ĐỒNG CHÍ TRẦN QUÝ KIÊN VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM VÀ QUÊ HƯƠNG HÀ NỘI
Hoạt động và cống hiến của đồng chí Trần Quý Kiên với cách mạng Việt Nam và quê hương Hà Nội là rất to lớn. Với những cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, đồng chí Trần Quý Kiên đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều Huân, Huy chương cao quý: Huân chương kháng chiến hạng Nhất (1961), Huân chương Lao động hạng Nhất (1965), Huân chương Hồ Chí Minh (truy tặng, 2003), Huân chương Sao vàng (truy tặng, 2018). Tên của đồng chí Trần Quý Kiên còn được dùng để đặt tên đường, phố ở Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Huế, Thành phố Đà Nẵng.
Cuộc
đời và sự nghiệp cách mạng của đồng chí Trần Quý Kiên, người cộng sản chân
chính, một nhà lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam, là tấm gương sáng, mẫu mực để các thế hệ người Việt Nam, đặc biệt là
cán bộ, đảng viên và nhân dân Thủ đô noi theo. Trong bài viết này, chúng tôi
tập trung đề cập những yếu tố về truyền thống gia đình, dòng họ, quê hương, bối
cảnh đất nước... đã hình thành nên nhân cách, ý chí, lòng yêu nước của đồng chí
Trần Quý Kiên và kiên trì đấu tranh, tham gia lãnh đạo nhân dân, quyết tâm đánh
đuổi kẻ thù xâm lược. Qua bài viết này, chúng tôi hi vọng sẽ làm sáng tỏ thêm
về cuộc đời và hoạt động cách mạng của đồng chí Trần Quý Kiên với sự nghiệp
cách mạng của Đảng và dân tộc trong giai đoạn 1930-1945.
1. Những yếu tố góp phần hình thành tinh thần yêu
nước và ý chí cách mạng của đồng chí Trần Quý Kiên
Về hoàn cảnh lịch sử, Hà Nội là mảnh đất ngàn năm
văn hiến, nơi sản sinh ra biết bao người con ưu tú, đóng góp cho sự nghiệp xây
dựng quê hương, đất nước. Một trong những gương mặt ưu tú đó là đồng chí Trần
Quý Kiên - người chiến sĩ cộng sản kiên trung, một trong những cán bộ lãnh
đạo tiền bối của Đảng và cách mạng Việt Nam. Trong cuộc đời và sự nghiệp cách
mạng của đồng chí Trần Quý Kiên có một số yếu tố đã tác động đến sự hình thành
nhân cách, ý chí cách mạng của đồng chí, trước hết là bối cảnh lịch sử, truyền
thống quê hương, hoàn cảnh gia đình.
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta ở Đà
Nẵng. Khi đánh chiếm Hà Nội lần thứ nhất (năm 1873), quân Pháp đã vấp phải tinh
thần kháng cự quyết liệt của nhân dân Hà Nội và bị tổn thất nặng nề. Phải chịu
nhiều tổn thất và mất một thời gian dài thực dân Pháp mới từng bước chiếm và
bình định được Hà Nội cùng các tỉnh xung quanh. Được phong trào yêu nước tại
các địa phương cổ vũ, phong trào chống Pháp cuối thế kỷ XIX ở Hà Nội và Bắc Kỳ
diễn ra mạnh mẽ, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia.
Tuy
bị thực dân Pháp khủng bố dữ dội, nhưng phong trào yêu nước ở Hà Nội đã gây một
tiếng vang lớn, tạo tiền đề quan trọng cho bước phát triển mới của phong trào
đấu tranh cách mạng những năm tiếp theo... Trong những năm đầu thế kỷ XX, nhiệm
vụ đánh đuổi thực dân Pháp, giành lại độc lập cho dân tộc được đặt ra cấp thiết
cho mỗi người dân yêu nước, trong đó có Trần Quý Kiên.
Về truyền thống
quê hương, Trần Quý Kiên
tên thật là Đinh Xuân Nhạ. Dòng họ Đinh Xuân của Trần Quý Kiên quê gốc ở làng
Dực, tổng Phượng Vũ, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay là
làng Phượng Vũ, xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên, Hà Nội).
