CÔNG TÁC THƯƠNG BINH, LIỆT SĨ TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1945 -1954) - MỘT SỐ BÀI HỌC VẬN DỤNG TRONG KỶ NGUYÊN MỚI CỦA DÂN TỘC
Sau 9 năm kháng chiến trường kỳ gian khổ, ngày 7-5-1954, nhân dân Việt Nam kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược bằng chiến dịch Điện Biên Phủ. Chiến thắng đó “được ghi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một Đống Đa trong thế kỷ XX, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi…” [1]. Có nhiều nhân tố góp phần làm nên chiến thắng vĩ đại ấy, trong đó việc thực hiện tốt chính sách đối với thương binh, liệt sĩ là một nhân tố đặc biệt quan trọng, để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu vận dụng trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc Việt Nam.
1. Công tác thương binh, liệt sĩ trong kháng chiến chống
Pháp (1945-1954)
Năm 1945, nắm bắt thời cơ cách mạng, dưới sự lãnh đạo của
Trung ương Đảng đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã tiến hành
thắng lợi cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, dẫn tới sự ra đời của nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa (2-9-1945). Tuy nhiên, niềm vui độc lập dân tộc Việt Nam được
hưởng chưa lâu, với bản xâm lược và chất hiếu chiến, núp dưới bóng quân đồng
minh, thực dân Pháp nhanh chóng trở lại xâm lược Việt Nam lần thứ hai vào ngày
23-9-1945.
Cuộc
chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp ngày càng lan rộng, do chênh lệch về lực
lượng và vũ khí trang bị, nhiều chiến sĩ của ta bị thương và hy sinh. Thấy được
tinh thần chiến đấu dũng cảm và sự hy sinh lớn lao đó, ngày 2-3-1946, trong
khóa họp đầu tiên Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Quốc hội đã gửi thư
tới các chiến sĩ ngoài mặt trận, bày tỏ: “Quốc hội Việt Nam họp tại Hà nội, Thủ
đô nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gửi lời chào quyết thắng và biết ơn các chiến
sĩ đang đem xương máu giữ gìn đất nước, chống bọn xâm lược. Quốc hội quyết lãnh
đạo toàn thể nhân dân cùng chiến đấu với các bạn đến thắng lợi hoàn toàn” [2]. Bức thư của Quốc hội không chỉ thể
hiện sự quan tâm đặc biệt của cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước đối với
các chiến sĩ đang chiến đấu vì nền tự do của dân tộc, mà trên hết còn thể hiện
truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Sau sự kiện này, Hội giúp binh sĩ bị nạn - sau đổi thành Hội giúp binh sĩ bị thương được thành
lập ở Thuận Hóa (Huế), rồi ở Hà Nội và nhiều địa phương khác trên cả nước. Ở Trung ương có Tổng hội, Chủ tịch Hồ
Chí Minh được bầu làm Chủ tịch danh dự.
Trên
cương vị là người lãnh đạo cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, dù bận
nhiều công việc trong lãnh đạo con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua chông gai
của thời cuộc, nhưng trong tư tưởng và tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người
luôn dành sự quan tâm đặc biệt đối với thương binh. Ngày 28-5-1946, Hội giúp thương binh bị thương tổ chức
cuộc nói chuyện tại Nhà hát Lớn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự và phát biểu, kêu
gọi đồng bào gia nhập Hội và hăng hái giúp đỡ các chiến sĩ bị thương.
