào việc củng cố và phát triển đội ngũ cán bộ có trình độ cao trong nghiên cứu khoa học cũng như trong công tác quản lý. Tổng số cán bộ của Viện Sử học trong giai đoạn 1976-1990, ở thời điểm cao nhất có khoảng 64 người (gồm 48 cán bộ nghiên cứu và 16 cán bộ ở các bộ phận chức năng và nghiệp vụ). Trong số 48 cán bộ nghiên cứu, có 2 Giáo sư, 4 Phó Giáo sư, 9 Phó Tiến sĩ, 33 nghiên cứu viên và trợ lý nghiên cứu[5].
- Giai đoạn 1991-2013
Cùng với quá trình đổi mới của đất nước, hoạt động của Viện Sử học nói chung, công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ nói riêng, đang đứng trước nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn, đòi hỏi công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ phải đáp ứng được yêu cầu hội nhập của đất nước trên tất cả các khía cạnh, như kỹ năng giao tiếp, ngoại ngữ, tin học, lý luận, phương pháp luận và nhất là chuyên môn sâu trong từng lĩnh vực.
Để đạt được kết quả trên, Viện Sử học tiếp tục tăng cường và mở rộng công tác đào tạo sau đại học. Số lượng nghiên cứu sinh theo học và bảo vệ thành công luận án tiến sĩ tại cơ sở đào tạo Viện Sử học tăng lên rất nhiều so với trước đó. Trong giai đoạn 1991-2013, đã có 61 nghiên cứu sinh bảo vệ thành công, trong đó có 18 người là cán bộ Viện Sử học (như Phạm Quang Trung, Trần Hữu Đính bảo vệ năm 1993, Nguyễn Minh Tường năm 1994; Trần Quỳnh Cư, Lưu Thị Tuyết Vân năm 1995; Đỗ Đức Hùng, Nguyễn Tố Uyên, Nguyễn Ngọc Mão và Đỗ Thị Nguyệt Quang năm 1996, Hà Mạnh Khoa năm 2000, Nguyễn Thị Phương Chi và Nguyễn Đức Nhuệ năm 2001, Trần Thị Tường Vân và Lê Trung Dũng năm 2003, Trương Thị Yến năm 2005, Nguyễn Hữu Tâm năm 2008, Vũ Thị Thu Giang năm 2011) và 43 người ở các cơ quan, đơn vị bên ngoài. Cũng trong khoảng thời gian này, một số cán bộ của Viện Sử học đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ ở các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước khác, như Dương Kinh Quốc năm 1991 ở Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội; Tạ Ngọc Liễn năm 1992, Vũ Duy Mền năm 1997, Đinh Quang Hải năm 1998 và Nguyễn Thị Hồng Vân năm 2004 ở Liên Xô (sau đó là Liên bang Nga); Tạ Thị Thúy năm 1993 ở Cộng hòa Pháp, Nguyễn Mạnh Dũng năm 2012 ở Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Số lượng cán bộ được xét và phong tặng học hàm Phó Giáo sư từ năm 1991 đến năm 2013 cũng tăng lên nhanh chóng, với 19 người, cụ thể như: Nguyễn Danh Phiệt và Vũ Huy Phúc cùng năm 1991, Cao Văn Biền và Dương Kinh Quốc cùng năm 1992, Đinh Thị Thu Cúc, Trần Đức Cường, Trần Thị Vinh và Nguyễn Văn Nhật cùng năm 1996; Tạ Ngọc Liễn, Võ Kim Cương và Nguyễn Minh Tường cùng năm 2002; Tạ Thị Thúy năm 2007; Vũ Duy Mền, Nguyễn Thị Phương Chi và Lê Trung Dũng cùng năm 2009; Nguyễn Ngọc Mão và Đinh Quang Hải cùng năm 2010; Nguyễn Đức Nhuệ năm 2011 và Hà Mạnh Khoa năm 2012. Đây là thời kỳ Viện Sử học có nhiều cán bộ được phong chức danh Phó Giáo sư và nhận học vị Tiến sĩ đông, nhiều nhất (nhưng rất tiếc từ những năm này, đơn vị không có một nhà khoa học nào được xét phong chức danh Giáo sư), giúp cho đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn, chính trị của đơn vị ngày càng chất lượng hơn. Tính đến năm 1998, Viện Sử học có 58 người, số cán bộ có học hàm, học vị là 31 người (chiếm 70% cán bộ nghiên cứu và 53% tổng số cán bộ của Viện); về chức danh khoa học, có 10 Nghiên cứu viên cao cấp, 14 nghiên cứu viên chính, 19 nghiên cứu viên, 2 biên tập viên chính và 7 người là chuyên viên, cán sự, kế toán và phục vụ[6].
