CHÍNH QUYỀN CHÚA NGUYỄN VỚI VIỆC XÂY DỰNG CƠ SỞ BỐ PHÒNG VÀ SẮP ĐẶT LỰC LƯỢNG BỐ PHÒNG BIỂN ĐẢO ĐÀNG TRONG THẾ KỶ XVII-XVIII
Việc xây dựng cơ sở bố phòng và sắp đặt lực lượng bố phòng biển đảo ở Đàng Trong thế kỷ XVII-XVIII đã được chính quyền chúa Nguyễn rất chú trọng, trở thành một nhiệm vụ trọng tâm trong công tác an ninh - quốc phòng ở Đàng Trong.
1. Xây dựng cơ
sở bố phòng biển đảo
Để thực thi, đảm
bảo vững chắc an ninh, phòng thủ và chủ quyền biển đảo, bên cạnh việc xây dựng, huy động lực lượng (thủy quân, lực lượng quan chế, cư dân Đàng Trong)
vào công tác an ninh - quốc phòng biển đảo, chính
quyền chúa Nguyễn còn tập trung xây dựng các cơ sở bố phòng ven biển và hải đảo,
đồng thời cho sắp đặt các lực lượng phòng thủ ở nơi đây. Tại những vị trí quan
trọng nơi miền biển và hải đảo, chúa Nguyễn cho xây dựng các dinh, hành dinh, chiến lũy, pháo đài, tuần ty, sở tuần, đồn thủ, cửa quan, điếm canh,... trong thế tương
trợ lẫn nhau, tạo thành hệ thống phòng thủ liên hoàn nơi miền biển và là rào chắn ngăn cản những cuộc tiến công của các thế lực
từ phía biển, nhất là theo đường thủy
vào sâu trong đất liền. Đó là dinh Lưu Đồn (dinh Mười;
ở xã
Võ Xá, huyện Lệ Thủy (nay thuộc
Quảng Bình);
hành dinh Bến Giá và lũy Cu Đê ở Đà Nẵng;
lũy Động Hồi (Lũy Thầy; đắp vào năm
1631) từ núi Đâu Mâu đến cửa biển Nhật Lệ;
lũy Trấn Ninh (đắp
vào năm 1662) trong thế tương trợ với
luỹ Động Cát, nhằm ngăn bước tiến đường
biển vào cửa biển Minh Linh (cửa Tùng; thuộc châu Minh Linh, xứ Thuận Hóa)
- nơi cũng đặt cửa quan trấn giữ cửa
biển xung yếu này; đóng cọc ở cửa
biển Nhật Lệ, bủa lưới sắt xích sắt chắn ngang
cửa biển Nhật Lệ và cửa biển Minh Linh, nhằm chặn tàu chiến tiến công đường thủy vào đất
liền qua các
cửa biển này; pháo đài phòng thủ ở hải cảng thương mại Hội An với
những hàng pháo trước cửa công đường ghếch nòng thẳng ra phía biển;
thành đất, điếm
canh các đồn phòng thủ ở
Giang Thành và hải đảo Hà
Tiên; cửa quan Ải Vân (Hải Vân quan; ở huyện Tư Vang) trên núi Hải Vân, liền với cửa biển dưới chân núi, là “đất cổ họng của
Thuận Quảng”, có đồn canh và tuần ty phòng thủ, khám xét; đài phong hỏa trên núi Trâu Nằm (Ngọa Ngưu) của ghềnh Rái, được đặt vào năm Mậu
Thân (1788) làm
nhiệm vụ truyền báo tin tức. Việc chúa Nguyễn tận dụng lợi thế địa hình để đặt cơ sở bố phòng trên những địa thế cao của các ngọn núi ven biển và các
đảo gần bờ (như trường hợp cửa quan Ải Vân, đài phong hỏa trên núi Trâu
Nằm,...)
sẽ tạo nên hiệu quả trong quan sát mặt biển, cửa biển và
cấp báo tin tức. Với tính lợi thế và hiệu quả trong an ninh, phòng thủ biển
đảo, bài học kinh nghiệm này được vương triều Nguyễn kế thừa và tiếp nối thực
hiện trong chiến lược xây dựng hệ thống phòng thủ cửa biển và hải đảo ở thế kỷ
XIX. Bên
cạnh đó, các thương cảng ven biển cũng
được chính quyền Đàng Trong chú trọng xây dựng, bố phòng mang tính chất của các quân cảng, như Hội An, Thanh
Hà, Nước Mặn, Hà Tiên...
