Một số kinh nghiệm tuyên truyền Nghị quyết số 57-NQ/TW tại Viện Sử học
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về “Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” là một văn kiện mang tầm chiến lược, định hướng toàn diện cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nội dung Nghị quyết đã trở thành nhiệm vụ chính trị trọng tâm và cấp bách của toàn hệ thống chính trị, đặc biệt là tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nói chung và Viện Sử học nói riêng
Triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị,
Viện Sử học đã chủ động đổi mới toàn diện công tác tuyên truyền với nhiều hoạt
động đổi mới, sáng tạo, đạt được những kết quả thực chất và rút ra nhiều bài học
thực tiễn sâu sắc. Không dừng lại ở việc quán triệt lý luận chung chung, Viện
đã khéo léo kết hợp giữa tuyên truyền chính trị, hiện đại hóa hạ tầng dữ liệu
và đăng tải các bài viết chất lượng cao về những nội dung cốt lõi của Nghị quyết
số 57-NQ/TW và ứng dụng trong công tác chuyên môn trên Cổng thông tin điện tử.
1. Nghị
quyết 57-NQ/TW và một số yêu cầu đặt ra
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác
định: Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc
gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực
lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản
trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất
nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới[i].
Nghị quyết 57-NQ/TW xác định phát triển khoa học, công nghệ,
đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, dưới
sự lãnh đạo toàn diện của Đảng và sự tham gia của cả hệ thống chính trị, doanh
nghiệp, người dân và đội ngũ khoa học. Quá trình này cần tập trung đột phá về
thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược; hướng tới phát triển
nhanh, bền vững, từng bước tự chủ công nghệ, đồng thời bảo đảm an ninh mạng, an
ninh dữ liệu và an toàn thông tin. Để hiện thực hóa các mục tiêu đó, Nghị quyết
đề ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm về đổi mới nhận thức và tư duy;
hoàn thiện thể chế; đầu tư hạ tầng; phát triển nhân lực chất lượng cao; đẩy mạnh
chuyển đổi số và ứng dụng khoa học, công nghệ; thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong
doanh nghiệp và tăng cường hợp tác quốc tế.
Đối với các cơ quan nghiên cứu khoa học như Viện Sử học,
tinh thần cốt lõi của Nghị quyết đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy và
phương thức hoạt động; nâng cao năng lực số của đội ngũ cán bộ; phát triển, kết
nối và khai thác dữ liệu; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo
trong nghiên cứu và quản lý; đồng thời bảo đảm an ninh, an toàn dữ liệu và tăng
cường hợp tác trong nước, quốc tế. Đây là những nội dung có quan hệ trực tiếp với
hoạt động nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn nói chung, hoạt động nghiên cứu
sử học nói riêng.
Việc triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW vì vậy không chỉ dừng lại
ở tổ chức học tập, quán triệt nội dung Nghị quyết mà quan trọng hơn là chuyển
nhận thức thành hành động cụ thể trong từng lĩnh vực công tác. Công tác tuyên
truyền được gắn với nhiệm vụ chuyên môn của Viện, hướng tới giúp cán bộ, viên
chức và người lao động nhận thức rõ chuyển đổi số không phải là nhiệm vụ tách rời
hoạt động nghiên cứu sử học, mà là một phương thức góp phần đổi mới và nâng cao
hiệu quả nghiên cứu, quản lý, lưu trữ và khai thác tư liệu, xuất bản và phổ biến
tri thức lịch sử.
Từ yêu cầu đó, công tác tuyên truyền Nghị quyết 57-NQ/TW tại
Viện Sử học cần được cụ thể hóa thông qua nhiều hình thức và hoạt động, như tổ
chức phổ biến, quán triệt Nghị quyết; lồng ghép nội dung chuyển đổi số trong
sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt chuyên môn và hoạt động của các tổ chức đoàn thể;
xây dựng các bài viết, tin, bài tuyên truyền trên các kênh thông tin của Viện; tham
gia tập huấn nhằm nâng cao nhận thức và kỹ năng số; tuyên truyền gắn với thực
hành sử dụng các nền tảng số, số hóa và khai thác tư liệu, ứng dụng công nghệ
và trí tuệ nhân tạo trong nghiên cứu, quản lý và phổ biến kết quả nghiên cứu.