Toàn
quốc kháng chiến bùng nổ (19-12-1946), theo lời kêu gọi cứu nước của Chủ tịch
Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước nhất tề đứng dậy kháng chiến với tinh thần quyết tử để Tổ quốc quyết sinh. Trong
những trận chiến đấu diễn ra ở khắp ba miền Bắc, Trung, Nam, ngoài chiến công
tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, số người bị thương và hy sinh trong chiến
đấu ngày càng nhiều. Trước tình đó, cùng với việc tiếp tục kêu gọi giúp đỡ
thương binh, gia đình tử sĩ, ngày 16-2-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc
lệnh số 20 đặt ra “Hưu bổng thương tật” và “Tiền tuất cho thân nhân tử sĩ”, nêu
rõ: “Những quân nhân thuộc các ngành Quân đội Quốc gia Việt Nam nếu trong lúc
tại ngũ, vì giao chiến với quân địch, vì thừa hành công vụ, vì tận tâm với một
việc ích chung, hoặc vì cứu một hay nhiều người mà bị thương tật, thì được
hưởng Hưu bổng thương tật. Về tiền tuất cho thân nhân tử sĩ, Sắc lệnh nhấn
mạnh: “Những quân nhân tại ngũ trong các ngành Quân đội Quốc gia Việt Nam, chết
trong những trường hợp sau này thì gọi là tử sĩ, vì giao chiến với quân địch,
vì thừa hành động một công vụ, vì tận tâm với một việc ích chung, vì cứu một
hay nhiều người, hoặc nguyên do vì đã bị trọng thương trong những trường hợp ấy
mà chết... Tiền tuất cho vợ, con, cha mẹ, sẽ do một Nghị định của ông Bộ trưởng
Bộ Quốc phòng ấn định sau khi đã thỏa hiệp với ông Bộ trưởng Bộ Tài chính” [3].
Đây là văn bản pháp quy đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đối với
thương binh, liệt sĩ. Điều quan trọng, sau Sắc
lệnh này, sự quan tâm đối với thương binh, liệt sĩ đã trở thành một chủ
trương lớn của Đảng, Nhà nước và được các cấp, các ngành, các địa phương thực
hiện một cách nghiêm túc và hiệu quả.
Ngày
26-2-1947, Bộ Quốc phòng ban hành Nghị định số 240/NĐ thành lập Phòng Thương
binh thuộc Chính trị Cục Quân đội Quốc gia Việt Nam để giúp kế hoạch và đôn đốc, kiểm soát Ban Thương binh các Khu. Đây là
cơ quan chỉ đạo công tác thương binh đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa. Phòng Thương binh do cụ Phạm Gia Thụy, một nhân sĩ yêu nước làm Trưởng
phòng; ông Lê Thành Ân (Nguyễn Thiện Hước), đại biểu Quốc hội khóa I làm Phó Trưởng
phòng; ông Văn Tiến Dũng, nguyên Chính trị Cục trưởng Quân đội Quốc gia Việt
Nam chỉ đạo hoạt động Phòng Thương binh thời kỳ này. Sự ra đời và đi vào hoạt
động của Phòng Thương binh đánh dấu bước phát triển mới trong chính sách của
Đảng và Nhà nước đối với thương binh, liệt sĩ. Bởi sau sự kiện quan trọng này, ngày
19-7-1947, Hội đồng Chính phủ quyết định
thành lập Bộ Thương binh - Cựu binh để chỉ đạo việc nghiên cứu chính sách và
thực hiện công tác thương binh, liệt sĩ trong cả nước. Bác sĩ Vũ Đình Tụng,
nguyên Giám đốc Y tế Bắc Bộ đảm nhiệm chức Bộ trưởng Bộ Thương binh - Cựu binh,
ông Ngô Tử Hạ làm Thứ trưởng Bộ Thương binh - Cựu binh.
Như
vậy, ngay khi trở lại xâm lược Việt Nam lần thứ hai, thực dân Pháp đã phải vất
vả chống đỡ những cuộc chiến đấu quyết liệt của quân và dân ta trên khắp mọi
miền đất nước. Trong những cuộc chiến đấu sinh tử đó, nhiều chiến sĩ đã hy sinh
và bị thương. Ghi nhận sự hy sinh lớn lao của các chiến sĩ, Đảng, Nhà nước bước
đầu đề ra nhiều chính sách đối với thương binh, liệt sĩ. Tuy nhiên, để cổ vũ
toàn quân, toàn dân cống hiến nhiều hơn nữa cho cuộc kháng chiến, đòi hỏi Đảng,
Nhà nước phải quan tâm sâu sắc đối với thương binh, liệt sĩ. Nhận thức được tầm
quan trọng của công tác này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định thành lập Ban
Vận động tổ chức Ngày Thương binh toàn
quốc.
Thực
hiện quyết định của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tháng 6-1947, tại xã Phú Minh, huyện
Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, một hội nghị quan trọng của các cơ quan Chính phủ và
các Hội, đoàn thể chính trị ở Trung ương đã quyết định chọn ngày 27 tháng 7
hàng năm làm Ngày Thương binh toàn quốc.