Giai đoạn 1991-2013 cũng đã đánh dấu sự hợp tác mở rộng và gắn kết chặt chẽ trong công tác đào tạo cán bộ giữa Viện Sử học với các cơ sở đào tạo khác ở trong nước. Với cơ sở đào tạo Viện Sử học, đã có nhiều nhà khoa học có uy tín ở Hà Nội tham gia vào công tác đào tạo nghiên cứu sinh (chủ yếu tham gia các hội đồng nhận xét, đánh giá, phản biện…), như GS. Đinh Xuân Lâm, GS. Phan Đại Doãn, GS. Vũ Dương Ninh, PGS. Nguyễn Văn Hồng, PGS. Nguyễn Quốc Hùng, GS. Phan Ngọc Liên, GS. Đỗ Thanh Bình, GS. Nguyễn Ngọc Cơ, PGS. TS. Đào Tố Uyên, PGS. TS. Vũ Văn Quân… Ngược lại, nhiều cán bộ của Viện Sử học trực tiếp hay gián tiếp tham gia vào công tác giảng dạy, hướng dẫn, nhận xét, đánh giá, phản biện… cho các học viên, nghiên cứu sinh ở các cơ sở đào tạo khác như Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh); Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội; Viện Lịch sử Đảng (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh), Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Học viện Chính trị (Bộ Quốc phòng), Đại học Thái Nguyên, Đại học Vinh, Đại học Hồng Đức… Đặc biệt, từ năm 2010, khi thành lập Học viện Khoa học xã hội (là sự hợp nhất của 17 cơ sở đào tạo chuyên ngành), trong đó có Khoa Sử học, nòng cốt chủ yếu vẫn là cán bộ của Viện Sử học trực tiếp tham gia, từ cán bộ quản lý (Trưởng, Phó khoa và Thư ký đều là cán bộ Viện Sử học kiêm nhiệm, từ năm 2011 trở đi, có 01 cán bộ cơ hữu và cũng là người của đơn vị điều chuyển lên, đó là TS. Duy Thị Hải Hường) cho đến nội dung, chương trình giảng dạy cũng như các hội đồng thẩm định, đánh giá, bảo vệ các cấp…
Việc đào tạo, bồi dưỡng trình độ chính trị cho cán bộ cũng được quan tâm, khi số lượng người tham gia các lớp lý luận chính trị ngày càng tăng lên. Trong thời gian này, Viện Sử học đã có 13 cán bộ theo học các Lớp Cao cấp lý luận chính trị tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và 22 cán bộ học Lớp Trung cấp lý luận chính trị tại trường Lê Hồng Phong hoặc một số nơi khác[7]. Bên cạnh đó, hàng năm Viện Sử học thường xuyên cử cán bộ tham gia các lớp/khóa bồi dưỡng về kiến thức liên ngành và nghiệp vụ cụ thể về tổ chức cán bộ, văn thư lưu trữ, kế toán, thư viện…
- Giai đoạn 2013-2023:
Kế thừa và phát huy các kết quả đào tạo của giai đoạn trước, từ năm 2013 đến năm 2023, công tác đào tạo sau đại học của Viện Sử học phát triển rất mạnh mẽ. Trong tổng số 25 người bảo vệ thành công luận án tiến sĩ ở trong và ngoài nước, có đến 19 người bảo vệ tại cơ sở đào tạo Học viện Khoa học xã hội (như Nguyễn Thị Lệ Hà năm 2014; Lê Quang Chắn, Nguyễn Thúy Quỳnh, Lương Thị Hồng và Nguyễn Lan Dung năm 2015; Ngô Vũ Hải Hằng năm 2016, Lê Thùy Linh năm 2018; Ngô Hoàng Nam năm 2019; Bùi Thị Hà, Nguyễn Thị Hải và Trịnh Thị Hà năm 2020; Lê Thị Thu Hằng, Nguyễn Văn Bảo, Nguyễn Thị Dung Huyền, Nguyễn Thu Hạnh và Phạm Thị Vượng năm 2021; Bùi Văn Huỳnh và Phan Đăng Thuận năm 2023); 6 người bảo vệ tại các cơ sở đào tạo khác (Phạm Thị Hồng Hà bảo vệ năm 2017 và Đinh Thị Hải Đường bảo vệ năm 2022 tại Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội; Nguyễn Quốc Sinh bảo vệ năm 2019 ở Trung Quốc, Trương Thùy Dung bảo vệ năm 2020 ở Cộng hòa Liên bang Đức, Võ Thị Phương Thúy bảo vệ năm 2022 tại Đài Loan, Đỗ Danh Huấn bảo vệ năm 2022 tại Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội). Giai đoạn này, một số cán bộ bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ như Mai Thị Huyền bảo vệ năm 2019 tại Học viện Khoa học xã hội, Nguyễn Công Lý bảo vệ năm 2020 tại Trường Đại học Văn hóa… Hiện nay, số cán bộ đang học chương trình đào tạo nghiên cứu sinh là 5 người (đó là Trần Nam Trung, Trần Thị Thanh Huyền, Trương Thị Phương, Trương Thị Hải, Nguyễn Thị Thu Hương).
