image banner

TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM - PHÁT TRIỂN VÌ CON NGƯỜI
 

    1. Phát triển vì con người - giá trị cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng

    Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định mục tiêu cao nhất của sự nghiệp cách mạng là giành độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội nhằm đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, đặc biệt từ khi thực hiện công cuộc Đổi mới năm 1986 đến nay, Đảng luôn nhất quán quan điểm phát triển kinh tế phải gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Quan điểm đó không chỉ thể hiện tính nhất quán trong đường lối phát triển của Đảng mà còn phản ánh bản chất "vì nhân dân" của một Đảng cầm quyền lấy lợi ích của nhân dân làm mục tiêu và động lực của sự phát triển.

    Cơ sở tư tưởng của quan điểm trên được hình thành từ tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mục đích cao nhất của Đảng cầm quyền là phục vụ nhân dân, chăm lo đời sống nhân dân. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Ở đời và làm người phải thương nước, thương dân, thương nhân loại bị áp bức đau khổ[1]. Người chỉ dẫn: “Chính sách của Ðảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Ðảng và Chính phủ có lỗi[2]. Tư tưởng về chăm lo đời sống nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên giá trị, soi đường cho cách mạng Việt Nam vững bước trên con đường đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đây không chỉ là một yêu cầu về đạo đức cách mạng mà còn là tiêu chí để đánh giá hiệu quả lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước. Quan điểm ấy tiếp tục được Đảng kế thừa và phát triển trong toàn bộ tiến trình đổi mới.

    Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986) mở đầu công cuộc Đổi mới đã xác định phải kết hợp phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, từng bước thực hiện công bằng xã hội ngay trong từng chính sách phát triển[3]. Trên nền tảng đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định: "Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân"[4]. Quan điểm này được phát triển toàn diện hơn trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khi nhấn mạnh yêu cầu phát triển đất nước dựa trên nguyên tắc "lấy con người làm trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất và mục tiêu của sự phát triển", đồng thời xây dựng hệ thống chính sách xã hội toàn diện, bền vững để mọi người dân đều được thụ hưởng thành quả của quá trình phát triển[5].

    Việc bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo người nghèo và các đối tượng yếu thế vì vậy không phải là những chính sách mang tính tình thế, mà là sự thể chế hóa trực tiếp tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối nhất quán của Đảng về phát triển vì con người. Trong hệ thống chính sách đó, tín dụng chính sách xã hội giữ vai trò đặc biệt quan trọng khi tạo điều kiện để người nghèo và các đối tượng chính sách tiếp cận nguồn lực phát triển, góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, bảo đảm công bằng xã hội và phát triển bao trùm.

    Trong bối cảnh hiện nay, khi công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng được xác định là nhiệm vụ thường xuyên của toàn hệ thống chính trị, việc nghiên cứu và làm rõ những thành tựu thực tiễn của các chính sách lớn có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Những kết quả đạt được trong quá trình thực hiện tín dụng chính sách xã hội không chỉ phản ánh hiệu quả của một chính sách công mà còn là minh chứng sinh động cho việc các quan điểm, chủ trương của Đảng đã được thể chế hóa và hiện thực hóa trong đời sống xã hội. Chính thực tiễn đó góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với đường lối đổi mới, đồng thời cung cấp những luận cứ khách quan, có sức thuyết phục trong việc đấu tranh phản bác các quan điểm phủ nhận bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

    2. Tín dụng chính sách xã hội - sự thể chế hóa quan điểm phát triển vì con người của Đảng Cộng sản Việt Nam

    Để hiện thực hóa mục tiêu phát triển gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam không chỉ dừng lại ở việc xác lập những quan điểm mang tính định hướng trong các văn kiện, mà còn từng bước xây dựng hệ thống chính sách và thiết chế nhằm đưa các chủ trương đó vào cuộc sống. Trong hệ thống chính sách an sinh xã hội, tín dụng chính sách xã hội là một trong những công cụ đặc thù, thể hiện rõ vai trò của Nhà nước trong việc hỗ trợ các nhóm yếu thế tiếp cận nguồn lực phát triển, tạo sinh kế bền vững và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, các nhóm dân cư.