Theo đó, vào ngày 27-7-1947, một cuộc mít tinh lớn được tổ chức trọng thể tại
xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Khoảng 300 người đại diện Đảng bộ
Việt Minh, Hội Phụ nữ Cứu quốc, Đoàn Thanh niên, Nha Thông tin, Chính trị Cục
Quân đội Quốc gia Việt Nam, chính quyền huyện Đại Từ, bộ đội và nhân dân địa
phương đã tham dự. Tại buổi lễ long trọng này, Ban Tổ chức công bố bức thư của
Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Ban Thường trực của Ban Tổ chức Ngày Thương binh toàn quốc. Trong thư Người nhấn mạnh: “Đang khi Tổ quốc lâm nguy, giang sơn, sự
nghiệp, mồ mả, đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp, cha mẹ, anh em, vợ
con, thân thích, họ hàng ta bị đe dọa. Của cải, ruộng nương, nhà cửa, ao vườn,
làng mạc ta bị nguy ngập. Ai là người xung phong trước hết để chống cự quân
thù, để giữ gìn đất nước cho chúng ta. Đó là những chiến sĩ mà nay một số thành
ra thương binh. Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương
máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào,
mà các đồng chí chịu ốm yếu, què quặt. Vì vậy Tổ quốc, đồng bào phải biết ơn,
phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy” [4].
Theo
sự phát triển chung của cuộc kháng chiến chống Pháp, chính sách thương binh,
liệt sĩ từng bước được hiện thực hóa, góp phần ổn định cuộc sống đối với những
người có công. Ngay trong tháng 7-1947, An
Dưỡng đường số 1- còn gọi là Trại An
dưỡng Liên khu Việt Bắc, là một trong những trại an dưỡng đầu tiên được
thành lập trong cả nước. Trại đóng tại xã Lục Ba, huyện Đại Từ, tỉnh Thái
Nguyên, có nhiệm vụ tiếp nhận những thương binh, bệnh binh tàn phế, bệnh tật
nặng hết năng lực làm việc hay ốm đau không đủ sức làm việc cần phải nghỉ ngơi
dài hạn. Sau sự ra đời của Trại An dưỡng
Liên khu Việt Bắc, các trại an dưỡng khác lần lượt được xây dựng ở nhiều
nơi, đáp ứng tốt nhu cầu chăm sóc đối với thương binh, bệnh binh trong thời
chiến.
Đi
cùng với việc xây dựng các trại an dưỡng, chế độ hưu bổng đối với thương binh
cũng được Nhà nước nhanh chóng hoàn thiện. Từ Sắc lệnh số 20/SL ban hành năm
1947, ngày 12-10-1948, Chủ tịch nước ký Sắc lệnh số 242/SL quy định tiêu chuẩn xác nhận thương binh, truy tặng tử sĩ, thực hiện
chế độ lương hưu thương tật đối với thương binh, chế độ tiền tuất đối với gia
đình liệt sĩ. Nội dung Sắc lệnh nêu rõ: lương hưu thương tật căn cứ vào
bệnh nặng hay nhẹ; lương hưu thương tật được tính theo chức vụ của quân nhân và
được chia thành ba cấp: binh và sĩ, úy và tá, tướng; thương binh, dân quân, du
kích, thanh niên xung phong bị thương tật - trừ số ở trại thương binh, đều lĩnh
lương hưu thương tật như nhau; lương hưu thương tật được tính bằng tiền (trước
ngày 1-4-1951), rồi bằng gạo (từ ngày 1-4-1951 đến ngày 31-12-1954 và được trả
3 tháng/lần).
Đối
với bệnh binh, Nghị định số
45-YT/QP/TC/TB, ngày 14-7-1949 của Liên bộ Y tế - Quốc phòng - Tài chính -
Thương binh - Cựu binh và Nghị định số 15-BTB/NĐ, ngày 27-7-1949 của Bộ Thương
binh - Cựu binh xác định: các bệnh binh tức là quân nhân phải nghỉ dài hạn hoặc
giải ngũ vì bệnh tật mà không liên lạc được với gia đình hoặc không có kế sinh
nhai thì sẽ được Bộ Thương binh - Cựu binh săn sóc... Từ ngày 1-4-1951, thương
binh, bệnh binh ở các trại của ngành Thương
binh - Cựu binh được hưởng một khoản sinh hoạt phí là 30kg gạo. Trường hợp
thương bệnh binh ra trại đi nhận công tác, trở về quân đội hoặc về gia đình thì
được hưởng một khoản trợ cấp bằng từ 1 đến 3 tháng sinh hoạt phí.
