Huỳnh Thúc Kháng (1876 - 1947) là một sĩ phu yêu nước tiêu biểu của Việt Nam đầu thế kỷ XX. Từ hoạt động trong phong trào Duy Tân, trải qua 13 năm tù đày ở Côn Đảo, hoạt động nghị trường và báo chí đến tham gia chính quyền cách mạng sau Cách mạng tháng Tám, ông luôn gắn hoạt động của mình với vấn đề độc lập dân tộc và đời sống nhân dân. Bài viết tập trung làm rõ quá trình hình thành tư tưởng yêu nước, hoạt động nghị trường, báo chí, thái độ trước sự lôi kéo của Nhật và vai trò của ông trong chính quyền cách mạng, qua đó nhận diện sự vận động của tư tưởng và phương thức hoạt động chính trị của Huỳnh Thúc Kháng trong những biến đổi của lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XX.
1. Tiểu
sử và quá trình hình thành tư tưởng yêu nước
Huỳnh Thúc
Kháng (1876 -1947), tên thật Huỳnh Hanh, biệt hiệu Minh Viên, quê làng Thạch
Bình, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Năm 1904, ông đỗ Tiến sĩ nhưng không ra
làm quan, sớm tham gia phong trào Duy Tân ở Trung Kỳ. Năm 1908, do liên quan
đến phong trào chống thuế, ông bị chính quyền thực dân bắt và đày ra Côn Đảo.
Sau 13 năm tù đày, năm 1921 ông được trả tự do và tiếp tục hoạt động chính trị -
xã hội. Năm 1926, ông được bầu làm Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ; từ năm
1927, ông trực tiếp điều hành báo Tiếng Dân. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945,
ông tham gia Chính phủ Liên hiệp, giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ, sau đó được
giao quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà theo Sắc lệnh số 82/SL ngày
29-5-1946 trong thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp; đồng thời giữ cương
vị Chủ tịch Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam. Cuối năm 1946, ông được cử làm Đặc
phái viên của Chính phủ vào Nam Trung Bộ và mất tại Quảng Ngãi ngày 21-4-1947,
thọ 71 tuổi [1].
Từ những
năm đầu thế kỷ XX, Huỳnh Thúc Kháng xác định con đường cứu nước gắn với cải
cách xã hội, nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí và phát triển kinh tế. Trong
phong trào Duy Tân, ông tham gia vận động mở trường, lập hội buôn, hội nông,
khuyến khích học chữ Quốc ngữ và tiếp nhận tri thức mới. Ông ghi lại: “Tôi cùng
các thân hào bằng hữu đề xướng chung vốn lập thương cục tại phố (Faifoo - Hội
An) cùng lập trường học, hội nông, trồng quế... Tôi lại cùng các thân sĩ trong
huyện lập một thư xã tại nhà túc thất của Văn miếu huyện (tại làng Chiêu Đàn)
mua nhiều sách báo mới của Trung Quốc mới xuất bản. Ngày rằm mỗi tháng họp
giảng diễn thuyết một lần, người đến nghe rất đông, lại cùng đệ tử trong làng
mở một nhà học, rước thầy về dạy chữ Tây và Quốc ngữ cho con em. Kế đó có lệnh
thành lập xã học, nhiều làng trong hương thôn có trường quốc ngữ…phong khí đổi
khác...” [2].
Những hoạt động trên cho thấy nhận thức của Huỳnh
Thúc Kháng về cứu nước không chỉ giới hạn ở việc cải cách xã hội để tạo dựng
nội lực xã hội. Trong điều kiện Việt Nam đầu thế kỷ XX, khi chế độ thuộc địa
từng bước mở rộng sự kiểm soát trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế và văn hóa,
việc nâng cao dân trí, phát triển kinh tế và mở rộng khả năng tiếp cận tri thức
mới được ông xem là những điều kiện quan trọng để thay đổi đời sống xã hội.