    Ngay từ giữa những năm 1990, trong bối cảnh công cuộc đổi mới đạt được nhiều thành tựu quan trọng nhưng tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn cao, đặc biệt tại vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, Chính phủ đã thành lập Ngân hàng phục vụ người nghèo theo Quyết định số 525/TTg ngày 31/8/1995 của Thủ tướng Chính phủ. Đây là lần đầu tiên Việt Nam hình thành một thiết chế tín dụng chuyên biệt, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà nhằm thực hiện mục tiêu giảm nghèo và hỗ trợ các đối tượng chính sách[6].

    Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, ngày 4/10/2002, Chính phủ ban hành Nghị định số 78/2002/NĐ-CP về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác; cùng ngày, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng phục vụ người nghèo[7]. Việc thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội đánh dấu bước phát triển quan trọng trong quá trình thể chế hóa chủ trương của Đảng về bảo đảm an sinh xã hội, tạo lập một thiết chế tài chính công chuyên trách thực hiện tín dụng chính sách trên phạm vi toàn quốc.

Anh-tin-bai
Tín dụng chính sách xã hội đã trở thành một "điểm sáng", là một "trụ cột" trong hệ thống chính sách giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân, đặc biệt là người nghèo và đối tượng yếu thế trong xã hội. Nguồn: https://baochinhphu.vn/nang-cao-hieu-qua-cua-tin-dung-chinh-sach-xa-hoi-trong-giai-doan-moi-102241112090107448.htm, truy cập 15-9-2026.

    Điểm đặc sắc của mô hình tín dụng chính sách xã hội ở Việt Nam không chỉ nằm ở việc cung cấp nguồn vốn ưu đãi, mà còn ở phương thức tổ chức thực hiện mang đậm tính xã hội và phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Khác với hoạt động tín dụng thương mại, tín dụng chính sách được triển khai thông qua sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội và cộng đồng dân cư. Thông qua cơ chế ủy thác một số nội dung công việc cho Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam và Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, cùng với mạng lưới Tổ tiết kiệm và vay vốn tại cơ sở, nguồn vốn tín dụng ưu đãi được chuyển tải trực tiếp đến đúng đối tượng thụ hưởng, đồng thời phát huy vai trò giám sát của cộng đồng và nâng cao trách nhiệm của người vay[8].

    Bên cạnh đó, việc xây dựng hệ thống Điểm giao dịch xã trên phạm vi cả nước đã tạo nên một phương thức phục vụ gần dân, sát dân, giảm đáng kể chi phí tiếp cận dịch vụ tài chính đối với người dân ở vùng nông thôn, miền núi và vùng đặc biệt khó khăn. Mô hình này không chỉ giúp người dân được vay vốn ngay tại địa phương mà còn góp phần thực hiện công khai, minh bạch các chính sách tín dụng, tăng cường sự giám sát của chính quyền và cộng đồng dân cư. Đây là nét đặc trưng của tín dụng chính sách xã hội ở Việt Nam mà khó có thể tìm thấy ở các mô hình tín dụng thương mại truyền thống[9].

    Từ góc độ chính sách công, tín dụng chính sách xã hội không đơn thuần là hoạt động cấp tín dụng ưu đãi, mà là công cụ để Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết và phân bổ lại nguồn lực phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Thông qua các chương trình tín dụng dành cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, giải quyết việc làm, nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi…, chính sách tín dụng đã góp phần mở rộng cơ hội tiếp cận các nguồn lực phát triển đối với những nhóm dân cư có nguy cơ bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển kinh tế. Điều này phản ánh rõ quan điểm nhất quán của Đảng về kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, đồng thời thể hiện vai trò kiến tạo và điều tiết của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

    Ý nghĩa của tín dụng chính sách xã hội tiếp tục được khẳng định trong Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 22/11/2014 của Ban Bí thư, trong đó nhấn mạnh rằng: "Tín dụng chính sách xã hội do Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện là một giải pháp sáng tạo, có tính nhân văn sâu sắc và phù hợp với thực tiễn Việt Nam; góp phần quan trọng thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách, mục tiêu, nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước đã đề ra trong quá trình thực hiện mục tiêu giảm nghèo, tạo việc làm, phát triển nguồn nhân lực, bảo đảm an sinh xã hội, ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa"[10]. Nhận định này không chỉ tổng kết hơn một thập kỷ hoạt động của hệ thống tín dụng chính sách mà còn khẳng định vị trí của tín dụng chính sách xã hội như một bộ phận quan trọng trong quá trình hiện thực hóa đường lối phát triển "vì nhân dân" của Đảng. Tư tưởng của Hồ Chí Minh và nỗ lực của Đảng và Chính phủ trong việc mang đến tín dụng cho người nghèo đã thể hiện chiều sâu tư tưởng nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa.