Thông qua đó, tuyên truyền từng bước được chuyển từ “phổ biến
Nghị quyết” sang “đưa Nghị quyết vào hoạt động chuyên môn”, góp phần tạo chuyển
biến về nhận thức, hình thành kỹ năng và thúc đẩy thay đổi phương thức làm việc
của cán bộ, viên chức. Đây cũng là cơ sở thực tiễn để Viện Sử học từng bước
hình thành những cách làm và kinh nghiệm trong tuyên truyền, triển khai Nghị
quyết 57-NQ/TW phù hợp với đặc thù của một cơ quan nghiên cứu chuyên ngành lịch
sử.
2. Một số kinh nghiệm tuyên truyền Nghị quyết 57-NQ/TW tại
Viện Sử học
2.1. Quán triệt sâu sắc nội dung, quan điểm chỉ đạo của
Đảng, của Viện Hàn lâm, chuyển đổi số từng bước đi vào hoạt động quản
lý, điều hành của Viện
Một trong những kinh nghiệm quan trọng rút ra từ quá trình
triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW tại Viện Sử học là công tác tuyên truyền,
quán triệt chỉ thực sự có ý nghĩa khi chuyển hóa được nhận thức thành hành động,
từ hành động thành sản phẩm và từ sản phẩm tạo ra những thay đổi cụ thể trong
hoạt động quản lý, nghiên cứu khoa học và phổ biến tri thức.
Tinh thần này càng trở nên rõ nét sau Thông báo số
24-TB/CQTTBCĐ ngày 07/7/2026 về kết luận tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm 6
tháng thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW[ii].
Thông báo nhấn mạnh yêu cầu chuyển mạnh từ chủ trương sang kết quả thực tế, lấy
sản phẩm, dữ liệu, người sử dụng và hiệu quả có thể kiểm chứng làm thước đo. Đối
với Viện Sử học, đây cũng là cơ sở quan trọng để chuyển trọng tâm từ “tuyên
truyền về Nghị quyết” sang “tuyên truyền bằng kết quả thực hiện Nghị quyết”,
làm cho cán bộ, viên chức thấy được chuyển đổi số không phải là một nhiệm vụ xa
rời công việc chuyên môn mà đang trực tiếp làm thay đổi phương thức hoạt động hằng
ngày của đơn vị.
Một kết quả có thể nhận thấy khá rõ là phương thức xử lý
công việc hành chính đang từng bước chuyển từ môi trường giấy sang môi trường số. Trong đợt cao điểm triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW
năm 2026, Viện tiếp tục đặt ra những yêu cầu cụ thể về sử dụng chữ ký số, hệ thống
điều hành tác nghiệp, thư điện tử công vụ, xử lý văn bản toàn trình trên môi
trường điện tử và từng bước thực hiện họp không giấy tờ. Cán bộ, viên chức trực
tiếp tiếp nhận văn bản, chuyển xử lý, theo dõi tiến độ, trình lãnh đạo, ký số
và lưu vết quá trình giải quyết công việc trên hệ thống điều hành tác nghiệp.
Nhờ đó, chuyển đổi số bắt đầu gắn với những công việc thường xuyên của từng vị
trí việc làm, góp phần giảm các khâu trung gian, tăng khả năng kiểm tra tiến độ
và nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm trong xử lý công việc.
Đặc biệt, Viện xác định tuyên truyền phải đi đôi với tổ chức
thực hiện và kết quả cụ thể. Trọng tâm của đợt tuyên truyền hành động là Kế hoạch
cao điểm 100 ngày tháo gỡ điểm nghẽn chuyển đổi số (triển khai từ 8/8 đến
15/11/2026), vận hành theo nguyên tắc “6 rõ” (rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm,
rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả)[iii].