Việc mở trường, khuyến khích học Quốc ngữ, tổ chức thư xã, lập hội buôn, hội
nông không phải những hoạt động tách biệt, mà nằm trong một cách tiếp cận rộng
hơn về chấn hưng đất nước.
Đáng chú ý, trong phong trào Duy Tân, Huỳnh Thúc Kháng đã quan tâm
đến việc đưa những tri thức mới đến với cộng đồng thông qua những hình thức
tương đối thiết thực. Việc tổ chức đọc sách báo, diễn thuyết, mở trường và phát
triển các hoạt động kinh tế cho thấy ông chú trọng đến sự thay đổi từ cơ sở xã
hội. Qua đó, tư tưởng yêu nước của ông bước đầu được thể hiện không chỉ ở thái
độ phản đối chế độ thuộc địa mà còn ở nỗ lực xây dựng những điều kiện cần thiết
để người dân nâng cao nhận thức và năng lực tự chủ.
Phong trào
chống thuế Trung Kỳ năm 1908 là một bước ngoặt. Sự đàn áp của chính quyền thực
dân Pháp khiến ông nhận thức rõ hơn mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc, dân quyền
và sức mạnh quần chúng. Ông nhận định: “Cuộc cự sưu năm 1908 thuần nhiên là tự
sức quần chúng phơi gan trải ruột, đem thịt máu ra chống với hai chính phủ:
Chính phủ Bảo hộ giặc Pháp và Chính phủ bù nhìn Nam triều... mà lần này mới bắt
đầu lung lay” [3]. Bị bắt và đày ra Côn Đảo, ông không từ bỏ hoạt động chính
trị, “mà vẫn giữ trọn niềm lạc quan, kiên cường, bất khuất, tranh thủ học tập
(Huỳnh Thúc Kháng bắt đầu học tiếng Pháp từ khi ra đảo), sáng tác, ngâm vịnh
thơ phú, bàn quốc sự và những vấn đề quốc tế quan trọng khác”[4]. Những năm tù
đày ở Côn Đảo tiếp tục củng cố ý thức về độc lập dân tộc và trách nhiệm của
người sĩ phu.
Từ
thực tiễn phong trào chống thuế, nhận thức của Huỳnh Thúc Kháng về vai trò của
quần chúng có điều kiện phát triển rõ hơn. Nếu trong phong trào Duy Tân, trọng
tâm được đặt vào giáo dục, kinh tế và cải cách xã hội, thì biến cố năm 1908 cho
ông thấy trực tiếp sức mạnh xã hội của quần chúng khi những yêu cầu dân sinh
gắn với vấn đề chính trị. Vì vậy, đây không chỉ là một biến cố dẫn đến việc ông
bị bắt và đày Côn Đảo, mà còn là trải nghiệm quan trọng góp phần định hình nhận
thức chính trị của ông trong những giai đoạn sau.
Thời
gian 13 năm tù đày ở Côn Đảo là giai đoạn có ý nghĩa đối với sự phát triển bản
lĩnh chính trị của Huỳnh Thúc Kháng. Trong điều kiện bị giam cầm, ông vẫn duy
trì việc học tập, nghiên cứu tình hình trong nước và quốc tế, từ đó củng cố
nhận thức về độc lập dân tộc và vai trò của quần chúng. Trải nghiệm này trở
thành nền tảng cho sự kiên định của ông trước mọi đề nghị cộng tác với chính
quyền thuộc địa sau khi được trả tự do.
Sau khi ra
tù năm 1921, Huỳnh Thúc Kháng bị quản thúc tại quê nhà nhưng vẫn tìm kiếm các
mối quan hệ để hoạt động trong khuôn khổ hợp pháp. Trước sự vận động của chính
quyền thuộc địa, ông từ chối cộng tác. Khi Khâm sứ Trung Kỳ Pasquier đề nghị
ông giữ chức tại Viện Bác cổ Huế, ông trả lời: “Tôi chỉ có một cái tội là đậu
Tiến sĩ mà không đi làm quan, cho nên mới bị đi tù. Trước đã thế, huống chi bây
giờ, xin Ngài miễn nói đến việc ấy” [5].