Theo
tài liệu thần tích, sắc phong, làng Phượng Vũ, tổng Phượng Vũ, phủ Thường Tín,
tỉnh Hà Đông năm 1938, có tên nôm là Phượng Dực. Đây là vùng đất có lịch sử lâu
đời với truyền thống yêu nước, đấu tranh được hình thành từ rất sớm.
Sách
Đồng Khánh địa dư chí viết vào khoảng
cuối thế kỷ XIX cho biết xã Phượng Dực thuộc tổng Phượng Dực, huyện Thượng
Phúc, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Nội.
Cuốn Tên làng xã và địa dư các tỉnh Bắc
Kỳ của tác giả Ngô Vi Liễn viết về tổng Phượng Vũ (phủ Thường Tín, tỉnh Hà
Đông), như sau: “Phượng Vũ: Đồng Quan, Hòa Mỹ, Phù Bật (Kẻ Vát), Phù Túc,
Phượng Vũ (làng Dực), Tân Độ, Tiến Động, Trình Viên, Xuân La (Chà Xuân)”.
Còn sách Lịch sử cách mạng của Đảng bộ và
nhân dân Phượng Dực 1945-1954 viết: “Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, xã
gồm 4 làng: Phượng Vũ, Đồng Quan, Tiến Động và Xuân La, thuộc tổng Phượng Vũ,
phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông”.
Xã
Phượng Dực, quê hương đồng chí Trần Quý Kiên, không chỉ
có bề dày lịch sử lâu đời và truyền thống yêu nước, mà còn có tiếng là vùng đất
văn hiến, truyền thống hiếu học, khoa bảng từ lâu. Theo sách Phượng Dực đăng khoa lục, trong 12 dòng họ ở Phượng Dực, người thi đỗ thuộc các họ Bùi, họ Chu, họ Doãn,
họ Dương, họ Đinh, họ Đỗ, họ Lưu, họ Nghiêm, họ Nguyễn, họ Phạm, họ Trương với
tổng số 250 người.
Đầu
thế kỷ XX, Hà Nội cũng như cả nước đang dồn nén những mâu thuẫn lớn, đòi hỏi
phải được giải quyết. Cũng chính vào thời điểm ấy, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc là
người Việt Nam yêu nước đầu tiên đã đến được với chủ nghĩa Mác - Lênin và tìm
thấy trong học thuyết vĩ đại đó câu trả lời duy nhất đúng cho những trăn trở
của dân tộc Việt Nam. Dưới tác động của Cách mạng tháng Mười Nga, sau khi được
tiếp thu học thuyết Mác - Lênin, trở thành người cộng sản, lãnh tụ Nguyễn Ái
Quốc đã tích cực hoạt động truyền bá tư tưởng cách mạng vào Việt Nam, xúc tiến
chuẩn bị các điều kiện thành lập Đảng Cộng sản.
Hà
Nội - nơi đồng chí Đinh Xuân Nhạ - Trần Quý Kiên sinh ra, là trung tâm đầu não
cai trị của chủ nghĩa thực dân Pháp, cũng đồng thời trở thành trung tâm của
phong trào yêu nước và cách mạng. Trong bối cảnh lịch sử đó, một thế hệ thanh
niên yêu nước, tiếp thu truyền thống đấu tranh bất khuất của ông cha đã quy tụ
về đây để tìm đường đánh Pháp. Chính họ là những người có công đưa hệ tư tưởng
vô sản vào trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Hà Nội đã trở
thành ngọn cờ, đi đầu trong cuộc đấu tranh cho thắng lợi của tư tưởng vô sản
trong phong trào dân tộc ở nước ta lúc đó.
Truyền thống gia đình, dòng họ đã
hun đúc quyết tâm chống Pháp để giành độc lập cho nước nhà. Vào những năm đầu thế kỷ XX, do cuộc sống gia đình khó
khăn, cụ Đinh Xuân Chí cùng vợ là Ngô Thị Nghị
- thân sinh của đồng chí Trần Quý Kiên và gia đình phải phiêu bạt từ quê ra nội
thành Hà Nội sinh sống.