Viện đã đặt mục tiêu cụ thể: 100% viên chức thuộc diện được cấp chữ ký số hợp lệ;
100% viên chức sử dụng hệ thống e-Office và thư điện tử công vụ; tỷ lệ văn bản
xử lý toàn trình, ký số đạt tối thiểu 85%; và tối thiểu 70% cuộc họp không giấy
tờ e-Cabinet…
Viện đã triển khai số hóa dữ liệu, trong đó có kế hoạch số
hóa tài liệu năm 2026 và lộ trình cho các giai đoạn tiếp theo; đồng thời triển
khai số hóa dữ liệu trong công tác tổ chức - cán bộ theo hướng dẫn của Viện Hàn
lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Đây là bước chuyển có ý nghĩa từ lưu trữ tài liệu
đơn thuần sang từng bước xây dựng nguồn dữ liệu có khả năng quản trị, tìm kiếm
và khai thác trên môi trường số.
2.2. Xây dựng kế hoạch tuyên truyền bài bản, đồng bộ
và triển khai hiệu quả
Một trong những điểm mạnh của Viện Sử học là xây dựng kế hoạch
tuyên truyền Nghị quyết 57-NQ/TW theo hướng bài bản, đồng bộ, có trọng tâm, trọng
điểm. Kế hoạch được xây dựng trên cơ sở: bám sát Hướng dẫn của Ban Tuyên giáo
Trung ương và Viện Hàn lâm về tuyên truyền Nghị quyết; phù hợp với đặc thù của
cơ quan nghiên cứu lịch sử; gắn với các nhiệm vụ chính trị trọng tâm của năm.
Nhằm đưa Nghị quyết vào thực tiễn làm việc hằng ngày, Viện Sử
học đã xây dựng chuỗi kế hoạch hành động đồng bộ. Ngay sau Kế hoạch số
101/VSH-KH (22/5/2025) và Kế hoạch số 98/VSH-KH (27/3/2026) thực hiện Chiến lược
chuyển đổi số của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Viện đã ban hành hàng
loạt văn bản chỉ đạo cao điểm: Kế hoạch số 311-KH/VSH về số hóa, Kế hoạch số
314-KH/VSH về cao điểm 100 ngày, Kế hoạch số 318-KH/VSH và 319-KH/VSH về thi
đua truyền thông và đăng tải tin, bài trên trang thông tin điện tử, cùng Kế hoạch
số 336-KH/VSH về số hóa dữ liệu tổ chức – cán bộ. Đặc biệt, ngày 03/9/2026, Chủ
tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã ký Quyết định số
1633-QĐ/VHLKHXHVN ban hành Kế hoạch số hóa tài liệu của Viện Sử học năm 2026 và
lộ trình 2027–2030[iv].
Nếu trước đây việc tuyên truyền nghị quyết chủ yếu được thực
hiện thông qua hội nghị quán triệt, sinh hoạt chi bộ và phổ biến văn bản, thì
trong quá trình triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, Viện Sử học đã từng bước đổi
mới phương thức, tăng cường truyền thông và phổ biến tri thức trên nền tảng số.
Nhằm cụ thể hóa nhiệm vụ này, Viện đã ban hành Kế hoạch số 319-KH/VSH ngày
14/8/2026 về đăng tải tin, bài về chuyển đổi số và Nghị quyết số 57-NQ/TW trên
cổng/trang thông tin thành viên của Viện Sử học.
Điểm đáng chú ý là việc triển khai Kế hoạch không chỉ dừng ở
phổ biến chủ trương mà được gắn trực tiếp với hoạt động chuyên môn của một cơ
quan nghiên cứu. Các nội dung khoa học liên quan đến Nghị quyết số 57-NQ/TW, đặc
biệt những vấn đề gắn với đặc thù của ngành Sử học, được xác định và phân công
tới từng phòng chuyên môn, cá nhân cụ thể. Điều này cho thấy Nghị quyết không
chỉ là đối tượng của công tác tuyên truyền mà đã từng bước trở thành một vấn đề
nghiên cứu, trao đổi khoa học. Qua đó, cán bộ nghiên cứu vừa tiếp cận sâu hơn
những yêu cầu mới về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, vừa
vận dụng chuyên môn để nghiên cứu, trao đổi, tạo lập các sản phẩm khoa học và
luận cứ có giá trị đối với lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn.