Với thân nhân tử sĩ,
thi hành Sắc lệnh số 20/SL (ban hành ngày 16-2-1947), ngày 19-11-1948, Liên bộ
Thương binh - Cựu binh - Quốc phòng - Tài chính ban hành Nghị định số 49/NĐ quy định chế độ hưu bổng cho thân nhân tử sĩ,
tuy nhiên do tính chất phức tạp của cuộc chiến nên việc thực hiện chế độ này
chưa thường xuyên.
Bước
sang những năm 1950, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam
có bước phát triển nhảy vọt. Quân dân ta giành nhiều thắng lợi quan trọng trên
các mặt trận. Đặc biệt, chiến thắng Biên Giới - Thu Đông 1950 đã tạo nên một
chuyển biến mới về cục diện chiến trường, tạo thế và lực mới cho quân và dân ta
giành nhiều thắng lợi to lớn hơn. Có được bước phát triển mạnh mẽ đó, số người
bị thương và hy sinh trong chiến đấu ngày càng nhiều. Trong sự khó khăn chung
của cuộc chiến, ngay lập tức Nhà nước không thể
đảm bảo được hết những chế độ, chính sách cho thương binh, bệnh binh và gia
đình liệt sĩ. Do vậy, tháng 7-1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động Phong trào đón thương binh về làng. Trong
thư gửi Bộ trưởng Bộ Thương binh - Cựu binh, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh:
“Anh em thương binh đã hy sinh một phần xương máu để giữ gìn Tổ quốc, bảo vệ
đồng bào, đã tận trung với nước, tận hiếu với dân. Họ đã làm tròn nhiệm vụ, họ
không đòi hỏi gì cả. Song đối với những người con trung hiếu ấy, Chính phủ và
đồng bào phải báo đáp như thế nào cho xứng đáng?... Chính quyền, đồng bào và
các đoàn thể nhân dân trong mỗi xã tùy theo sự cố gắng và khả năng chung của
mỗi xã mà đón một số anh em thương binh” [5].
Đồng
thời với cuộc phát động này, nhằm phòng ngừa, ngăn chặn và sửa chữa những sai
lầm, khuyết điểm trong thực hiện chính sách đối với thương binh, gia đình liệt
sĩ và người có công với cách mạng những năm trước đó, ngày 22-12-1952, Ban Bí
thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị, yêu cầu: “Đối với những người xâm phạm quyền lợi của gia đình quân nhân, tử sĩ, như ức hiếp, bóc
lột quá nặng, quyến rũ vợ chiến sĩ tại ngũ,v.v… thì chính quyền và nhân dân
phải phê bình ngăn ngừa. Nếu cần và có đủ chứng cớ thì có thể đem ra pháp luật
trừng trị để tỏ sự săn sóc của Chính phủ và nhân dân đối với gia đình chiến sĩ”
[6]. Chỉ thị này đã tạo sự an tâm và cổ vũ mạnh mẽ tinh thần chiến đấu của các
chiến sĩ ngoài mặt trận cũng như sự ủng hộ kháng chiến của những gia đình có
công với nước.