Lúc đầu, gia đình thuê trọ nhà số 58 đường Yên Phụ
nay thuộc phường Yên Phụ, quận Ba Đình (theo tài liệu của Pháp, nơi ở của Đinh
Xuân Nhạ là 58 phố Thạch An, Hà Nội. Nghề nghiệp: lơ xe...).
Tại đây, năm 1911, Đinh Xuân Nhạ (sau này lấy tên là Trần Quý Kiên), đã được
sinh ra và lớn lên, có nhiều hoạt động đóng góp cho phong trào cách mạng của
Thành phố Hà Nội.
Về
gia đình, sau khi định cư tại Hà Nội, “Gia đình nửa làm thợ nửa buôn bán nhỏ.
Mẹ và các chị buôn bán. Cha làm cai trông nom công nhân chữa cầu, anh và em thì
làm thợ”.
Đến tuổi học hành, Đinh Xuân Nhạ được cha mẹ
cho đi học ở Trường Tiểu học Yên Phụ (nay là
Trường Trung học cơ sở Mạc Đĩnh Chi). Cậu
học trò nghèo nhưng hiếu học Đinh Xuân Nhạ dần làm quen và kết thân với nhiều
bạn đồng học có tinh thần yêu nước tiến bộ trong đó có Nguyễn Đạt Phác - người
sau này đã sớm tham gia vào tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở
Hà Nội.
Dấu
ấn đầu tiên in đậm nét phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên Hà Nội
những năm 1925 - 1927, là cuộc đấu tranh đòi ân xá cụ Phan Bội Châu và truy
điệu cụ Phan Châu Trinh - hai nhà yêu nước lớn đương thời. Đinh Xuân Nhạ đã
hăng hái tham gia phong trào này. Nhớ lại sự kiện này, đồng chí Trần Quý Kiên
sau này đã viết: “Còn nhỏ đi học, mẹ tôi hay bắt đọc truyện Trung Quốc cổ như
Tam quốc, Thủy hử... nên tôi có óc anh hùng nghĩa hiệp...”, “Hai cụ Lương Văn
Can và Phan Chu Trinh chết và do phong trào xuất dương, đế quốc Pháp bắt cụ
Phan Bội Châu làm tôi có tinh thần yêu nước”.
Bị
buộc phải thôi học do tham gia phong trào đấu tranh của học sinh Hà Nội, Đinh
Xuân Nhạ xin vào làm thợ điện rồi thợ máy, cuộc sống làm cho đồng chí ngày một
trưởng thành.
Trong Lý lịch tự khai ông viết: “Khi
16 tuổi làm thợ điện, được ngót 2 năm. Sau làm thợ máy được 5, 6 tháng rồi bị
bắt và làm cách mạng chuyên nghiệp cho đến ngày nay”. Trong thời gian làm thợ,
chế độ bóc lột thợ thậm tệ của bọn thực dân làm ông càng có thêm tinh thần yêu
nước và ý chí căm thù quân xâm lược.
Cuối
năm 1929 đầu năm 1930, khi phong trào cách
mạng lên cao, sự phát triển mạnh của các tổ chức cộng sản tiền thân của Đảng
Cộng sản Việt Nam và hoạt động mạnh thiên về bạo động của Việt Nam Quốc dân
Đảng đã có ảnh hưởng đến người thanh niên Đinh Xuân Nhạ. Ông đã được đồng chí
Nguyễn Đạt Phác “giác ngộ” để đến với Đảng. Sau này, ông thừa nhận: “Do tinh
thần yêu nước và sự bóc lột của chủ trong khi làm thợ nên tôi rất dễ giác ngộ
cộng sản... Tôi được Đảng giao cho những việc như dán biểu ngữ, phát truyền
đơn, treo cờ đỏ, tuyên truyền xung phong... Tháng 5-1930, tôi được tổ chức kết
nạp vào Đảng, tháng 8, được tuyên bố chính thức”. Như vậy, đồng chí Trần Quý
Kiên là một trong những thanh niên ưu tú đầu tiên tại Hà Nội được kết nạp vào
Đảng (khi mới 19 tuổi).
Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời
vào đầu năm 1930, ngày 17-3-1930, tại nhà số 42 phố Hàng Thiếc, Ban Chấp hành
lâm thời của Thành Đảng bộ Hà Nội được thành lập, gồm 3 đồng chí: Đỗ Ngọc Du
(Bí thư), Nguyễn Ngọc Vũ và Lều Thọ Nam. Cuối tháng 4-1930, đồng chí Đỗ Ngọc
Du, Bí thư Thành ủy lâm thời, được Trung ương điều đi công tác nước ngoài.
Tháng 6-1930, đồng chí Trần Văn Lan, Ủy viên Trung ương Đảng triệu tập cuộc họp
ở 177 phố Hàng Bông để tổ chức lại Thành ủy. Thành ủy Hà Nội được chính thức
thành lập do đồng chí Nguyễn Ngọc Vũ làm Bí thư và 2 ủy viên là Lê Đình Tuyển
và Đỗ Danh Cưu. Văn phòng Thành ủy do đồng chí Tạ Quang Sần phụ trách.
Sự kiện thành lập Đảng bộ Đảng Cộng sản
Việt Nam Thành phố Hà Nội là một sự kiện có ý nghĩa quan trọng đối với phong
trào cách mạng của Thủ đô. Đó là kết quả kết hợp giữa phong trào công nhân,
phong trào yêu nước của Hà Nội trong những năm sôi sục cách mạng trước và sau
cuộc vận động thành lập Đảng.
Trong hoàn cảnh đó, để thực hiện chủ
trương của Trung ương Đảng và Xứ ủy Bắc Kỳ về việc đẩy mạnh đấu tranh, củng cố
phát triển tổ chức, tuyên truyền ảnh hưởng của Đảng, chống khủng bố của kẻ thù,
Thành ủy đã quyết định thành lập Đội tuyên truyền xung phong, tập trung xây
dựng cơ sở Đảng và vận động quần chúng công nhân, nông dân và các giới trong
thành phố... Đội tuyên truyền xung phong
gồm các đồng chí: Lê Đình Tuyển, Đinh Xuân Nhạ (Trần Quý Kiên), Giang Đức
Cường...; Phụ trách vận động quần chúng: Công nhân: gồm các đồng chí Lê Đình
Tuyển, Đỗ Đình Cưu, Đỗ Danh Vưu; Nông dân: Nguyễn Ngọc Vũ; Học sinh: Lều Thọ
Nam; Sinh viên và binh lính: Đặng Xuân Khu; Thanh niên cộng sản: Hoàng Ngọc
Bảo, Lã Phạm Thái.
Có thể nói, đội tuyên truyền xung phong chính là tổ chức tiền thân của Ban
Tuyên huấn Thành ủy Hà Nội sau này.
Thực
hiện sự chỉ đạo của tổ chức, nhằm góp phần chia lửa với phong trào Xô viết Nghệ
Tĩnh đang bị thực dân Pháp khủng bố dã man, ngày 11-10-1930, đồng chí Trần Quý
Kiên trực tiếp phụ trách một tổ tuyên truyền xung phong mang cờ, biểu ngữ đến
treo trước cổng trường Bách Nghệ phố Ca-rô (nay là phố Lý Thường Kiệt). Nhằm
vào lúc tan học, trước đông đảo học sinh đổ ra cổng trường, đồng chí đứng lên
dõng dạc diễn thuyết kêu gọi mọi người “ủng hộ Xô viết - Nghệ Tĩnh”. Truyền đơn
được rải khắp cổng trường, học sinh phấn khởi nhiệt tình hưởng ứng. Đồng chí
Trần Quý Kiên sau này viết: “Tháng 10 (1930), thì bị bắt lúc đang treo cờ đỏ
trong cuộc mít tinh công khai trước cửa trường Bách Nghệ Hà Nội. Bị bắt quả
tang nên bị tra tấn nhiều nhưng tôi giữ vững tinh thần, không khai và không
nhận một ai, một mình một vụ... Trước và sau lúc tôi bị bắt, các đồng chí Giang
Đức Cường, Lã Phạm Thái, Lê Đình Tuyển... đều bị bắt”.