Theo Kế hoạch, Chuyên mục “Chuyển đổi số” trên Trang thông
tin điện tử Viện Sử học duy trì đăng tải các tin, bài viết chuyên sâu với tần suất
khoảng hai bài mỗi tuần. Cách làm này từng bước hình thành một quy trình gắn kết
giữa quán triệt chủ trương – nghiên cứu, trao đổi – sản phẩm cụ thể – công bố kết
quả trên nền tảng số. Vì vậy, Nghị quyết số 57-NQ/TW không chỉ là nội dung cần
tuyên truyền, quán triệt mà còn trở thành động lực thúc đẩy đổi mới hoạt động
nghiên cứu và phương thức phổ biến tri thức tại Viện Sử học.
Kết quả bước đầu hình thành một số nhóm nội dung tuyên truyền
gắn liền với các bài viết nghiên cứu cụ thể:
Đổi mới tư duy và phương pháp luận sử học số: Nổi bật
qua các bài viết: “Chuyển đổi số trong nghiên cứu lịch sử: Từ nhận thức đến
hành động” (PGS.TS. Võ Xuân Vinh); “Nghị quyết số 57-NQ/TW và yêu cầu đổi
mới động lực phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”, “Triển khai Nghị
quyết số 57-NQ/TW tại Viện Sử học: Từ cụ thể hóa chủ trương đến đổi mới phương
thức hoạt động” (Hoàng Thị Thanh Nga).
Thực thi nguyên tắc “6 rõ” gắn với cải cách hành chính:
Vận dụng tinh thần “dám nghĩ, dám làm” vào chuyên môn, tinh gọn bộ máy và tháo
gỡ “ốc đảo dữ liệu”. Thể hiện qua bài: 100 ngày tháo gỡ điểm nghẽn, tạo chuyển
biến thực chất trong chuyển đổi số tại Viện Sử học” (Quang Lê). “Nghị
quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính trị với nhiệm vụ chuyển đổi số trong nghiên cứu lịch
sử” (TS. Ngô Hoàng Nam), “Chuyển đổi số gắn với cải cách hành chính
trong các viện nghiên cứu: Nhìn từ thực tiễn Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam”
(TS. Trương Thùy Dung).
Chuẩn hóa dữ liệu học thuật và xuất bản báo chí số: Hiện
đại hóa Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử (vận hành website riêng, gắn mã DOI, chuẩn
hóa metadata, quản lý OJS) và số hóa có cấu trúc khối di sản tài liệu giấy. Nổi
bật với bài “Chuyển đổi số trong hoạt động của Tạp chí Khoa học” (TS. Lê
Thị Thu Hằng) và “Số hóa tài liệu trong nghiên cứu lịch sử - những vấn đề đặt
ra” (TS. Nguyễn Lan Dung).
Ứng dụng AI gắn liền với liêm chính khoa học: Coi AI
là “trợ lý nghiên cứu” tra cứu ngữ nghĩa, tóm tắt tư liệu nhưng quán triệt tuân
thủ nghiêm ngặt các quy định về liêm chính khoa học. Nổi bật với bài “Ứng dụng
trí tuệ nhân tạo trong tra cứu, tổng hợp tư liệu lịch sử: cơ hội và giới hạn”
(TS. Nguyễn Thu Hạnh).