Ở các vùng cửa
biển, chính quyền chúa Nguyễn đặc biệt chú trọng phòng giữ với một số lượng
đáng kể các tuần sở phòng thủ (tuần ty,
sở, đồn thủ, cửa quan (quan ải)) bên cạnh bố trí thủy quân canh
giữ. Đó là bởi, cửa biển là cửa ngõ duy nhất để tàu thuyền vào sâu trong đất
liền bằng đường thủy, việc đặt các tuần sở phòng thủ nơi đây sẽ phát huy vai
trò đắc dụng trong canh giữ, tuần phòng, kiểm xét, giám sát và thu thuế tàu
thuyền ra vào cửa biển. Theo thống kê ban đầu từ những ghi chép trong Phủ biên tạp lục, số lượng tuần sở phòng
thủ và thu thuế ở vùng
cửa biển Đàng Trong
là 36 tuần ty, sở, đồn, cửa quan (quan ải). Những phủ, huyện có số lượng tuần sở nhiều nhất là phủ Gia Định với 6
tuần ty, huyện Phú Vang với 5 tuần
ty, sở, quan ải, phủ Phú Yên với 5 tuần
ty, sở. Trong đó,
có những tuần sở trọng yếu trong phòng thủ nơi cửa biển, như cửa quan trấn giữ
cửa biển Minh Linh “xung yếu” (thuộc châu Minh Linh, xứ Thuận Hóa), phía Đông
có Hòn Cỏ, phía Tây có núi Cổ Trai, có cửa quan trấn giữ, hay Hải Vân quan
“có đồn canh và tuần ty, trên từ Yêu Duyên, dưới đến Ô Rỗ, đều khám xét cả”.
2. Sắp đặt lực lượng bố
phòng biển đảo
Cùng với việc xây dựng các cơ sở bố phòng biển đảo, chính quyền chúa Nguyễn
cũng tổ chức sắp đặt lực lượng tại các cơ
sở này, nhằm
đảm bảo an ninh, phòng thủ và chủ quyền biển đảo. Thủy quân của chúa Nguyễn được tập trung ở các trung tâm chính trị, kinh tế
miền ven biển cũng như ở những vị trí
then chốt trong hệ thống phòng thủ bờ biển (các cửa biển, vụng biển, hải đảo trọng yếu).
Chính Dinh của Kinh
đô Phú Xuân - nơi đặt bộ máy chính quyền phủ chúa - được bố phòng quân thủy chính binh tinh nhuệ, hùng mạnh, đông đảo nhất, với 8.815 chính binh
thủy quân của binh Nội thủy cùng 4 cơ và 4 đội chính binh, 1 thuyền chính binh
chuyên tuần cửa biển. Tiếp sau Kinh đô Phú Xuân, chỉ có Quảng Nam và Quảng Bình
là hai dinh được đặt ngạch cơ chính binh thủy quân. Đây là hai dinh trọng yếu,
được chúa Nguyễn tập trung lực lượng tinh
binh thủy
quân để vừa phòng bị tại chỗ, đồng thời trở thành hai cánh tay tả, hữu, hộ vệ đắc lực cho Kinh đô Phú Xuân.
Nếu Quảng Bình, nơi có sông Gianh làm ranh giới phân chia Đàng Trong và Đàng Ngoài, là lá chắn bên tả cho Kinh đô Phú Xuân thì Quảng Nam
bên hữu là một mạch nguồn kinh tế biển quan trọng của xứ Đàng Trong, với hoạt động khai thác
tài nguyên biển đảo và hải thương phát
triển, nhất
là giao thương với thương nhân phương Tây tại hải cảng thương mại Hội An. Trong khi đó, mạch
nguồn kinh tế biển này là một điểm tựa quan trọng cho sức mạnh chính trị - quân
sự - ngoại giao của thể chế chính trị phủ chúa Nguyễn. Biên chế thủy quân tại dinh Quảng Bình có 606 chính binh của 3 cơ chính binh và 1 đội chính binh
chuyên trách phòng giữ miền biển. Biên chế thủy quân tại
dinh Quảng Nam cũng là số quân thủy của 3 cơ chính
binh và 2 đội chính binh chuyên phòng giữ cửa biển.
