-
Huỳnh Thúc Kháng (1876 - 1947) là một sĩ phu yêu nước tiêu biểu của Việt Nam đầu thế kỷ XX. Từ hoạt động trong phong trào Duy Tân, trải qua 13 năm tù đày ở Côn Đảo, hoạt động nghị trường và báo chí đến tham gia chính quyền cách mạng sau Cách mạng tháng Tám, ông luôn gắn hoạt động của mình với vấn đề độc lập dân tộc và đời sống nhân dân. Bài viết tập trung làm rõ quá trình hình thành tư tưởng yêu nước, hoạt động nghị trường, báo chí, thái độ trước sự lôi kéo của Nhật và vai trò của ông trong chính quyền cách mạng, qua đó nhận diện sự vận động của tư tưởng và phương thức hoạt động chính trị của Huỳnh Thúc Kháng trong những biến đổi của lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XX.
-
Việc xây dựng cơ sở bố phòng và sắp đặt lực lượng bố phòng biển đảo ở Đàng Trong thế kỷ XVII-XVIII đã được chính quyền chúa Nguyễn rất chú trọng, trở thành một nhiệm vụ trọng tâm trong công tác an ninh - quốc phòng ở Đàng Trong.
-
Hoạt động và cống hiến của đồng chí Trần Quý Kiên với cách mạng Việt Nam và quê hương Hà Nội là rất to lớn. Với những cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, đồng chí Trần Quý Kiên đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều Huân, Huy chương cao quý: Huân chương kháng chiến hạng Nhất (1961), Huân chương Lao động hạng Nhất (1965), Huân chương Hồ Chí Minh (truy tặng, 2003), Huân chương Sao vàng (truy tặng, 2018). Tên của đồng chí Trần Quý Kiên còn được dùng để đặt tên đường, phố ở Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Huế, Thành phố Đà Nẵng.
-
Phật giáo thời Lý đạt đến đỉnh cao không chỉ về tôn giáo mà còn về văn hóa và tư tưởng. Trong bối cảnh nhà Lý lấy Phật giáo làm quốc giáo, các thiền sư không chỉ là người tu hành mà còn đóng vai trò quan trọng trong thiết lập và củng cố quyền lực tinh thần của nhà nước Trung ương. Trong dòng chảy ấy, các thiền sư như Không Lộ, Minh Không và Giác Hải, là những nhân vật nổi bật không chỉ bởi kiến thức Phật học, mà còn vì hành trạng đặc biệt: chữa bệnh, cứu dân, diệt yêu trừ quái, phổ độ chúng sinh. Với tư cách là môn đệ của Thiền sư Không Lộ, Thiền sư Giác Hải tiếp nối dòng Thiền Vô Ngôn Thông, để lại dấu ấn riêng với hành trạng nhập thế, cứu độ và truyền bá Phật pháp. Bài viết thông qua khảo cứu thân thế, hành trạng và tư tưởng Phật học của Giác Hải chỉ ra vai trò của thiền sư trong quá trình bản địa hóa Phật giáo Đại Việt thời Lý.
-
-
Đóng góp của Nho sĩ xứ Đông đối với quá trình phục hưng Phật giáo không chỉ mang ý nghĩa hỗ trợ về vật chất hay tổ chức, mà quan trọng hơn là ở phương diện tư tưởng và văn hóa. Họ đã góp phần định hình diện mạo của một Phật giáo thời trung đại hậu kỳ mang tính nhập thế, gắn bó với đời sống xã hội và thấm đượm tinh thần dung hợp, qua đó phản ánh đặc trưng linh hoạt, thích ứng của văn hóa Việt Nam trong tiến trình lịch sử.
-
Dòng họ Nguyễn Trọng ở Trung Cần - Nghệ An đã đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ biên cương phía Bắc ở thế kỷ XVIII. Ba người con ưu tú, ba thế hệ tiếp nối nhau, không những hoàn thành trọng trách, giữ vững chủ quyền quốc gia, mà còn phát huy truyền thống tốt đẹp của dòng họ.