2.3. Tuyên truyền Nghị quyết bằng những sản phẩm chuyển
đổi số cụ thể – kinh nghiệm từ hoạt động của Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử
Một kinh nghiệm đáng chú ý trong tuyên truyền, triển khai
Nghị quyết số 57-NQ/TW tại Viện Sử học là gắn nội dung tuyên truyền với những
thay đổi và sản phẩm chuyển đổi số cụ thể trong hoạt động chuyên môn, trong đó
thực tiễn chuyển đổi số của Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử là một trường hợp tiêu
biểu.
Chuyển đổi số được tiếp cận không đơn thuần là chuyển các ấn
phẩm giấy sang định dạng điện tử, mà hướng tới đổi mới cả quy trình quản trị,
xuất bản, lưu trữ và phổ biến kết quả nghiên cứu. Dưới sự chỉ đạo quyết liệt của
Ban lãnh đạo Viện, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử đã đạt tiêu chuẩn khoa học Việt
Nam năm 2026, theo Quyết định số
2244/QĐ-BKHCN ngày 28-4-2026 của Bộ
Khoa học và Công nghệ. Việc xây dựng website, số hóa các số tạp chí đã
xuất bản, chuẩn hóa dữ liệu và từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu các công trình
nghiên cứu lịch sử đã tạo điều kiện để nguồn tri thức tích lũy qua nhiều thập
niên nghiên cứu được bảo tồn, tra cứu và tiếp cận thuận lợi hơn trên môi trường
số.
Theo định hướng
đó, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử đã xác định chuyển đổi số là nhiệm vụ trọng tâm
giai đoạn 2026–2030, xây dựng lộ trình rõ: Giai đoạn 2026-2027
tập trung hoàn thiện website, chuẩn hóa quy trình tiếp nhận, phản biện, biên tập
và xuất bản trên môi trường số; triển khai DOI; chuẩn hóa dữ liệu; kiểm soát
100% bài viết bằng công cụ kiểm tra trùng lặp; và hoàn thiện các tiêu chí theo
Thông tư số 27/2025/TT-BKHCN. Giai đoạn 2028-2030 tiếp tục hoàn thiện số hóa
kho tạp chí từ năm 1954 đến nay; xây dựng Đề án Tạp chí điện tử; tăng xuất bản
tiếng Anh lên 1-2 số/năm; mở rộng Hội đồng Biên tập, mạng lưới phản biện quốc tế
và từng bước tham gia các hệ thống chỉ mục quốc tế. Viện Sử học nhấn mạnh:
“Đặt trong tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW, chuyển đổi số của Tạp
chí Nghiên cứu Lịch sử không nên chỉ hướng tới việc hình thành một tạp chí điện
tử, mà xa hơn là nâng cao khả năng tổ chức, kết nối và khai thác nguồn tri thức
sử học đã được tích lũy trong hơn bảy thập niên. Trên cơ sở đó, Tạp chí có thể
từng bước trở thành một nguồn dữ liệu học thuật quan trọng, đóng góp vào quá
trình hình thành hạ tầng tri thức số của ngành Sử học Việt Nam”[v].
Trên nền tảng kho tư liệu được tích lũy từ năm 1954 với hơn
600 số tiếng Việt và hơn 6.100 bài nghiên cứu, Tạp chí hướng tới số hóa các số
đã xuất bản, chuẩn hóa dữ liệu, triển khai định danh số DOI và từng bước kết nối
với các cơ sở dữ liệu khoa học. Qua đó, các công trình nghiên cứu lịch sử không
chỉ được lưu giữ dưới dạng ấn phẩm riêng lẻ mà có điều kiện được tổ chức, tìm
kiếm và kết nối theo tác giả, chủ đề, nhân vật, sự kiện, địa danh và thời kỳ lịch
sử. Thông qua hoạt động của Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, những yêu cầu của Nghị
quyết được cụ thể hóa thành việc đổi mới quy trình xuất bản, số hóa và tổ chức
dữ liệu khoa học, mở rộng khả năng tiếp cận các công trình nghiên cứu và từng
bước hình thành kho tri thức sử học số phục vụ nghiên cứu, giảng dạy và phổ biến
tri thức.