Đến năm 1953, cuộc kháng chiến chống Pháp của
nhân dân Việt Nam bước sang năm thứ tám. Trải qua nhiều năm chiến đấu anh dũng
và gian khổ, thế và lực của cách mạng không ngừng phát triển. Nhằm lãnh đạo
phát triển cuộc kháng chiến một cách hài hòa, đồng thời để thực hiện tốt chính
sách hậu phương quân đội, ngày 24-4-1953, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Thông
tri Về việc vận động nhân dân đón thương
binh, bệnh binh về xã, nêu rõ: “Cuộc kháng chiến của ta ngày càng phát
triển. Số thương binh, bệnh binh ngày càng tăng, do đó cần đẩy mạnh hơn việc
vận động nhân dân đón thương binh, bệnh binh về xã” [7]. Đây là quyết sách mang tầm chiến lược của Đảng và Nhà nước trong
những thời đoạn quan trọng của lịch sử dân tộc. Thực hiện chủ trương lớn này,
việc đón thương binh về địa phương được xúc tiến mạnh mẽ trên khắp mọi miền đất
nước, trừ số ít thương binh vào làm việc ở các cơ quan Nhà nước hay về các trại
an dưỡng, còn hầu hết các thương binh (80%-85%) đã trở về địa phương. Nhờ các
chính sách về ưu tiên chia cấp ruộng đất, miễn giảm thuế nông nghiệp, miễn dân
công nghĩa vụ, cùng với tình yêu thương đùm bọc giúp đỡ của nhân dân, nhìn
chung cuộc sống của thương binh về địa phương được ổn định. Sự quan tâm kịp
thời của Đảng và Nhà nước không chỉ nhanh chóng ổn định đời sống của thương
binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ mà quan trọng hơn nó củng có niềm tin sâu sắc
của nhân dân với Đảng, với cuộc kháng chiến, đã lôi cuốn, thôi thúc mỗi người
dân Việt Nam tiếp tục chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng.
Có
thể nói, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954), cùng
với việc lãnh đạo toàn dân và toàn quân nỗ lực phấn đấu hết mình vì sự nghiệp
đấu tranh giải phóng dân tộc, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã đề ra nhiều chính
sách đúng đắn, kịp thời đối với thương binh, liệt sĩ. Khi chính sách được ban hành, các cấp, các ngành và các địa
phương đã thực hiện nhanh chóng, chính xác, vận dụng một cách sáng tạo phù hợp
với tình hình thực tiễn. Do lãnh đạo thực hiện tốt chính sách đối với thương
binh, liệt sĩ, Đảng và Nhà nước đã huy động được tới mức cao nhất sức người,
sức của cho cuộc kháng chiến trường kỳ, góp phần kết thúc thắng lợi cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
2.
Một số kinh nghiệm vận dụng trong kỷ nguyên mới của dân tộc
Từ
thực tiễn công tác thương binh, liệt sĩ trong cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp xâm lược có thể khẳng định, chính sách đối với người có công không chỉ là
sự tri ân về đạo lý mà còn là một bộ phận quan trọng trong đường lối xây dựng
khối đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà
nước và chế độ. Trong kỷ nguyên mới của dân tộc, khi đất nước bước vào giai
đoạn phát triển nhanh, bền vững, hội nhập sâu rộng và đặt ra yêu cầu cao hơn về
công bằng xã hội, an sinh xã hội, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, những bài học
từ công tác thương binh, liệt sĩ giai đoạn 1945-1954 vẫn còn nguyên giá trị vận
dụng sâu sắc:
Một
là, phải luôn đặt công tác thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng
trong tổng thể chiến lược xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và củng cố niềm tin của nhân
dân
Bài
học lớn nhất rút ra là chính sách đối với thương binh, liệt sĩ không thể chỉ
được nhìn nhận như một hoạt động trợ cấp, cứu trợ hay giải quyết hậu quả chiến
tranh mà phải được đặt ở vị trí của một chính sách chính trị - xã hội có ý
nghĩa chiến lược. Trong kháng chiến chống Pháp, giữa muôn vàn khó khăn của một
Nhà nước non trẻ, Đảng và Nhà nước vẫn sớm quan tâm xây dựng chính sách đối với
thương binh, liệt sĩ. Điều đó cho thấy, chăm lo người có công chính là chăm lo
nền tảng tinh thần của chế độ, là cách bồi đắp niềm tin, củng cố hậu phương,
khơi dậy ý chí hy sinh, cống hiến của toàn dân. Vận dụng trong kỷ nguyên mới,
công tác này cần được gắn chặt với nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam phát
triển toàn diện, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và thế trận
lòng dân vững chắc. Mỗi chính sách đối với người có công phải thể hiện rõ trách
nhiệm chính trị, tình cảm nhân văn và năng lực quản trị của Nhà nước. Khi người
có công và gia đình người có công được chăm lo chu đáo, công bằng, minh bạch,
nhân dân sẽ thấy rõ bản chất tốt đẹp của chế độ, từ đó củng cố niềm tin vào Đảng,
Nhà nước, tăng cường sự đồng thuận xã hội. Trong bối cảnh mới, khi các thế lực
thù địch thường xuyên lợi dụng những vấn đề xã hội để xuyên tạc, chia rẽ lòng
dân, việc thực hiện tốt chính sách người có công càng có ý nghĩa như một phương
thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ uy tín của Đảng và Nhà nước bằng
chính hiệu quả thực tiễn.