    3. Hiệu quả của tín dụng chính sách xã hội trong thúc đẩy phát triển bao trùm và giảm nghèo bền vững

    Ở Việt Nam vẫn có đến 70% nông dân sống ở vùng nông thôn thu nhập thấp, không ổn định, tỷ lệ đói nghèo cao nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi và Tây Nguyên. Trong khi đó các đối tượng là người nghèo, vùng nghèo không thể đủ các điều kiện nhận vốn vay từ Ngân hàng thương mại thì việc ra đời của Ngân hàng Chính sách xã hội - một ngân hàng chuyên biệt của Nhà nước để thực hiện tín dụng chính sách cho những đối tượng, những khu vực phi thương mại, có chính sách tạo lập nguồn vốn, chính sách đầu tư có ưu đãi nhưng chủ yếu ưu đãi về các điều kiện vay vốn đã phát huy tác dụng và vai trò tích cực trong công cuộc xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam.

    Hơn hai mươi năm qua, tín dụng chính sách xã hội đã trở thành một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước nhằm thực hiện các mục tiêu giảm nghèo bền vững, bảo đảm an sinh xã hội và mở rộng cơ hội phát triển cho các nhóm dân cư yếu thế. Năm 2010, Ngân hàng Chính sách xã hội đã cho vay tới 18 chương trình tín dụng dựa trên nền tảng của 3 chương trình tín dụng ban đầu. Năm 2020 số lượng chương trình cho vay lên tới 20 chương trình. Như vậy có thể thấy, tín dụng chính sách của Ngân hàng Chính sách xã hội đã phủ kín nhu cầu giải quyết các vấn đề xã hội, góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho bộ phận dân cư có mức sống thấp hơn, điều kiện sinh hoạt khó khăn hơn so với mặt bằng chung của nền kinh tế, từ đó góp phần thực hiện mục tiêu của Chính phủ vì sự phát triển cân đối của nền kinh tế. Từ ba chương trình tín dụng khi mới thành lập, hệ thống tín dụng chính sách hiện đã phát triển thành nhiều chương trình hướng tới hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, người lao động cần tạo việc làm, đồng bào dân tộc thiểu số, người dân vùng đặc biệt khó khăn và nhiều đối tượng chính sách khác. Sự mở rộng này phản ánh quá trình hoàn thiện chính sách xã hội của Nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong từng giai đoạn, đồng thời cụ thể hóa chủ trương phát triển bao trùm của Đảng[11].

    Vì mục tiêu “không ai bị bỏ lại phía sau”, Ngân hàng Chính sách xã hội đã nâng mức cho vay tối đa, từ ngày 01/01/2011 ngày đến 30/4/2014: mức cho vay tối đa 30 triệu đồng/hộ. Từ ngày 01/3/2019 đến nay: Nâng mức cho vay tối đa đối với chương trình cho vay hộ nghèo từ 50 triệu đồng/ hộ lên 100 triệu đồng/ hộ không phải bảo đảm tiền vay[12]. Lãi suất cho vay 6,6%/năm (0,55%/tháng); Lãi suất nợ quá hạn bằng: 130% lãi suất khi cho vay[13]. Qua hơn 5 năm triển khai thực hiện Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 22/11/2014 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI, đã có hơn 12 triệu lượt hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác được vay vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội; góp phần giúp hơn 2,1 triệu hộ vượt qua ngưỡng nghèo; thu hút, tạo việc làm cho hơn 1,3 triệu lao động; giúp hơn 24.000 lao động thuộc gia đình chính sách được vay vốn đi lao động có thời hạn ở nước ngoài; gần 346.000 học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn học tập; xây dựng hơn 7,3 triệu công trình nước sạch và vệ sinh môi trường ở nông thôn, gần 142.000 căn nhà cho hộ nghèo, hộ gia đình chính sách[14]. Tỷ lệ hộ nghèo giảm; tỷ lệ quá hạn thấp, chỉ 0,05%. Công tác tín dụng chính sách xã hội đã đã huy động được hàng trăm nghìn tỉ đồng, đáp ứng nhu cầu vay vốn của đông đảo người nghèo và các đối tượng chính sách ở 100% xã, phường, thị trấn của cả nước, góp phần tạo việc làm, giảm nghèo bền vững, hỗ trợ các đối tượng chính sách xã hội, những người có hoàn cảnh khó khăn và xây dựng nông thôn mới.