Thái
độ này cho thấy một đặc điểm xuyên suốt trong hoạt động của Huỳnh Thúc Kháng:
sự linh hoạt về phương thức nhưng tương đối nhất quán về nguyên tắc. Sau năm
1921, ông chấp nhận hoạt động trong những khuôn khổ mà chính quyền thuộc địa
cho phép, nhưng không đồng nghĩa với việc chấp nhận trở thành một bộ phận của
bộ máy cai trị. Chính sự phân biệt giữa “hoạt động hợp pháp” và “hợp tác với
chính quyền thuộc địa” đã tạo cơ sở cho việc ông lựa chọn nghị trường và báo
chí như những phương thức đấu tranh chủ yếu trong giai đoạn tiếp theo.
2. Hoạt
động nghị trường và báo chí: từ cải cách đến đấu tranh công khai
Trong bối
cảnh chính quyền thuộc địa mở rộng một số hình thức hoạt động chính trị - xã
hội có giới hạn, Huỳnh Thúc Kháng lựa chọn nghị trường và báo chí làm phương
thức hoạt động công khai. Năm 1926, ông ra ứng cử tại ba hạt Tam Kỳ, Tiên Phước
và Thăng Bình, được 640/700 phiếu và sau đó được bầu làm Viện trưởng Viện Dân
biểu Trung Kỳ. Tại nghị trường, ông nêu các vấn đề liên quan trực tiếp đến đời
sống nhân dân. Trong kỳ họp tháng 10-1928, ông đề nghị tự do mở trường học,
giảm thuế và bãi bỏ những luật lệ hà khắc [6].
Việc
lựa chọn nghị trường cho thấy Huỳnh Thúc Kháng đã chủ động tìm kiếm một phương
thức hoạt động phù hợp với điều kiện chính trị cụ thể. Ông không xem nghị
trường là mục tiêu tự thân mà sử dụng diễn đàn này để đưa những vấn đề dân
sinh, dân quyền và giáo dục vào hoạt động chính trị công khai. Những vấn đề ông
nêu ra đều liên quan trực tiếp đến đời sống của người dân, qua đó cho thấy mối
quan tâm của ông đối với xã hội vẫn tiếp tục được duy trì từ thời kỳ Duy Tân.
Hoạt động
nghị trường ngày càng bộc lộ sự khác biệt giữa Huỳnh Thúc Kháng và chính quyền
thuộc địa. Khi những yêu cầu của Viện Dân biểu không được đáp ứng, ông từ chức
và chuyển sang hoạt động báo chí, lấy báo Tiếng Dân làm phương tiện
tuyên truyền, giáo dục quần chúng và phê phán chính sách cai trị của thực dân
Pháp cùng chính quyền Nam triều. Ngày 15-8-1927, báo Tiếng Dân ra số đầu
tiên. Với tư cách Chủ nhiệm kiêm Chủ bút, ông sử dụng tờ báo để phản ánh các
vấn đề xã hội, mở mang dân trí và phê phán những bất cập trong chính sách cai
trị. Trong hoạt động báo chí, ông tự xác định là “nhà cách mạng công khai” [7]
và nhấn mạnh: “Nếu không có quyền nói tất cả những điều mình muốn nói, thì ít
ra cũng giữ cái quyền không nói những điều người ta ép buộc nói” [8]. Từ đây,
báo chí trở thành phương tiện quan trọng để ông tiếp tục hoạt động chính trị và
truyền bá quan điểm của mình.