Một trong những thành tích nổi bật trong công tác đào tạo cán bộ của Viện Sử học, đó chính là kết quả tham gia trực tiếp và hướng dẫn thành công nhiều học viên, nghiên cứu sinh ở các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước. Các thế hệ cán bộ của Viện Sử học đã hướng dẫn thành công 101 học viên cao học, 142 nghiên cứu sinh. Những cán bộ đạt nhiều kết quả trong công tác hướng dẫn như: PGS. TS. Nguyễn Văn Nhật hướng dẫn 25 nghiên cứu sinh, PGS. TS. Đinh Quang Hải hướng dẫn 22 nghiên cứu sinh và 19 học viên cao học, PGS. TS. Trần Đức Cường hướng dẫn 21 nghiên cứu sinh, PGS. TS. Võ Kim Cương hướng dẫn 14 nghiên cứu sinh, PGS. TS. Nguyễn Đức Nhuệ hướng dẫn 10 nghiên cứu sinh và 14 học viên cao học, PGS. TS. Nguyễn Ngọc Mão hướng dẫn 10 nghiên cứu sinh và 8 học viên cao học, PGS. TS. Nguyễn Thị Phương Chi hướng dẫn 7 nghiên cứu sinh và 30 học viên cao học; PGS. TS. Tạ Thị Thúy hướng dãn 5 nghiên cứu sinh và 7 học viên cao học…
Từ năm 2013 đến năm 2023, nhiều cán bộ Viện Sử học tham gia vào các lớp đào tạo, bồi dưỡng về chính trị (trong đó có 4 người hoàn thành chương trình của Lớp Cao cấp lý luận chính trị, 23 người hoàn thành chương trình của Lớp Trung cấp lý luận chính trị); hơn 30 cán bộ hoàn thành các lớp/khóa về nghiệp vụ về tổ chức cán bộ, quản lý nhà nước, kế toán - tài chính, văn thư lưu trữ, đấu thầu, thư viện, báo chí, công nghệ thông tin số, một số cán bộ tham gia các khóa đào tạo về ngoại ngữ tại nước ngoài…, vừa góp phần chuẩn hóa các điều kiện, đồng thời nâng cao chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, phục vụ tốt hơn và có hiệu quả hơn cho công việc của mỗi cá nhân.
Về số lượng và chất lượng của đội ngũ cán bộ trong giai đoạn này có nhiều biến động. Số lượng cán bộ có học hàm (PGS. TS) ngày càng giảm mạnh, trong khi đó số người có học vị (TS, ThS) ngày càng tăng; số cán bộ có chức danh khoa học và trình độ lý luận chính trị càng ngày càng tăng lên, phù hợp với sự phát triển toàn diện của đội ngũ cán bộ, đáp ứng yêu cầu về điều kiện, tiêu chuẩn cán bộ ngày càng cao theo quy định. Cụ thể, năm 2013, Viện Sử học có tổng số 60 cán bộ, trong đó có 10 PGS. TS, 2 TS, 26 ThS, 17 CN và 5 trình độ khác; theo chức danh khoa học, có 4 Nghiên cứu viên cao cấp, 6 Nghiên cứu viên chính (và tương đương), 43 Nghiên cứu viên (và tương đương); theo trình độ lý luận chính trị, có 6 Cao cấp, 12 Trung cấp, còn lại là Sơ cấp. Tính đến đầu tháng 10/2023, tổng số cán bộ Viện Sử học là 49 người, trong đó có 2 PGS. TS, 27 TS, 12 ThS, 8 CN và trung cấp; theo chức danh khoa học, có 3 Nghiên cứu viên cao cấp, 16 Nghiên cứu viên chính và 30 nghiên cứu viên (và tương đương); theo trình độ lý luận chính trị, có 6 Cao cấp, 32 Trung cấp, còn lại là Sơ cấp. Đội ngũ cán bộ trên đã và đang trở thành nòng cốt để xây dựng Viện Sử học thành một tập thể đoàn kết, vững mạnh.