    Theo số liệu của Ngân hàng Chính sách xã hội, đến cuối năm 2019, tổng dư nợ tín dụng chính sách đạt trên 206 nghìn tỷ đồng với hơn 6,5 triệu khách hàng còn dư nợ; riêng giai đoạn 2016–2019 đã có gần 8 triệu lượt hộ nghèo và các đối tượng chính sách được vay vốn, góp phần giúp trên 1,4 triệu hộ vượt qua ngưỡng nghèo, tạo việc làm cho khoảng 775 nghìn lao động, hỗ trợ gần 200 nghìn học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn tiếp tục học tập và xây dựng hàng triệu công trình nước sạch, vệ sinh môi trường nông thôn[15]. Những kết quả này cho thấy tín dụng chính sách không chỉ tạo điều kiện tiếp cận vốn mà còn góp phần cải thiện sinh kế, nâng cao chất lượng cuộc sống và mở rộng khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân.

    Đặt trong bối cảnh phát triển chung của Việt Nam, những kết quả trên phù hợp với đánh giá của World Bank về thành tựu giảm nghèo trong thời kỳ đổi mới. Báo cáo đánh giá thực trạng nghèo và bình đẳng của Việt Nam năm 2022: Từ chặng đường cuối đến chặng đường kế tiếp cho thấy tỷ lệ nghèo theo chuẩn của nhóm nước thu nhập trung bình thấp (LMIC) đã giảm từ 16,8% năm 2010 xuống còn khoảng 5% năm 2020, tương ứng với hơn 10 triệu người thoát nghèo. Tuy nhiên, World Bank cũng nhấn mạnh rằng giai đoạn phát triển tiếp theo của Việt Nam cần tập trung vào việc xây dựng các con đường phát triển kinh tế bền vững, nâng cao khả năng chống chịu trước các cú sốc và mở rộng cơ hội phát triển cho mọi người dân[16].

    Theo đánh giá của cơ quan phát triển Liên Hợp quốc UNDP nhấn mạnh: việc duy trì thành quả giảm nghèo trong giai đoạn tới cần dựa trên ba trụ cột: (i) thúc đẩy tăng trưởng trên diện rộng và phát triển bao trùm thông qua việc làm hiệu quả; (ii) cải thiện chất lượng và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản; và (iii) tăng cường khả năng phục hồi thông qua mở rộng hệ thống bảo trợ xã hội. Đây cũng là những định hướng mà nhiều chương trình tín dụng chính sách xã hội đang góp phần hiện thực hóa thông qua hỗ trợ tạo việc làm, phát triển sinh kế, đầu tư giáo dục, nước sạch và cải thiện điều kiện sống của người dân[17]. Đồng thời cũng chính là những mục tiêu mà hệ thống tín dụng chính sách xã hội đang hướng tới thông qua các chương trình cho vay tạo việc làm, hỗ trợ học sinh, sinh viên, nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, phát triển kinh tế vùng khó khăn và hỗ trợ các nhóm dân cư dễ bị tổn thương.

    Có thể thấy, mặc dù các báo cáo của World Bank và UNDP không đánh giá riêng từng chính sách cụ thể, nhưng những thành tựu mà các tổ chức này ghi nhận về giảm nghèo, phát triển bao trùm và mở rộng hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam phản ánh hiệu quả tổng hợp của nhiều chính sách công được triển khai trong thời kỳ đổi mới. Trong hệ thống đó, tín dụng chính sách xã hội giữ vai trò là một công cụ quan trọng giúp chuyển hóa các chủ trương của Đảng và Nhà nước thành những cơ hội phát triển cụ thể đối với người dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế. Chính vì vậy, hiệu quả của tín dụng chính sách xã hội cần được nhìn nhận không chỉ ở quy mô nguồn vốn hay số lượng người vay mà còn ở đóng góp của chính sách đối với mục tiêu phát triển bao trùm, giảm nghèo bền vững và bảo đảm công bằng xã hội.