Sự
chuyển biến từ nghị trường sang báo chí không làm thay đổi mục tiêu hoạt động
mà chủ yếu là thay đổi phương tiện thực hiện. Nếu hoạt động nghị trường tạo ra
khả năng tác động trực tiếp vào những vấn đề quản trị, thì báo chí mở rộng hơn
khả năng tiếp cận công chúng. Qua báo Tiếng Dân, Huỳnh Thúc Kháng có
điều kiện trình bày quan điểm, phản ánh thực trạng xã hội và tác động đến nhận
thức của một bộ phận công chúng. Vì vậy, báo chí trở thành sự tiếp nối của hoạt
động chính trị công khai trong một môi trường có những giới hạn nhất định.
Báo Tiếng Dân tập trung vào giáo dục, thuế
khóa, đời sống dân chúng và quản trị xã hội. Trong điều kiện báo chí chịu sự
kiểm duyệt, đây là phương thức để Huỳnh Thúc Kháng duy trì hoạt động công khai.
Tuy nhiên, phương thức này cũng có giới hạn trước chính sách cai trị thuộc địa.
Báo Tiếng Dân nhiều lần chịu sức ép
và bị đình bản ngày 28-4-1943.
Điểm
đáng chú ý trong hoạt động báo chí của Huỳnh Thúc Kháng là sự kết hợp giữa phản
ánh thực tiễn và định hướng nhận thức xã hội. Các vấn đề giáo dục, thuế khóa,
đời sống dân chúng không chỉ được phản ánh như những vấn đề riêng lẻ mà gắn với
những câu hỏi rộng hơn về trách nhiệm của chính quyền, quyền lợi của người dân
và khả năng cải thiện đời sống xã hội. Qua đó, báo chí trở thành một phương
thức để ông tiếp tục thực hiện những mục tiêu đã được hình thành từ thời kỳ Duy
Tân: nâng cao dân trí, quan tâm đến đời sống nhân dân và tạo điều kiện để xã
hội nhận thức rõ hơn về những vấn đề của đất nước.
Như
vậy, từ Duy Tân đến nghị trường và báo chí có thể thấy sự vận động liên tục
trong phương thức hoạt động của Huỳnh Thúc Kháng. Hình thức hoạt động thay đổi
theo điều kiện chính trị, nhưng những vấn đề ông quan tâm vẫn có sự kế thừa rõ
rệt. Chính sự kế thừa này giúp lý giải vì sao ông có thể chuyển từ hoạt động
cải cách xã hội sang nghị trường, báo chí mà không tạo ra sự đứt gãy về mục
tiêu hoạt động.
3. Thái
độ trước sự vận động của Nhật và nhận thức về độc
lập dân tộc
Từ năm
1940, tình hình Đông Dương thay đổi sâu sắc khi Nhật Bản đưa quân vào Đông
Dương, trong khi bộ máy cai trị của Pháp vẫn tồn tại. Các lực lượng thân Nhật
tìm cách vận động những nhân sĩ có uy tín tham gia chính quyền bản xứ. Huỳnh
Thúc Kháng nhiều lần được tiếp xúc và vận động nhưng không chấp nhận hợp tác
[9].
Trong thư
trả lời Cường Để, ông thể hiện sự thận trọng trước chính sách của Nhật tại Đông
Dương: “Song tôi sở dĩ trù trừ thận trọng là vì từng đọc cận sử Nippon, phàm
việc ngoại giao và quân sự, trước việc đã dự trù hẳn hoi, điều tra khảo sát,
trăm việc không hở một điều gì... nên tôi phải thận trọng không dám bày tỏ một
cách đường đột” [10].
Khảo sát, trăm việc không hở một điều gì... nên tôi
phải thận trọng không dám bày tỏ một cách đường đột” [10].iều tra khảo sát,
trăm việc không hở một điều gì... nên tôi phải thận ững nhân sĩ có uy tín
thamtiêu của các lực lượng bên ngoài với khả năng thực tế của dân tộc. Đây là
một bước phát triển đáng chú ý trong nhận thức chính trị của ông, bởi vấn đề
độc lập lúc này không chỉ được nhìn nhận từ yêu cầu cải cách hay dân quyền mà
ngày càng gắn với khả năng tự chủ và thực lực của quốc gia.