Các lực
lượng thủy quân chúa Nguyễn luôn sẵn sàng để huy động vào hoạt động an ninh,
phòng thủ và bảo vệ chủ quyền biển đảo, bảo vệ xứ Đàng Trong, nhất là những đơn
vị thủy quân miền ven biển. Tuy nhiên, để đảm bảo an ninh, phòng thủ và chủ quyền
biển đảo một cách thường trực, chúa Nguyễn cho đặt ngạch thủy quân chuyên nhiệm với các lực lượng chính binh, thuộc binh, thủ ngự thủy quân và ghe bầu hải sư chuyên trách thường
xuyên tuần phòng, canh giữ mặt biển, hải đảo, đặc biệt là bảo vệ ở các vùng cửa biển. Theo ngạch binh
chúa Nguyễn, xứ Đàng Trong có 78 chính binh thủy quân và số thủy quân 17 thuyền chuyên canh giữ
biển đảo và tuần phòng
giặc biển, 6.000 thủ ngự cửa biển, cùng số thủy quân 54 ghe bầu hải sư. Lực lượng này được sắp đặt ở
Chính Dinh (thành Phú Xuân) và các dinh Quảng Bình, Quảng Nam, Bình Khang, Bình
Thuận, Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ.
Ở các
dinh, ngạch thủy quân và số lượng quân thủy chuyên trách an ninh, phòng thủ biển
đảo cũng được sắp đặt không đồng nhất về quân số và đơn vị thủy quân. Các dinh
được bố phòng nhiều ngạch binh thủy chuyên trách an ninh, phòng thủ biển đảo gồm Trấn Biên (có số thủy quân 3 thuyền chính binh,
cùng 2.160 thủ ngự thủy quân cửa biển và số thủy quân 18 ghe bầu hải sư), Phiên
Trấn (có 1.440 thủ ngự thủy
quân cửa biển và số thủy quân 18 ghe bầu hải sư), Long Hồ (2.400 thủ ngự
cửa biển và số thủy quân
18 ghe bầu hải sư). Trong khi đó, các dinh còn lại được bố phòng chủ yếu là
chính binh chủ lực thủy quân (có nơi 1 thuyền thủy quân như cửa biển
Chính Dinh; có nơi 1-2 đội thủy quân như các dinh Quảng Bình, Bình Thuận, Trấn
Biên đều 1 đội, dinh Quảng Nam 2 đội), thuộc binh thủy quân (các dinh Bình Khang, Bình Thuận
đều 3 thuyền).
Dọc theo duyên hải, bố phòng tại các cửa biển được
coi là những trọng điểm vì là nơi kiểm soát, ngăn chặn hiệu quả các hoạt động
xâm phạm từ phía biển, vừa hiểm yếu trong phòng thủ lại lý tưởng để thu lợi
(nhất là thuế cửa biển). Cửa Eo - cửa ngõ
vào Kinh đô Phú Xuân - được đặt một thuyền Tân súng cơ
động với 24 chính binh thủy quân thường xuyên tuần phòng. Dinh Quảng Nam có 3 thuyền chính binh (Hùng Nhất,
Hùng nhị, Hùng tam) của đội Hùng thủy chuyên trách tuần giữ cửa biển Đà Nẵng, 3 thuyền chính binh (An nhất, An nhị, Súng
nhất) của đội Thắng thủy chuyên tuần giữ cửa
biển Đại Chiêm, là hai cửa ngõ quan trọng từ biển vào hải cảng thương mại Hội An. Dinh Quảng Bình được đặt thuyền
chính binh Cừ Hà của đội Bình Thủy với 57 lính chính binh tuần biển. Các dinh Bình Khang,
Bình Thuận đều có 3 thuyền thuộc binh chuyên phòng giặc biển. Ngoài ra, dinh
Bình Thuận còn có 2 thuyền chính binh đội Bình thủy canh giữ cửa Mù U. Các dinh Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ ngoài số thủ ngự
thủy quân cửa biển, mỗi dinh đều có 18 ghe bầu hải sư canh phòng biển đảo;
riêng dinh Trấn Biên có thêm chính binh đội Tân tiệp giữ dân Hà Bạc và cù lao
Côn Lôn.
Thủ ngự quân thủy cũng đóng vai trò quan trọng
trong đảm bảo an ninh, phòng thủ và thu thuế cửa biển, như thủ ngự cửa biển các
dinh Long Hồ, Trấn Biên, Phiên Trấn. Thủ ngự các cửa biển dinh Long Hồ gồm: thủ các cửa biển Bãi Ngao, Tiểu Hỗn,
Cỏ Chiện, Trà Vinh, Cái Lóc, Thanh Hải, mỗi nơi đều 360 người thuộc 9 thuyền của
3 đội, có
9 chiếc chiến thuyền; thủ các cửa Thu tu, Rạch Giá mỗi nơi đều 120 người thuộc
3 thuyền của 1 đội, có 3 chiếc chiến thuyền.