Thực tiễn này đem lại một cách thức tuyên truyền có sức thuyết
phục: tuyên truyền Nghị quyết thông qua chính kết quả thực hiện Nghị quyết. Cán
bộ, viên chức làm công tác tạp chí và toàn đơn vị không chỉ được nghe, đọc và nghiên cứu về chuyển đổi số mà có thể
trực tiếp nhận thấy chuyển đổi số đang làm thay đổi phương thức tổ chức hoạt động, lưu giữ
và lan tỏa tri thức sử học như thế nào. Những khái niệm tương đối mới như dữ liệu
số, định danh số, cơ sở dữ liệu khoa học hay xuất bản trên môi trường số vì thế
được cụ thể hóa bằng chính hoạt động chuyên môn gần gũi với đội ngũ nghiên cứu.
Đây cũng là cách đưa Nghị quyết số 57-NQ/TW đến gần hơn với hoạt động chuyên
môn đặc thù của Viện Sử học, biến những định hướng lớn của Nghị quyết thành những
thay đổi có thể nhận biết trong hoạt động nghiên cứu, xuất bản và phổ biến tri
thức lịch sử.
2.4. Gắn tuyên truyền Nghị quyết với nâng cao nhận thức
chính trị và trách nhiệm và phát huy năng lực của đội ngũ cán bộ nghiên cứu
Một kinh nghiệm quan trọng của Viện Sử học là không tách rời
tuyên truyền Nghị quyết số 57-NQ/TW khỏi công tác giáo dục chính trị, tư tưởng
và nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Với đặc thù là cơ quan nghiên cứu
chuyên sâu về lịch sử, việc quán triệt Nghị quyết không chỉ giúp cán bộ, đảng
viên nắm được chủ trương về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi
số mà còn nâng cao nhận thức về trách nhiệm của người làm công tác nghiên cứu
trong môi trường số.
Theo đó, nội dung Nghị quyết số 57-NQ/TW và các chủ trương về
chuyển đổi số được lồng ghép trong sinh hoạt chi bộ, học tập nghị quyết, quán
triệt các chỉ thị, kết luận của Đảng và hoạt động chuyên môn. Nhiệm vụ tuyên
truyền được cụ thể hóa, phân công tới từng phòng chuyên môn và cá nhân, gắn với
chức năng, lĩnh vực nghiên cứu. Qua đó, việc học tập Nghị quyết từng bước được
kết nối với công việc thường xuyên, giúp cán bộ nhận thức rõ chuyển đổi số
không chỉ là nhiệm vụ mà là yêu cầu đối với từng vị trí công tác.
Một kinh nghiệm khác là phát huy thế mạnh chuyên môn của Viện
để tạo nguồn thông tin khoa học, chính thống phục vụ tuyên truyền và đấu tranh
với những quan điểm sai trái, xuyên tạc lịch sử trên không gian số. Thông qua các đề tài, sách chuyên khảo, bài báo khoa học và
các công trình nghiên cứu, Viện cung cấp những cứ liệu khoa học có căn cứ, tạo
nguồn nội dung phục vụ tuyên truyền. Cùng với hình thức công bố khoa học truyền
thống, Viện từng bước mở rộng truyền thông qua Trang thông tin điện tử, các
chuyên mục “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng”, “Chuyển đổi số” và các sản phẩm
truyền thông phù hợp; đồng thời phối hợp với các cơ quan báo chí, trang thông
tin điện tử của Viện Hàn lâm và Ban Chỉ đạo 35 để tăng cường phổ biến kết quả
nghiên cứu. Kết quả đáng chú ý là tri thức lịch sử không chỉ được tạo ra và lưu
giữ trong các công trình nghiên cứu mà từng bước được chuyển hóa thành nguồn nội
dung phục vụ truyền thông trên môi trường số.