Hai
là, phải thể chế hóa kịp thời, đầy đủ và đồng bộ chính sách đối với người có
công, bảo đảm mọi sự hy sinh, cống hiến đều được ghi nhận xứng đáng
Một
kinh nghiệm nổi bật từ giai đoạn 1945-1954 là ngay trong điều kiện chiến tranh
ác liệt, Đảng và Nhà nước đã sớm ban hành các quy định pháp lý về hưu bổng
thương tật, tiền tuất cho thân nhân tử sĩ, tiêu chuẩn xác nhận thương binh, tử
sĩ, chế độ đối với bệnh binh và gia đình liệt sĩ. Điều này cho thấy lòng biết
ơn không chỉ dừng lại ở lời kêu gọi, phong trào hay tình cảm tự phát mà phải
được cụ thể hóa bằng chính sách, pháp luật, tổ chức bộ máy và nguồn lực thực
hiện. Chỉ khi được thể chế hóa, sự tri ân mới có cơ sở để thực hiện thống nhất,
lâu dài, công bằng và có hiệu quả.
Trong
kỷ nguyên mới, yêu cầu đặt ra là tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ
chế, chính sách đối với người có công theo hướng đồng bộ, hiện đại, dễ tiếp
cận, dễ thực hiện và phù hợp với sự phát triển của đất nước. Chính sách phải
bao quát đầy đủ các nhóm đối tượng, xử lý tốt những trường hợp còn tồn đọng sau
chiến tranh, bảo đảm không để người có công nào bị bỏ quên, không để gia đình
chính sách nào phải chịu thiệt thòi vì thủ tục chậm trễ, thiếu thống nhất. Cùng
với đó, cần đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý hồ sơ người có công, xây dựng
cơ sở dữ liệu liên thông từ Trung ương đến địa phương, giảm tối đa thủ tục hành
chính, tăng tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Thể chế càng rõ,
dữ liệu càng chính xác, quy trình càng minh bạch thì chính sách càng đi vào
cuộc sống, hạn chế tiêu cực, sai sót, đồng thời nâng cao niềm tin của nhân dân
đối với bộ máy công quyền.
Ba
là, phải kết hợp chặt chẽ giữa trách nhiệm của Nhà nước với sức mạnh của cộng
đồng, biến đạo lý “Đền ơn đáp nghĩa” thành phong trào xã hội thường xuyên và
bền vững
Công
tác thương binh, liệt sĩ trong kháng chiến chống Pháp thành công không chỉ nhờ
các sắc lệnh, nghị định hay cơ quan chuyên trách mà còn nhờ sự tham gia rộng
rãi của các đoàn thể, địa phương và nhân dân. Việc thành lập các hội giúp đỡ
binh sĩ bị thương, xây dựng trại an dưỡng, vận động nhân dân đón thương binh,
bệnh binh về làng cho thấy sức mạnh to lớn của sự kết hợp giữa chính sách Nhà nước và nghĩa tình nhân dân. Khi sự
tri ân trở thành trách nhiệm chung của toàn xã hội, công tác người có công
không còn là nhiệm vụ riêng của một ngành, một cấp mà trở thành biểu hiện sinh
động của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Vận
dụng trong kỷ nguyên mới, cần tiếp tục phát huy phương châm Nhà nước giữ vai
trò chủ đạo, đồng thời huy động hiệu quả nguồn lực xã hội để chăm lo người có
công. Các phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng, chăm
sóc gia đình liệt sĩ, hỗ trợ thương binh, bệnh binh, xây dựng nhà tình nghĩa,
quỹ tri ân người có công cần được tổ chức thiết thực hơn, tránh hình thức, mùa
vụ, phong trào ngắn hạn. Mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, trường
học cần có những chương trình cụ thể, lâu dài, gắn với địa chỉ, đối tượng, nhu
cầu cụ thể. Đặc biệt, cần chuyển mạnh từ hỗ trợ đơn thuần sang tạo sinh kế, đào
tạo nghề, chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ giáo dục, nhà ở, chuyển đổi việc làm cho
con em gia đình chính sách. Tri ân trong kỷ nguyên mới không chỉ là tặng quà
vào dịp lễ, tết mà phải là sự đồng hành bền bỉ để người có công và thân nhân
của họ có đời sống vật chất, tinh thần ngày càng tốt hơn.