Tháng
3-1945, sau khi Nhật đảo chính Pháp, dựng lên chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim
và trao trả độc lập giả hiệu cho Việt Nam, Huỳnh Thúc Kháng đã khước từ lời mời
cộng tác của Bảo Đại cũng như sự tranh thủ của Hoàng thân Cường Để. . Ông đồng
thời khuyên nhà vua trao quyền cho nhân dân: “Ta đã thấy người Nhật không có
chút gì là thực tâm với người Việt Nam chúng ta... Riêng đối với nhà vua, tôi
thành thật khuyên Ngài thoái vị mà giao quyền lại cho nhân dân...” [11].
Những phản
ứng trước sự lôi kéo của Nhật cho thấy sự chuyển biến trong nhận thức chính trị
của Huỳnh Thúc Kháng. Nếu trước đó ông chủ yếu nhấn mạnh cải cách, dân quyền và
hoạt động công khai, thì đến năm 1945, chủ quyền và thực lực dân tộc được đặt ở
vị trí trung tâm.
Có
thể thấy, thái độ của Huỳnh Thúc Kháng là kết quả của cả một quá trình tích lũy
nhận thức chính trị. Những trải nghiệm từ phong trào Duy Tân, phong trào chống
thuế, thời gian tù đày, hoạt động nghị trường và báo chí giúp ông có cơ sở để
đánh giá thận trọng các khả năng chính trị mới. Vì vậy, việc từ chối hợp tác
với Nhật không phải là một phản ứng nhất thời mà nằm trong sự nhất quán về
nguyên tắc: không đặt lợi ích cá nhân hoặc vị trí chính trị lên trên lợi ích
dân tộc.
Cách mạng tháng
Tám năm 1945 tạo bước ngoặt trong cuộc đời chính trị của Huỳnh Thúc Kháng. Ông
đón nhận nền độc lập với niềm vui lớn: “Sướng ôi là sướng! Thoát thân nô mà làm
chủ nhân ông. Vui thật là vui! đổi quyền vua mà làm dân quốc mới” [12]. Ông
cũng khẳng định: “Chỉ nói về mặt quốc gia giải phóng thì độc lập ngày 2 tháng 9
rõ ràng là do toàn dân Việt Nam chúng ta tranh đấu mà được” [13].
Những
phát biểu này cho thấy cách nhìn của Huỳnh Thúc Kháng về độc lập dân tộc đã
được thể hiện rõ trong một điều kiện lịch sử mới. Độc lập không chỉ được hiểu
là sự thay đổi về địa vị chính trị của quốc gia mà còn gắn với sự tham gia của
toàn dân. Từ đây, quan niệm về dân tộc, nhân dân và độc lập có sự gắn kết chặt
chẽ hơn. Đây cũng là cơ sở để lý giải việc ông chấp nhận tham gia chính quyền
cách mạng sau tháng Tám năm 1945.
4. Tham gia Chính phủ và vận động đoàn kết, kháng chiến
Sau Cách
mạng tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời Huỳnh Thúc Kháng tham gia Chính phủ
Liên hiệp kháng chiến. Ngày 2-3-1946, Quốc hội thông qua danh sách Chính phủ
Liên hiệp Kháng chiến gồm 15 thành viên, trong đó Huỳnh Thúc Kháng giữ chức Bộ
trưởng Bộ Nội vụ [14].Sự tham gia của ông góp phần tập hợp các nhân sĩ, trí
thức và những lực lượng yêu nước vào chính quyền mới. Việc Huỳnh Thúc Kháng tham gia chính quyền cách mạng
cho thấy sự thay đổi quan trọng về phương thức hoạt động chính trị. Nếu trước
đó ông chủ yếu hoạt động trong những không gian mà chính quyền thuộc địa cho
phép như nghị trường và báo chí, sau Cách mạng tháng Tám, ông trực tiếp tham
gia vào bộ máy chính quyền mới được thành lập sau khi đất nước giành độc lập.