3. Một số bài học kinh nghiệm
Từ thực tiễn tuyên truyền Nghị quyết số 57-NQ/TW tại Viện Sử
học, có thể rút ra bốn bài học chủ yếu:
Một là, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất, thường
xuyên và trách nhiệm của người đứng đầu. Công tác tuyên truyền cần được xác định
là nhiệm vụ thường xuyên, có kế hoạch, phân công rõ người, rõ việc, rõ trách
nhiệm và gắn với kiểm tra kết quả thực hiện.
Hai là, tuyên truyền phải gắn với đặc thù chuyên môn và nhiệm
vụ thực tiễn của đơn vị. Đối với Viện Sử học, nội dung Nghị quyết cần được cụ
thể hóa trong nghiên cứu, số hóa tư liệu, quản trị dữ liệu, xuất bản khoa học
và phổ biến tri thức lịch sử, qua đó giúp cán bộ thấy rõ Nghị quyết gắn trực tiếp
với công việc của mình.
Ba là, đổi mới phương thức tuyên truyền theo hướng lấy sản
phẩm và kết quả thực hiện làm minh chứng, từng bước chuyển từ “tuyên truyền về
Nghị quyết” sang “tuyên truyền bằng kết quả thực hiện Nghị quyết”.
Bốn là, phát huy vai trò chủ thể của đội ngũ cán bộ nghiên cứu.
Cán bộ không chỉ là người tiếp nhận Nghị quyết mà cần trực tiếp nghiên cứu, viết
bài, phổ biến tri thức khoa học; qua đó vừa nâng cao hiệu quả tuyên truyền, vừa
cung cấp nguồn thông tin chính thống, có căn cứ khoa học phục vụ giáo dục chính
trị, tư tưởng và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
*
Công tác tuyên truyền Nghị quyết số 57-NQ/TW tại Viện Sử học
là một nhiệm vụ chính trị quan trọng, có ý nghĩa chiến lược trong bối cảnh đất
nước ta đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển đổi số quốc gia.
Bằng việc quán triệt sâu sắc nội dung, quan điểm chỉ đạo của Đảng, của Viện Hàn
lâm; xây dựng kế hoạch tuyên truyền bài bản; đổi mới hình thức, phương pháp
tuyên truyền; gắn tuyên truyền với giáo dục chính trị, tư tưởng, bảo vệ nền tảng
tư tưởng của Đảng; Viện Sử học đã đạt được những kết quả bước đầu đáng ghi nhận.
Thời gian tới, Viện Sử học sẽ tiếp tục phát huy những kinh nghiệm đã có, đồng
thời khắc phục những hạn chế, tồn tại về cơ sở hạ tầng, góp phần đưa Nghị quyết 57-NQ/TW thực sự
đi vào cuộc sống.
Tài liệu tham khảo
Bộ Chính trị
(2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học,
công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia
PGS.TS. Võ Xuân
Vinh (2026), “Chuyển đổi số trong nghiên cứu lịch sử: Từ nhận thức đến hành
động”,
https://viensuhoc.vass.gov.vn/chuyen-doi-so/chuyen-doi-so-trong-nghien-cuu-lich-su-tu-nhan-thuc-den-hanh-dong-579770,
truy cập truy cập
11/9/2026
Quang Lê (2026), “100 ngày tháo gỡ điểm nghẽn, tạo
chuyển biến thực chất trong chuyển đổi số tại Viện Sử học”,
https://viensuhoc.vass.gov.vn/chuyen-doi-so/100-ngay-thao-go-diem-nghen-tao-chuyen-bien-thuc-chat-trong-chuyen-doi-so-tai-vien-su-hoc-579454,
truy cập 11/9/2026.
TS. Nguyễn Lan Dung (2026), “Số hóa tài liệu trong
nghiên cứu lịch sử - Những vấn đề đặt ra”,
https://viensuhoc.vass.gov.vn/chuyen-doi-so/so-hoa-tai-lieu-trong-nghien-cuu-lich-su-nhung-van-de-dat-ra-579505, truy cập truy cập 11/9/2026
TS. Lê Thị Thu Hằng (2026), “Chuyển đổi số
trong hoạt động của Tạp chí Khoa học”,
https://viensuhoc.vass.gov.vn/chuyen-doi-so/chuyen-doi-so-trong-hoat-dong-cua-tap-chi-khoa-hoc-580101, truy cập truy cập 11/9/2026
Viện Sử học (2026), Đề án hoạt động Tạp chí Nghiên
cứu Lịch sử theo hướng đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030,
Tài liệu lưu Viện
Sử học.
