-
Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một trong những thắng lợi có ý nghĩa bước ngoặt trong lịch sử dân tộc Việt Nam thế kỷ XX, đưa dân tộc Việt Nam từ một nước thuộc địa trở thành một quốc gia độc lập, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc. Thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa diễn ra trong bối cảnh phát xít Nhật thất bại và đầu hàng Đồng Minh, tạo nên một thời cơ đặc biệt thuận lợi cho cách mạng. Tuy nhiên, thời cơ khách quan không tự chuyển hóa thành thắng lợi. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đường lối giải phóng dân tộc được xác định và từng bước hoàn chỉnh; lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng được xây dựng, tổ chức và rèn luyện qua thực tiễn đấu tranh, tạo nên thế và lực cần thiết. Khi thời cơ xuất hiện, Đảng đã kịp thời nhận định tình hình, quyết đoán phát động Tổng khởi nghĩa và huy động sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc giành chính quyền trên phạm vi cả nước. Từ góc nhìn đó, thắng lợi của Cách mạng tháng Tám cần được
-
Cách đây hơn 80 năm, ngay sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Với sự ra đời của nước Việt Nam mới, nền ngoại giao hiện đại của Việt Nam chính thức được xác lập, góp phần quan trọng vào các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, bảo vệ lãnh thổ biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc, từng bước hội nhập sâu, rộng và ngày càng chủ động vào đời sống chính trị-kinh tế thế giới. Từ cách tiếp cận sử học, bài viết sẽ làm rõ một số thành tựu ngoại giao mà Việt Nam đạt được trong 80 năm qua qua 5 giai đoạn: 1945-1954, 1954-1975, 1975-1991, 1991-2001, 2001-2025.
-
Quân đội Việt Nam là “Đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân sản xuất”. Tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế là một trong ba chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây là quan điểm nhất quán và xuyên suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng. Nếu chức năng, nhiệm vụ chiến đấu và bảo vệ Tổ quốc của quân đội là “bất biến” thì nhiệm vụ lao động sản xuất, xây dựng kinh tế luôn linh hoạt phù hợp với thời cuộc. Sinh thời, với tư cách là Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, Đại tướng Võ Nguyên Giáp rất quan tâm đến nhiệm vụ lao động sản xuất, xây dựng kinh tế của quân đội. Theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp, xây dựng kinh tế là một nhiệm vụ chính trị rất quan trọng của quân đội. Quân đội tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế không chỉ góp phần xây dựng và phát triển kinh tế đất nước, mà còn làm cho quân đội vững mạnh hơn.
-
Trong các bài nói và viết của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã luôn nhấn mạnh: phát triển khoa học và kỹ thuật phải nhằm phục vụ sản xuất, đời sống và quốc phòng, phục vụ các mục tiêu kinh tế, xã hội trước mắt và lâu dài. Đại tướng cũng chỉ ra tầm quan trọng của việc kết hợp chặt chẽ khoa học, giáo dục và sản xuất, làm cho khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, góp phần thiết thực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Những bài nói và bài viết của Đại tướng Võ Nguyên Giáp sau đó được tập hợp, biên soạn trở thành những công trình nghiên cứu về khoa học kỹ thuật trong các lĩnh vực như nông nghiệp, quân sự, cơ khí, biển... Bài viết này giới thiệu và phân tích một số công trình nghiên cứu về khoa học kỹ thuật của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
-
Trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế hiện nay, việc tiếp tục nghiên cứu, vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác xã (HTX) có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây không chỉ là cơ sở lý luận cho việc hoàn thiện chính sách phát triển kinh tế tập thể mà còn góp phần xây dựng mô hình HTX hiện đại, hiệu quả và mang đậm bản chất nhân văn theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
-
Tháng 6-1969, tại Đại hội đại biểu quốc dân toàn miền Nam, Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam (CPCMLTCHMNVN) được thành lập, đồng chí Huỳnh Tấn Phát được bầu làm Chủ tịch. Trên cương vị Chủ tịch CPCMLTCHMNVN, ông đã ghi nhiều dấu ấn trong lịch sử phát triển cách mạng miền Nam nhất là việc đưa ra Chương trình hành động cũng như tích cực hoạt động ngoại giao nhằm phát huy vai trò của Chính phủ mới đối với cách mạng Việt Nam.