Bốn
là, phải lấy cơ sở, địa phương và đời sống thực tế của người có công làm trung
tâm trong tổ chức thực hiện chính sách
Một
giá trị vận dụng sâu sắc từ kinh nghiệm giai đoạn 1945-1954 là các chính sách
đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ luôn được triển khai gắn với
địa phương, làng xã, cộng đồng dân cư. Phong trào đón thương binh về làng thể hiện tư duy rất thiết thực: chính sách
muốn hiệu quả phải đến được nơi người có công sinh sống, phải dựa vào chính
quyền cơ sở, đoàn thể và tình làng nghĩa xóm để chăm lo lâu dài. Nhờ đó, nhiều
thương binh, bệnh binh được ổn định đời sống, được nhân dân đùm bọc, được tạo
điều kiện hòa nhập với cộng đồng.
Trong
kỷ nguyên mới, bài học này càng có ý nghĩa quan trọng. Chính sách dù đúng đắn
đến đâu nhưng nếu triển khai chậm, xa dân, nặng thủ tục, thiếu kiểm tra thì khó
phát huy hiệu quả. Vì vậy, cần coi cấp cơ sở là khâu quyết định trong thực hiện
chính sách người có công. Cán bộ làm công tác chính sách phải sâu sát từng gia
đình, nắm chắc hoàn cảnh, nhu cầu, khó khăn cụ thể của từng đối tượng; không
chỉ quản lý bằng hồ sơ mà còn phải bằng trách nhiệm, tình cảm và sự thấu hiểu.
Cần tăng cường đối thoại với người có công, tiếp nhận phản ánh, giải quyết kịp
thời kiến nghị, khiếu nại, không để những vướng mắc nhỏ kéo dài thành bức xúc
xã hội. Đồng thời, phải xây dựng cơ chế giám sát của nhân dân, Mặt trận Tổ
quốc, các đoàn thể chính trị, xã hội và báo chí để bảo đảm chính sách được thực
hiện đúng đối tượng, đúng chế độ, đúng tinh thần tri ân. Lấy người có công làm
trung tâm cũng có nghĩa là mọi chính sách phải hướng đến nâng cao chất lượng
sống thực chất, từ nhà ở, y tế, việc làm, thu nhập đến đời sống văn hóa, tinh
thần và sự tôn vinh trong cộng đồng.
Năm
là, phải gắn công tác tri ân người có công với giáo dục truyền thống, bồi dưỡng
lý tưởng, trách nhiệm cống hiến cho thế hệ trẻ
Công
tác thương binh, liệt sĩ không chỉ nhằm chăm lo những người đã hy sinh, cống
hiến cho đất nước mà còn có ý nghĩa giáo dục sâu sắc đối với các thế hệ hôm nay
và mai sau. Trong kháng chiến chống Pháp, sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và
nhân dân đối với thương binh, liệt sĩ đã góp phần khơi dậy tinh thần yêu nước,
củng cố ý chí chiến đấu, làm cho mỗi người dân thấy rõ giá trị của độc lập, tự
do và trách nhiệm của mình đối với Tổ quốc. Đó là bài học cần tiếp tục được vận
dụng trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước bước vào kỷ nguyên mới với nhiều
thời cơ, thách thức đan xen, đặc biệt là nguy cơ phai nhạt lý tưởng, thực dụng,
thờ ơ với lịch sử trong một bộ phận giới trẻ. Vì vậy, tri ân người có công phải
được gắn với giáo dục lịch sử, giáo dục lòng yêu nước, đạo lý uống nước nhớ
nguồn và trách nhiệm công dân. Các hoạt động về nguồn, chăm sóc nghĩa trang
liệt sĩ, thăm hỏi gia đình chính sách, tìm hiểu lịch sử địa phương, số hóa tư
liệu liệt sĩ, kể chuyện nhân chứng lịch sử, xây dựng không gian tưởng niệm trên
nền tảng số cần được tổ chức sáng tạo, phù hợp với tâm lý thế hệ trẻ. Nhà
trường, gia đình, tổ chức Đoàn, Hội cần biến hoạt động tri ân thành môi trường
giáo dục nhân cách, giúp thanh niên hiểu rằng độc lập, hòa bình, phát triển hôm
nay được đánh đổi bằng máu xương của nhiều thế hệ. Từ nhận thức đó, thế hệ trẻ
phải biết chuyển lòng biết ơn thành hành động cụ thể: học tập tốt, lao động
sáng tạo, sống có trách nhiệm, sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc, đóng góp vào sự nghiệp
xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
3.