    4. Kết luận

    Sau hơn hai thập kỷ hoạt động, Ngân hàng Chính sách xã hội đã khẳng định vai trò là công cụ tài chính đặc thù của Nhà nước trong thực hiện các mục tiêu giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội và phát triển bền vững. Việc triển khai tín dụng chính sách không chỉ góp phần hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng yếu thế tiếp cận nguồn vốn để phát triển sản xuất, tạo việc làm và nâng cao thu nhập, mà còn thể hiện rõ quan điểm nhất quán của Đảng về kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, lấy con người làm trung tâm của quá trình phát triển.

    Thực tiễn hoạt động của hoạt động tín dụng chính sách cho thấy chủ trương "không để ai bị bỏ lại phía sau" đã được thể chế hóa thành hệ thống chính sách tín dụng ưu đãi, cơ chế tổ chức phù hợp với điều kiện Việt Nam và đã trở thành một mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị nhằm thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững và bảo đảm an sinh xã hội. Những kết quả mà hệ thống tín dụng chính sách mang lại được các tổ chức quốc tế ghi nhận Việt Nam là một trong những quốc gia đạt thành tựu nổi bật về giảm nghèo trong nhiều thập niên qua.

    Có thể khẳng định rằng, mô hình tín dụng chính sách xã hội do Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện là một sáng tạo phù hợp với điều kiện phát triển của Việt Nam, phản ánh sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng về chăm lo đời sống nhân dân trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chính những kết quả thực tiễn đạt được trong hơn hai mươi năm qua đã góp phần khẳng định tính đúng đắn của chủ trương phát triển "vì nhân dân", đồng thời tạo nên những luận cứ khách quan, có sức thuyết phục trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước các quan điểm phủ nhận hoặc xuyên tạc bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

 

 Chú thích:

[1] Hồ Chí Minh, Nhà nước và pháp luật, Nxb. Pháp lý, Hà Nội, 1990, tr. 174.

[2] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 9, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.518.

[3]https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-vi/dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-vi-cua-dang-19?  Truy cập ngày 26/06/2026 .

[4] Đoàn Bích Hiền, Phát triển kinh tế hài hòa với phát triển văn hóa, gắn với tiến bộ và công bằng xã hội - đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nguồn: https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/gioi-thieu-van-kien-dang/phat-trien-kinh-te-hai-hoa-voi-phat-trien-van-hoa-gan-voi-tien-bo-va-cong-bang-xa-hoi-dac-trung-cua-nen-877?. Truy cập ngày 26/06/2026.

[5] Đặng Văn Luận, Quan điểm “nhân dân là trung tâm” trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Nguồn: https://lyluanchinhtri.vn/quan-diem-nhan-dan-la-trung-tam-trong-van-kien-dai-hoi-xiii-cua-dang-6372.html?. Truy cập ngày 26/06/2026.

[6] Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 525/TTg ngày 31 tháng 8 năm 1995 về việc thành lập Ngân hàng Phục vụ người nghèo.

[7] Chính phủ, Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 4 tháng 10 năm 2002 về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác; Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg ngày 4 tháng 10 năm 2002 về việc thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội.

[8] Ngân hàng Chính sách xã hội, Lịch sử Ngân hàng Chính sách xã hội (bản lưu hành nội bộ); Hà Thị Hạnh, Giải pháp hoàn thiện mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội, Luận án Tiến sĩ Kinh tế (Hà Nội, 2004), tr. 103–118.

[9] Ngân hàng Chính sách xã hội, Báo cáo thường niên năm 2019, tr. 14.

[10] Ban Bí thư Trung ương Đảng, Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 22 tháng 11 năm 2014 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách xã hội.

[11] Ngân hàng Chính sách xã hội, Lịch sử Ngân hàng Chính sách xã hội; Ngân hàng Chính sách xã hội, Báo cáo thường niên năm 2019.