Kế hoạch số 229-KH/VHKHXHVN, ngày
28/8/2026 về Phát động Phong
trào thi đua cao điểm lập thành tích chào mừng Kỷ niệm 73 năm Ngày thành lập Viện
Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (02/12/1953 - 02/12/2026),
Viện Sử học (2026), Quyết định Ban hành Kế hoạch số hóa tài liệu của Viện Sử học năm 2026 và lộ trình giai đoạn 2027-2030, Tài liệu lưu Viện Sử học.
Hoàng Thị Thanh
Nga, Triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW tại Viện Sử học: Từ cụ thể hóa chủ
trương đến đổi mới phương thức hoạt động, https://viensuhoc.vass.gov.vn/chuyen-doi-so/trien-khai-nghi-quyet-so-57-nq-tw-tai-vien-su-hoc-tu-cu-the-hoa-chu-truong-den-doi-moi-phuong-thuc--580502, truy cập ngày 11/9/2026
Hoàng Thị Thanh
Nga, Góc nhìn
lịch sử: Nghị quyết 57-NQ/TW và yêu cầu đổi mới động lực phát triển đất nước
trong kỷ nguyên mới, https://viensuhoc.vass.gov.vn/chuyen-doi-so/goc-nhin-lich-su-nghi-quyet-57-nq-tw-va-yeu-cau-doi-moi-dong-luc-phat-trien-dat-nuoc-trong-ky-nguye-579437, truy cập 11/9/2026
TS.
Nguyễn Thu Hạnh, Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong tra cứu, tổng hợp tư liệu lịch
sử: cơ hội và giới hạn, https://viensuhoc.vass.gov.vn/chuyen-doi-so/ung-dung-tri-tue-nhan-tao-trong-tra-cuu-tong-hop-tu-lieu-lich-su-co-hoi-va-gioi-han-579907, truy cập 11/9/2026
TS.
Trương Thùy Dung, Chuyển đổi số gắn với cải cách hành chính trong các viện
nghiên cứu: Nhìn từ thực tiễn Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, https://viensuhoc.vass.gov.vn/chuyen-doi-so/chuyen-doi-so-gan-voi-cai-cach-hanh-chinh-trong-cac-vien-nghien-cuu-nhin-tu-thuc-tien-vien-han-lam--580205, truy cập 11/9/2026
TS.
Ngô Hoàng Nam, Nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính trị với nhiệm vụ chuyển đổi
số trong nghiên cứu lịch sử, https://viensuhoc.vass.gov.vn/chuyen-doi-so/nghi-quyet-24-nq-tw-cua-bo-chinh-tri-voi-nhiem-vu-chuyen-doi-so-trong-nghien-cuu-lich-su-580178, truy cập 11/9/2026
[i] Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá
phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, tr.
1-2
[iii] Quang Lê (2026), “100 ngày tháo gỡ điểm nghẽn, tạo chuyển biến thực
chất trong chuyển đổi số tại Viện Sử học”, https://viensuhoc.vass.gov.vn/chuyen-doi-so/100-ngay-thao-go-diem-nghen-tao-chuyen-bien-thuc-chat-trong-chuyen-doi-so-tai-vien-su-hoc-579454,
truy cập 11/9/2026.
[v] TS. Lê Thị Thu Hằng (2026), “Chuyển đổi số trong hoạt động của Tạp
chí Khoa học”,
https://viensuhoc.vass.gov.vn/chuyen-doi-so/chuyen-doi-so-trong-hoat-dong-cua-tap-chi-khoa-hoc-580101,
truy cập truy cập 11/9/2026