Thủ ngự các cửa
biển dinh Trấn Biên gồm:
thủ các cửa Tắc Khái, Cần Giờ mỗi nơi đều 360 người thuộc 9 thuyền của 3 đội;
thủ các cửa Bà Rịa, Mỗi Xoài mỗi nơi có 720 người thuộc 15 thuyền của 5 đội.
Thủ ngự các cửa biển dinh Phiên Trấn gồm thủ các cửa Soài Rạp, Đồng Tranh, cửa
Đại cửa Tiểu, Bà Lai mỗi nơi đều 360 người thuộc 9 thuyền của 3 đội.
Ở một
số hải đảo, chúa Nguyễn cho bố trí thủy quân cùng các lực lượng chức phận khác
(thuộc quân Ty Tàu...) để phòng
thủ, bảo vệ biển, hải đảo, biến nơi đây thành những đảo tiền đồn canh giữ, phòng
thủ vòng ngoài cho đất liền từ phía biển. Ví như chính binh thủy quân đội Tân tiệp với 3 thuyền Phấn nhất, Phấn nhị, Phấn tam được
đặt để giữ dân Hà Bạc và cù lao Côn Lôn của dinh Bình Thuận.
Những thuộc quân thông hiểu tiếng nước ngoài của Ty Tàu vào tháng giêng hằng năm được phái đến canh giữ Cù lao Chiêm.
Trên mặt biển và hải đảo, song song với các hoạt động quân sự của thủy quân
(tuần phòng và cứu nạn đường biển, trấn áp cướp biển), chính quyền chúa Nguyễn còn
xác lập,
thực thi, bảo vệ chủ quyền biển đảo dưới một cách thức độc đáo: tổ chức các cư dân ven biển và hải đảo vốn có truyền thống khai thác
biển từ lâu đời, lập thành những đội chuyên khai thác nguồn lợi biển đảo đồng
thời tuần tra, canh giữ, phòng thủ, bảo vệ biển đảo (như các đội Thanh Châu, Hải Môn, Hoàng Sa, Bắc Hải). Về thực chất,
bản thân hoạt động khai thác kinh tế cũng là một cách thức khai chiếm, xác lập,
thực thi, khẳng định chủ quyền biển đảo và một hình thức để tuần tra, thám báo,
phòng thủ, kiểm soát, bảo vệ biển đảo. Bằng cách thức này, các chúa Nguyễn đã “chính
quyền hóa” (“nhà nước hóa”) các hoạt động mang tính chất đơn thuần kinh tế của cư
dân miền biển thành các hoạt động, biện pháp cụ thể, thiết thực mang tính chất
khẳng định và thực thi chủ quyền của chính quyền Đàng Trong.
Đội Thanh Châu chuyên khai thác tổ yến
ở các cù lao, hải đảo nơi cửa biển Tân Quan, Thời Phù, Nước Ngọt, Nước Mặn thuộc phủ Quy Nhơn. Đội Hải Môn chuyên
lấy tổ yến ở đảo Côn Lôn vùng biển phủ Bình Thuận và
thu nhặt hải
vật, hóa vật của tàu đắm ở Cù lao Khoai nơi biển phía ngoài Côn Lôn. Đội Hoàng Sa và đội Bắc
Hải là lực lượng chuyên trách thực thi nhiệm vụ tuần
tra, kiểm soát, thực thi chủ quyền, bảo đảm an ninh,
phòng thủ và khai thác nguồn lợi biển đảo được chính quyền chúa Nguyễn giao phó trên
các vùng quần đảo ngoài khơi giữa Biển
Đông. Ghi chép của Lê
Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục cho biết,
chúa Nguyễn
“đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy ngươi xã
An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng 2 nhận giấy sai đi, mang lương đủ
ăn 6 tháng”, đến tháng 8 thì trở về. Đội Hoàng Sa chuyên tuần
phòng, khai
thác, thu lượm hóa vật của tàu đắm và hải vật
ở vùng quần đảo
Hoàng Sa (phủ
Quảng Ngãi), khai thác tổ yến ở Cù lao Chàm (đảo Đại Chiêm, thuộc Quảng Nam), kiêm
quản đội Bắc Hải, mỗi năm 6 tháng hoạt động thường trực trên biển.