Đây là sự chuyển từ hoạt động phản biện và vận động xã hội sang trực tiếp đảm
nhận trách nhiệm quản lý và củng cố chính quyền.
Trên cương
vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Huỳnh Thúc Kháng tham gia giải quyết những vấn đề cấp
thiết của chính quyền cách mạng và đề cao yêu cầu đoàn kết dân tộc. Ông phản
đối những hoạt động gây chia rẽ: “Thưa quý ngài, tôi nói ngay, tôi dám chê quý
ngài dòm gần mà không dòm xa, thấy cái nhỏ mà không thấy cái lớn, biết bộ phận
mà không biết toàn thể. Tôi dám chắc tình trạng này mà kéo dài ra nữa thì dân
Việt Nam chúng ta sẽ trở lại làm nô lệ, mà đảng của quý ngài cũng lại làm đảng
lưu vong” [15].
Huỳnh Thúc
Kháng là một trong những sáng lập viên Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam và được
bầu làm Hội trưởng. Tháng 6-1946, khi Hồ Chí Minh sang Pháp, ông được cử làm
Quyền Chủ tịch nước. Trước khi lên đường, Hồ Chí Minh trao cho ông phương châm
“Dĩ bất biến ứng vạn biến” (lấy cái không biến đổi để ứng phó với muôn vàn sự
biến đổi)” [16]. Việc đảm nhận cương vị Quyền Chủ tịch nước trong
thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Pháp cho thấy vị trí của Huỳnh Thúc Kháng
trong đời sống chính trị của chính quyền cách mạng. Đây cũng là giai đoạn đòi
hỏi sự kết hợp giữa nguyên tắc và khả năng xử lý linh hoạt trước những biến
động của tình hình đất nước. Đặt trong toàn bộ quá trình hoạt động của Huỳnh
Thúc Kháng, phương châm “Dĩ bất biến ứng vạn biến” có thể được nhìn nhận như sự
phù hợp với một đặc điểm đã thể hiện từ trước: phương thức hoạt động có thể
thay đổi theo hoàn cảnh, nhưng những mục tiêu cơ bản về độc lập, lợi ích dân
tộc và trách nhiệm với nhân dân vẫn được giữ vững.
Cuối năm
1946, khi thực dân Pháp mở rộng chiến tranh, Huỳnh Thúc Kháng được cử vào Trung
Bộ vận động nhân dân và các tầng lớp xã hội tham gia kháng chiến. “Lời kêu gọi
toàn quốc kháng chiến” của Hồ Chí Minh nêu rõ: “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất
định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” [17]. Hưởng ứng chủ
trương kháng chiến, Huỳnh Thúc Kháng với tư cách Hội trưởng Hội Liên Việt phát
đi “Lời kêu gọi đồng bào phụ lão kháng chiến”, nhấn mạnh yêu cầu đoàn kết và
giữ vững nền độc lập “Đoàn kết chặt chẽ một khối, gắng lên, gắng lên! Độc lập
vinh quang muôn năm, đẹp lắm, đẹp lắm”[18].
Tại Trung
Bộ, ông trực tiếp gặp gỡ nhân dân, nhân sĩ và trí thức, vận động ủng hộ chính
quyền cách mạng và cuộc kháng chiến. Khi lâm bệnh tại Quảng Ngãi, ông vẫn gửi
lời kêu gọi đoàn kết tới các đảng phái, tôn giáo và đồng bào. Ông qua đời ngày
21-4-1947 tại Quảng Ngãi, thọ 71 tuổi. Sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới
đồng bào toàn quốc, ghi nhận những đóng góp của ông đối với sự nghiệp cách mạng.
Kết
luận
Cuộc đời và hoạt
động của Huỳnh Thúc Kháng gắn liền với nhiều chặng đường của phong trào yêu
nước Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến những năm đầu của cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp. Từ phong trào Duy Tân, hoạt động nghị trường, báo chí đến tham
gia chính quyền cách mạng và vận động kháng chiến, tư tưởng và phương thức hoạt
động của ông từng bước vận động theo yêu cầu của hoàn cảnh lịch sử, nhưng nhất
quán ở tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ lợi ích dân tộc và trách nhiệm trước
nhân dân.