[12] Ngân hàng Chính sách xã hội, Văn bản số 866/NHCS-TDNN ngày 22-2-2019 về việc nâng mức cho vay và thời hạn cho vay tối đa

[13] Giảm lãi suất cho vay chương trình hộ nghèo (Nguồn: http://m.baokontum.com.vn/kinh-te/giam-lai-suat-cho-vay-chuong-trinh-ho-ngheo-893.html )

[14] Kết luận của Ban Bí thư về thực hiện tín dụng chính sách theo Chỉ thị 40-CT/TW (Nguồn: http://nhcsxh.chinhphu.vn/Thong-tin/Ket-luan-cua-Ban-Bi-thu-ve-thuc-hien-tin-dung-chinh-sach-theo-Chi-thi-40CTTW/8140.vgp )

[15] Ngân hàng Chính sách xã hội, Báo cáo thường niên năm 2019, tr. 3, 14.

[16] Ngân hàng Thế giới, Đánh giá thực trạng nghèo và bình đẳng của Việt Nam năm 2022: Từ chặng đường cuối đến chặng đường kế tiếp (Washington, DC: Ngân hàng Thế giới, 2022), tr. 24, 28, 203.

[17] Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban Dân tộc, Tổng cục Thống kê và Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), Thúc đẩy giảm nghèo nhanh và bền vững theo mọi chiều cạnh và mọi nơi ở Việt Nam: Báo cáo nghèo đa chiều Việt Nam (Hà Nội, 2022), tr. 1-2.

TS. Phạm Thị Hồng Hà, Viện Sử học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Tin nổi bật
  • Bộ sách gồm 10 tập, Viện Sử học dịch, Nxb KHXH xuất bản.
    23/04/2013
  • Đại Nam nhất thống chí đời Tự Đức là bộ sách địa lý học Việt Nam đầy đủ nhất dưới thời phong kiến. Đại Nam nhất thống chí theo bộ Đại Thanh nhất thống chí của Trung Quốc mà chia ra các mục như: phương vi, phân dã, kiến trí, duyên cách, phủ huyện, hình thế, khí hậu, phong tục, thành trì, học hiệu, hộ khẩu, điền phú, sơn xuyên, quan tấn, dịch trạm, thị lập, tứ miếu, tự quán, phân việt, thổ sản, v.v... Ngoài ra, Đại Nam nhất thống chí còn có quyển chép riêng về Cao Miên (Campuchia), Xiêm La, Miến Điện, Nam Chưởng, Vạn Tượng.
    22/04/2013
  • Trong tập sách này, các tác giả không chỉ trình bày các sự kiện về quân sự, chính trị mà còn nêu lên nhiều sự kiện khác thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại....
    27/09/2012
  • "Việt Nam những sự kiện lịch sử (Từ khởi thủy đến 1858)" là cuốn sách ghi lại các sự kiện lịch sử nước nhà từ khởi thủy đến khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược vào giữa thế kỷ XIX.
    27/09/2012
  • Đại Nam liệt truyện là một bộ sách có quy mô khá đồ sộ trong kho tàng thư tịch cổ viết bằng chữ Hán của Việt Nam, do cơ quan làm sử chính thức của nhà Nguyễn là Quốc sử quán biên soạn vào giữa thế kỷ XIX.
    24/09/2012
  • Lịch triều hiến chương loại chí là bộ bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam. Có nghĩa là Phép tắc các triều đại chép theo thể phân loại do Phan Huy Chú soạn trong 10 năm (1809-1819).
    23/09/2012
  • Là bộ sử có giá trị to lớn và quan trọng bậc nhất trong nền sử học Việt Nam thời kỳ cổ trung đại. Bộ chính sử do Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê biên soạn.
    22/09/2012
  • Cuốn sách Cổ luật Việt Nam gốm 2 bộ Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ. Quốc triều hình luật (còn gọi là bộ luật Hồng Đức) và Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là bộ luật Gia Long) là hai bộ cổ luật duy nhất còn lại cho đến nay của các triều đại phong kiến Việt Nam; là những di sản quý giá có giá trị tham khảo về nhiều mặt cho chúng ta ngày nay.
    19/09/2012
  • Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ là một bộ sách được biên soạn dưới triều Nguyễn theo thể loại Hội điển. Thể loại này được đặt ra nhằm ghi chép lại các điển pháp, quy chuẩn và các dữ kiện liên quan đến tổ chức và hoạt động của một triều đại, một Nhà nước.
    19/09/2012
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1