Chúa Nguyễn cũng
“đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất, hoặc người
thôn Tứ Chính ở Bình Thuận, hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp
giấy sai đi, miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền câu nhỏ ra
các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên”. Đội Bắc Hải đảm nhận nhiệm vụ tuần tra, khai thác, thu lượm
hóa vật của
tàu đắm và hải vật ở vùng biển đảo ngoài khơi tương đương với khu vực quần đảo Trường
Sa, đảo Côn Lôn và khu vực biển đảo trên vịnh Thái Lan. Trong đó, với việc thường xuyên cử người ra Hoàng Sa,
Trường Sa, chính quyền chúa Nguyễn “chắc chắn phải đặt tuần tra, kiểm
soát, bảo đảm an ninh quốc phòng làm nhiệm vụ số một”.
Với những hoạt động đó, chính quyền chúa Nguyễn đã khẳng định vị thế của chính thể làm chủ các vùng biển đảo Đàng Trong (không chỉ đối
với biển đảo ven bờ mà còn vươn ra quản lý, kiểm soát ngoài khơi xa), toàn quyền
thực thi các quyết sách quản lý và triển khai các cách thức, biện pháp xác lập,
thực thi, bảo vệ chủ quyền biển đảo, nhất là đối với các vùng quần đảo giữa Biển
Đông (Hoàng
Sa, Trường Sa). Chẳng vậy mà, thư tịch và bản đồ
cổ Việt Nam những thế kỷ XVII-XIX, hay ghi chép và bản đồ của người phương Tây,
người Trung Quốc đến Đàng Trong những thế
kỷ XVII-XVIII, có những biên vẽ, ghi chép thể hiện chủ quyền và những hoạt động thực thi
chủ quyền của chính quyền chúa Nguyễn đối với các vùng biển đảo này của Đàng
Trong.
Những hoạt động, biện pháp khai chiếm, khẳng định, thực thi, bảo vệ chủ quyền
biển đảo của chính quyền chúa Nguyễn là sơ sở pháp lý vững chắc để vương triều
Tây Sơn, rồi vương triều Nguyễn… tiếp nối quyền làm chủ và
thực thi chủ quyền. Đặc biệt, dưới triều Nguyễn ở thế kỷ XIX, nhà nước đã “nâng công cuộc quản lý và thực thi chủ quyền đối với hai quần
đảo này (Hoàng Sa, Trường Sa - TG) lên tầm quốc gia, đặt dưới sự tổ chức và điều
hành của triều đình do nhà vua trực tiếp chỉ đạo và phê duyệt”.
Như vậy, có thể thấy, việc xây dựng
cơ sở bố phòng và sắp đặt lực lượng bố phòng biển đảo ở Đàng Trong thế kỷ XVII-XVIII
đã được chính quyền chúa Nguyễn rất chú trọng, trở thành một nhiệm vụ trọng tâm
trong công tác an ninh - quốc phòng ở Đàng Trong. Hệ thống dinh, lũy, pháo đài,
cửa quan, tuần sở… cùng lực lượng thủy quân, thủ ngự và các đội Hoàng Sa, Bắc Hải,
Thanh Châu, Hải Môn được tổ chức tại những vị trí trọng yếu, tạo
thành mạng lưới phòng thủ từ ven biển, cửa biển đến các đảo và vùng biển đảo ngoài
khơi xa. Sự kết hợp giữa các chính sách, biện pháp phòng thủ (bố phòng), kiểm
soát, khai thác nguồn lợi và thực thi chủ quyền biển đảo đã góp phần thể hiện
rõ vai trò chủ động của chính quyền chúa Nguyễn trong quản lý không gian biển đảo
Đàng Trong và tạo nền tảng cho sự kế thừa, phát triển hoạt động quản lý, thực
thi, khai thác, bảo vệ chủ quyền biển đảo của các chính thể Việt Nam ở những thế
kỷ sau, nhất là đối với hai vùng quần đảo ngoài khơi xa Hoàng Sa và Trường Sa.
Chú thích:
Lê Quý Đôn, Phủ
biên tạp lục, Nxb.Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2007, tr.66.
Lê Quý Đôn, Phủ
biên tạp lục, Nxb.Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2007, tr.65, 134.
Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Đỗ Mộng Khương,
Nguyễn Ngọc Tỉnh dịch, Đào Duy Anh hiệu đính và chú thích, Nxb. Giáo Dục, 1999, tr.70.
Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Nxb.Văn
hóa - Thông tin, Hà Nội, 2007,
tr.238, 243, 241, 244, 245, 247, 248.