Trước Cách mạng tháng
Tám, ông chủ yếu hoạt động thông qua cải cách, nghị trường và báo chí; sau năm
1945, ông trực tiếp tham gia chính quyền cách mạng, góp phần củng cố khối đoàn
kết và bảo vệ nền độc lập. Sự chuyển biến đó phản ánh khả năng thích ứng với
thực tiễn lịch sử, đồng thời cho thấy sự nhất quán về mục tiêu dân tộc trong tư
tưởng và hành động của Huỳnh Thúc Kháng.
Những giá trị từ cuộc đời và hoạt động
của ông còn có ý nghĩa tham khảo đối với công tác tư tưởng hiện nay, nhất là
tinh thần trách nhiệm trước dân tộc, coi trọng thông tin, tư duy phân tích và
những quan điểm dựa trên cơ sở thực tiễn trong đời sống xã hội. Qua đó, việc
nghiên cứu và phát huy di sản của Huỳnh Thúc Kháng góp phần giáo dục lòng yêu
nước, ý thức trách nhiệm công dân và tinh thần gắn bó với lợi ích của đất nước
trong xã hội hiện nay.
Chú
thích:
[1]. Đinh Xuân
Lâm-Trương Hữu Quýnh (cb), Từ điển nhân
vật lịch sử Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội 2005, tr.232.
[2]. Huỳnh Thúc
Kháng, Huỳnh Thúc Kháng tự truyện, Nxb.
Anh Minh, Huế, 1957, tr.8.
[3] Vương Đình
Quang, Thơ văn Huỳnh Thúc Kháng, Nxb.
Văn học, Hà Nội, 1965, tr. 156.
[4]. Nguyễn Thành,
“Tìm hiểu tư tưởng chính trị của Huỳnh Thúc Kháng”. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 1/1993, tr.8.
[5]. Vương Đình
Quang, Thơ văn Huỳnh Thúc Kháng, sđd,
tr.18.
[6]. Huỳnh Thúc
Kháng, Bức thư bí mật, Nxb Anh Minh,
Huế 1957, tr. 36.
[7]. Minh Anh, Huỳnh Thúc Kháng, nhà cách mạng công khai
không đảng phái, Nxb Anh Minh, Huế, 1952, tr.7.
[8]. Báo Tiếng Dân, ngày 10-8-1927.
[9] Chương Thâu,
“Huỳnh Thúc Kháng-Nhà sĩ phu yêu nước (1876-1947). Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 2/1984, tr.62.
[10]. Vương Đình
Quang, Bức thư bí mật, sđd, tr. 20
[11]. Nguyễn Q.
Thắng, Huỳnh Thúc Kháng - Con người và
thơ văn, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hoá xuất bản, Sài Gòn, 1972, tr.
219.
[12]. Vương Đình
Quang, Thơ văn Huỳnh Thúc Kháng, sđd,
tr.30
[13]. Nguyễn Q.
Thắng, Huỳnh Thúc Kháng - Con người và
thơ văn, sđd, tr.219
[14]. Biên niên Lịch sử Chính phủ Việt Nam
1945-2005, Tập 1 (1945-1954), Nxb Văn hoá Thông tin, 2006, tr. 168-169.
[15]. Nguyễn Q.
Thắng, Huỳnh Thúc Kháng- Con người và thơ
văn, sđd, tr. 220.
[16]. Vương Đình
Quang, Thơ văn Huỳnh Thúc Kháng, sđd,
tr. 33
[17]. Hồ Chí Minh,
Toàn tập, tập 4 (1945-1946), Nxb Chính
trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 534.
[18]. Vương Đình
Quang, Thơ văn Huỳnh Thúc Kháng, sđd,
tr. 191.