Kết luận
Công
tác thương binh, liệt sĩ trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954) là một minh
chứng sâu sắc cho bản chất nhân văn, tiến bộ của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa. Trong điều kiện đất nước vừa giành được độc lập, chính quyền cách mạng còn
non trẻ, thù trong giặc ngoài bủa vây, đời sống nhân dân muôn vàn khó khăn,
Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành sự quan tâm đặc biệt đối với
thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và những người có công với nước. Sự
quan tâm ấy không chỉ xuất phát từ truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” của dân tộc Việt Nam mà còn thể hiện
tầm nhìn chiến lược của Đảng trong xây dựng hậu phương kháng chiến, củng cố
khối đại đoàn kết toàn dân tộc và bồi đắp niềm tin của Nhân dân đối với chế độ
mới.
Từ
những sắc lệnh đầu tiên về hưu bổng thương tật, tiền tuất cho thân nhân tử sĩ,
việc thành lập cơ quan chuyên trách về thương binh, cựu binh, tổ chức Ngày
Thương binh toàn quốc, xây dựng các trại an dưỡng đến phong trào đón thương
binh, bệnh binh về làng, có thể thấy công tác thương binh, liệt sĩ đã từng bước
được thể chế hóa, tổ chức thực hiện và lan tỏa thành phong trào xã hội rộng
lớn. Đó là sự kết hợp chặt chẽ giữa trách nhiệm của Nhà nước với tình nghĩa của
nhân dân, giữa chính sách pháp luật với đạo lý truyền thống, giữa chăm lo đời
sống vật chất với động viên tinh thần. Chính nhờ vậy, trong hoàn cảnh chiến
tranh gian khổ, nhiều thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ được quan tâm,
giúp đỡ, từng bước ổn định cuộc sống, tiếp tục tin tưởng vào Đảng, Nhà nước và
sự nghiệp kháng chiến. Nhìn rộng hơn, công tác thương binh, liệt sĩ giai đoạn
1945-1954 không chỉ có ý nghĩa nhân đạo, xã hội mà còn là một bộ phận quan
trọng trong đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh
sinh. Chính sách đúng đắn, kịp thời đối với người có công đã góp phần xây dựng
hậu phương vững mạnh, cổ vũ tinh thần chiến đấu của bộ đội ngoài mặt trận, động
viên các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia kháng chiến, tạo nên sức mạnh tổng
hợp đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi vẻ vang, đỉnh cao là
Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954.
Những
kinh nghiệm lịch sử đó vẫn còn nguyên giá trị trong kỷ nguyên mới của dân tộc.
Khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cao hơn về công bằng
xã hội, an sinh xã hội, xây dựng con người Việt Nam và bảo vệ Tổ quốc từ sớm,
từ xa, công tác người có công càng phải được đặt đúng vị trí chiến lược. Chăm
lo người có công không chỉ là trách nhiệm chính trị, pháp lý, đạo lý của Đảng,
Nhà nước và toàn xã hội mà còn là cách củng cố niềm tin nhân dân, tăng cường
đồng thuận xã hội, giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ. Vì vậy, cần
tiếp tục hoàn thiện chính sách, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý, lấy cơ sở
và đời sống thực tế của người có công làm trung tâm, huy động sức mạnh cộng
đồng, để đạo lý “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn” trở thành hành động
thường xuyên, thiết thực, bền vững. Đó cũng là sự tiếp nối xứng đáng truyền
thống cách mạng, góp phần xây dựng Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã
hội trong kỷ nguyên mới của dân tộc.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[5]
Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 7,
Nxb CTQG, Hà Nội, tr.135.