Tổng kết chặng đường 70 năm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Viện Sử học, có thể rút ra một số đặc điểm nổi bật sau đây:
Thứ nhất, về số lượng dù có sự biến động qua các thời kỳ khác nhau (khi mới thành lập chỉ có 6 cán bộ, lúc cao nhất lên đến hơn 60 người, còn hiện tại là 48 người), song về cơ bản số lượng cán bộ vẫn được đảm bảo, đáp ứng yêu cầu đặt ra theo đúng chức năng, nhiệm vụ của Viện Sử học.
Thứ hai, về chất lượng, đội ngũ cán bộ qua các thời kỳ đều được đào tạo bài bản, ở các cơ sở đào tạo có uy tín ở trong vào ngoài nước. Họ không chỉ được trang bị những kiến thức chung về khoa học xã hội và nhân văn, mà còn được đào tạo chuyên sâu về khoa học lịch sử. Bên cạnh đó, các hoạt động đào tạo bổ trợ khác (như phương pháp nghiên cứu liên ngành, ngoại ngữ, tin học, các lớp nghiệp vụ…) đã góp phần đào tạo cán bộ một cách đầy đủ, toàn diện, tạo nên nhiều nhà nghiên cứu lịch sử có uy tín cao trong giới sử học của Việt Nam.
Thứ ba, cơ sở đào tạo Viện Sử học trong giai đoạn 1978-2010 đã đào tạo gần 100 nghiên cứu sinh và trở thành một trong những trung tâm đào tạo lớn về khoa học lịch sử của nước nhà. Sau khi sáp nhập vào Học viện Khoa học xã hội, cán bộ của Viện Sử học vẫn tiếp tục chủ động, tích cực tham gia công tác đào tạo, giảng dạy tại Khoa Sử học (nay là Khoa Dân tộc học - Nhân học, Sử học và Khảo cổ học).
Thứ 4, việc phối hợp, hợp tác trong công tác đào tạo giữa Viện Sử học với các cơ sở đào tạo trong nước ngày càng được đẩy mạnh, mở rộng, đem lại hiệu quả thiết thực cho cả hai bên.
Thứ năm, trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, việc tự đào tạo của mỗi cán bộ là nhân tố rất quan trọng đem lại thành công, đồng thời tinh thần đoàn kết, hỗ trợ, giúp đỡ nhau trong công tác đào tạo cũng là truyền thống của Viện Sử học từ xưa đến nay./.
* TS, Phó Viện trưởng điều hành Viện Sử học
[1] Văn Tạo: “Từ Ban Văn Sử Địa đến Viện Sử học”, trong sách Viện Sử học - 60 năm xây dựng và phát triển, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2013, tr. 60-61.
[2] Trần Huy Liệu: “Mấy ý kiến về công tác sử học của chúng ta”, Tập san Văn Sử địa, số 3 (tháng 5-1959), tr. 13.
[3] Văn Tạo: Viện Sử học Việt Nam 1953-1998, Hà Nội, 1998, tr. 59-60.
[4] Văn Tạo: Viện Sử học Việt Nam 1953-1998, Hà Nội, 1998, tr. 149.
[5] Nguyễn Ngọc Mão: “Công tác đào tạo cán bộ của Viện Sử học: Những thành tựu”, trong sách Viện Sử học - 60 năm xây dựng và phát triển, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2013, tr. 114.
[6] Nguyễn Ngọc Mão: “Công tác đào tạo cán bộ của Viện Sử học: Những thành tựu”, trong sách Viện Sử học - 60 năm xây dựng và phát triển, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2013, tr. 116.
[7] Nguyễn Ngọc Mão: “Công tác đào tạo cán bộ của Viện Sử học: Những thành tựu”, trong sách Viện Sử học - 60 năm xây dựng và phát triển, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2013, tr. 119.