-
Hơn bẩy mươi năm qua, thấm nhuần sâu sắc đạo lý và truyền thống tốt đẹp của dân tộc, thực hiện lời dạy ân cần của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thương binh, bệnh binh, gia đình quân nhân và gia đình liệt sĩ là những người có công với Tổ quốc, với nhân dân. Cho nên bổn phận chúng ta là phải biết ơn, phải yêu thương và giúp đỡ họ”[1]. Đảng, Nhà nước, nhân dân và lực lượng vũ trang ta luôn luôn trân trọng, ghi nhớ công ơn và làm được nhiều việc tốt để tỏ lòng hiếu nghĩa bác ái, quý trọng đối với thương binh, gia đình liệt sĩ và những người có công với nước. Những việc làm đó không những có ý nghĩa về mặt đạo lý mà còn có tác động thiết thực tạo động lực to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
-
Ba trăm năm (1726-2026) sau ngày Lê Quý Đôn cất tiếng khóc chào đời, tên tuổi của ông vẫn tỏa sáng như biểu tượng của trí tuệ Việt Nam. Không chỉ là một nhà sử học, nhà văn hóa hay nhà bách khoa thư lớn của thế kỷ XVIII, Lê Quý Đôn còn là hiện thân của tinh thần hiếu học, tư duy sáng tạo, lòng yêu nước và ý thức phụng sự dân tộc. Kỷ niệm 300 năm ngày sinh của ông là dịp nhìn lại những giá trị trường tồn của một di sản học thuật đã góp phần làm rạng danh nền văn hiến Việt Nam.
-
Kỷ niệm 300 năm ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn (1726-2026)
-
Sau 9 năm kháng chiến trường kỳ gian khổ, ngày 7-5-1954, nhân dân Việt Nam kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược bằng chiến dịch Điện Biên Phủ. Chiến thắng đó “được ghi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một Đống Đa trong thế kỷ XX, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi…” [1]. Có nhiều nhân tố góp phần làm nên chiến thắng vĩ đại ấy, trong đó việc thực hiện tốt chính sách đối với thương binh, liệt sĩ là một nhân tố đặc biệt quan trọng, để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu vận dụng trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc Việt Nam.
|
|
-
Bộ sách gồm 10 tập, Viện Sử học dịch, Nxb KHXH xuất bản.
23/04/2013
-
Đại Nam nhất thống chí đời Tự Đức là bộ sách địa lý học Việt Nam đầy đủ nhất dưới thời phong kiến. Đại Nam nhất thống chí theo bộ Đại Thanh nhất thống chí của Trung Quốc mà chia ra các mục như: phương vi, phân dã, kiến trí, duyên cách, phủ huyện, hình thế, khí hậu, phong tục, thành trì, học hiệu, hộ khẩu, điền phú, sơn xuyên, quan tấn, dịch trạm, thị lập, tứ miếu, tự quán, phân việt, thổ sản, v.v... Ngoài ra, Đại Nam nhất thống chí còn có quyển chép riêng về Cao Miên (Campuchia), Xiêm La, Miến Điện, Nam Chưởng, Vạn Tượng.
22/04/2013
-
Trong tập sách này, các tác giả không chỉ trình bày các sự kiện về quân sự, chính trị mà còn nêu lên nhiều sự kiện khác thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại....
27/09/2012
-
"Việt Nam những sự kiện lịch sử (Từ khởi thủy đến 1858)" là cuốn sách ghi lại các sự kiện lịch sử nước nhà từ khởi thủy đến khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược vào giữa thế kỷ XIX.
27/09/2012
-
Đại Nam liệt truyện là một bộ sách có quy mô khá đồ sộ trong kho tàng thư tịch cổ viết bằng chữ Hán của Việt Nam, do cơ quan làm sử chính thức của nhà Nguyễn là Quốc sử quán biên soạn vào giữa thế kỷ XIX.
24/09/2012
-
Lịch triều hiến chương loại chí là bộ bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam. Có nghĩa là Phép tắc các triều đại chép theo thể phân loại do Phan Huy Chú soạn trong 10 năm (1809-1819).
23/09/2012
-
Là bộ sử có giá trị to lớn và quan trọng bậc nhất trong nền sử học Việt Nam thời kỳ cổ trung đại. Bộ chính sử do Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê biên soạn.
22/09/2012
-
Quốc sử quán triều Nguyễn
21/09/2012
-
Cuốn sách Cổ luật Việt Nam gốm 2 bộ Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ. Quốc triều hình luật (còn gọi là bộ luật Hồng Đức) và Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là bộ luật Gia Long) là hai bộ cổ luật duy nhất còn lại cho đến nay của các triều đại phong kiến Việt Nam; là những di sản quý giá có giá trị tham khảo về nhiều mặt cho chúng ta ngày nay.
19/09/2012
-
Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ là một bộ sách được biên soạn dưới triều Nguyễn theo thể loại Hội điển. Thể loại này được đặt ra nhằm ghi chép lại các điển pháp, quy chuẩn và các dữ kiện liên quan đến tổ chức và hoạt động của một triều đại, một Nhà nước.
19/09/2012
-
Đang online:
1
-
Hôm nay:
1
-
Trong tuần:
1
-
Tất cả:
1
|
|