-
Giai đoạn 1975-1985, chính sách việc làm và giáo dục đối với thương binh, gia đình liệt sĩ được Đảng và Nhà nước xác định là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách đối với người có công với cách mạng. Thông qua các biện pháp sắp xếp, bố trí việc làm, tổ chức đào tạo nghề và thực hiện các chế độ ưu đãi trong giáo dục, Nhà nước từng bước tạo điều kiện để thương binh, gia đình liệt sĩ ổn định đời sống, phát huy khả năng lao động và tiếp tục đóng góp cho công cuộc xây dựng đất nước. Những chính sách này không chỉ thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đối với người có công mà còn góp phần hiện thực hóa truyền thống đạo lý “uống nước, nhớ nguồn”, “đền ơn, đáp nghĩa” của dân tộc Việt Nam, đồng thời tạo nền tảng cho việc hoàn thiện chính sách ưu đãi người có công trong những giai đoạn tiếp theo.
-
Lịch sử dân tộc đã ghi nhận nhiều thần đồng với tài năng xuất chúng và những đóng góp to lớn trên các lĩnh vực chính trị, văn hóa, giáo dục, khoa học và ngoại giao. Từ Lê Văn Hưu, Nguyễn Hiền, Nguyễn Trung Ngạn, Lương Thế Vinh đến Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn hay Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm,… mỗi người đều là một minh chứng sinh động cho truyền thống hiếu học, trọng tri thức và trọng dụng hiền tài của dân tộc Việt Nam.
-
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công là bước ngoặt trọng đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Dấu mốc lịch sử này còn có ý nghĩa to lớn đối với nền giáo dục quốc dân, đặt cơ sở, tạo dựng nền tảng cho sự phát triển giáo dục trong kỷ nguyên mới của đất nước, đồng thời để lại những di sản cần kế thừa, phát huy nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước trong thời kì đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
|
|
-
Bộ sách gồm 10 tập, Viện Sử học dịch, Nxb KHXH xuất bản.
23/04/2013
-
Đại Nam nhất thống chí đời Tự Đức là bộ sách địa lý học Việt Nam đầy đủ nhất dưới thời phong kiến. Đại Nam nhất thống chí theo bộ Đại Thanh nhất thống chí của Trung Quốc mà chia ra các mục như: phương vi, phân dã, kiến trí, duyên cách, phủ huyện, hình thế, khí hậu, phong tục, thành trì, học hiệu, hộ khẩu, điền phú, sơn xuyên, quan tấn, dịch trạm, thị lập, tứ miếu, tự quán, phân việt, thổ sản, v.v... Ngoài ra, Đại Nam nhất thống chí còn có quyển chép riêng về Cao Miên (Campuchia), Xiêm La, Miến Điện, Nam Chưởng, Vạn Tượng.
22/04/2013
-
Trong tập sách này, các tác giả không chỉ trình bày các sự kiện về quân sự, chính trị mà còn nêu lên nhiều sự kiện khác thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại....
27/09/2012
-
"Việt Nam những sự kiện lịch sử (Từ khởi thủy đến 1858)" là cuốn sách ghi lại các sự kiện lịch sử nước nhà từ khởi thủy đến khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược vào giữa thế kỷ XIX.
27/09/2012
-
Đại Nam liệt truyện là một bộ sách có quy mô khá đồ sộ trong kho tàng thư tịch cổ viết bằng chữ Hán của Việt Nam, do cơ quan làm sử chính thức của nhà Nguyễn là Quốc sử quán biên soạn vào giữa thế kỷ XIX.
24/09/2012
-
Lịch triều hiến chương loại chí là bộ bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam. Có nghĩa là Phép tắc các triều đại chép theo thể phân loại do Phan Huy Chú soạn trong 10 năm (1809-1819).
23/09/2012
-
Là bộ sử có giá trị to lớn và quan trọng bậc nhất trong nền sử học Việt Nam thời kỳ cổ trung đại. Bộ chính sử do Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê biên soạn.
22/09/2012
-
Quốc sử quán triều Nguyễn
21/09/2012
-
Cuốn sách Cổ luật Việt Nam gốm 2 bộ Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ. Quốc triều hình luật (còn gọi là bộ luật Hồng Đức) và Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là bộ luật Gia Long) là hai bộ cổ luật duy nhất còn lại cho đến nay của các triều đại phong kiến Việt Nam; là những di sản quý giá có giá trị tham khảo về nhiều mặt cho chúng ta ngày nay.
19/09/2012
-
Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ là một bộ sách được biên soạn dưới triều Nguyễn theo thể loại Hội điển. Thể loại này được đặt ra nhằm ghi chép lại các điển pháp, quy chuẩn và các dữ kiện liên quan đến tổ chức và hoạt động của một triều đại, một Nhà nước.
19/09/2012
-
Đang online:
1
-
Hôm nay:
1
-
Trong tuần:
1
-
Tất cả:
1
|
|