Khi
vừa mới thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo phong trào cách mạng
trong nước phát triển mạnh mẽ. Để đối phó lại, thực dân Pháp tiến hành khủng bố
rất ác liệt hòng phá vỡ phong trào cách mạng trong cả nước. Tổ chức Đảng, tổ
chức quần chúng liên tục bị đánh phá và tổn thất nhiều. Các đồng chí lãnh đạo
của Trung ương, Xứ ủy lần lượt bị bắt. Nhiều đồng chí cán bộ của Thành ủy Hà
Nội bị thực dân Pháp bắt cùng với Đinh Xuân Nhạ như: Nguyễn Ngọc Vũ, Lê Đình
Tuyển, Đặng Xuân Khu, Giang Đức Cường, Hoàng Ngọc Bảo...
Sau
một thời gian bị giam cầm, đánh đập tại nhà
tù Hỏa Lò, đồng chí Đinh Xuân Nhạ bị Hội đồng đề hình Hà Nội kết án 10 năm tù
về tội “mưu đồ phản loạn”. Trong
hồi ký Hạt máu, đồng chí Trần Bảo, một trong số những tù nhân bị đưa ra xét xử khi
ấy viết: “Chúng tôi ra tòa lần này có giáo Sần, Trụ, Khôi, Đĩnh, Nhạ (Trần Quý
Kiên), Cân, Thuần... và tôi”. Theo tài liệu của Pháp về Lý lịch của phạm nhân Đinh Xuân Nhạ số 289
được đề nghị ân xá, ở nhà tù Sơn La (ngày 31-10-1933), ông bị kết án 10 năm
tù. Ngày bắt đầu chịu án: 25-10-1930... Nơi chịu án: Nhà tù Sơn La.
Thời
gian đầu, đồng chí Trần Quý Kiên bị giam ở nhà tù Hỏa Lò để chờ ngày xét xử và
kết án. Cuối năm 1931, do số tù chính trị ở nhà tù Hỏa Lò đã quá đông, thực dân
định đưa đồng chí Trần Quý Kiên cùng hơn 70 tù chính trị tới nhà lao Hải Phòng.
Nhưng tại đây đã xảy ra cuộc đấu tranh “lưu huyết”, “làm 4 người chết và 5
người bị thương, mang đi nhà thương rồi sau chết nốt”.
Sau đó, vì chưa có tàu đi Côn Đảo, cả đoàn tù bị cùm chân suốt một tháng, rồi lại bị đưa về Hỏa Lò.
Năm 1932, tại Hỏa Lò, đồng chí Trần Quý
Kiên cùng với đồng chí Đặng Xuân Khu (tức Trường Chinh) cùng trong Đảng bộ Hà
Nội làm báo Cộng sản, cùng với các
đồng chí Trần Bảo, Bùi Vũ Trụ... để tuyên truyền và giữ vững khí tiết cách
mạng. Theo chủ trương của Chi bộ nhà tù
Hỏa Lò, báo Lao tù đỏ (sau đổi thành Lao tù tạp chí)...
được xuất bản, đồng chí Đinh Xuân Nhạ là người viết chữ đẹp, nên được phân công
chép báo. Theo hồi ký “Hạt máu” của đồng chí Trần Bảo: “Tòa soạn báo
làm việc dưới gầm sàn gỗ vào những lúc ánh sáng nhiều nhất trong ngày, đủ để
trông thấy chữ mà viết. Anh Đặng Xuân Khu vừa soạn bài, vừa viết sách dưới đó,
tôi làm nhiệm vụ đứng gác bọn sếp ngục cho anh viết. Chính ở trong gầm sàn này
đã ra đời những tài liệu công vận, nông vận, ABC cộng sản (tức cộng sản sơ
giải), hai chiến thuật, bệnh ấu trĩ của người cộng sản... Bản thảo viết ra được
những tay chữ đẹp như Khôi, Trụ, Nhạ, Tuân chép lại vào những tập giấy cuộn
thuốc lá, anh em truyền tay nhau xem và gửi ra các cơ sở bên ngoài... Tôi và
Nhạ được giao nhiệm vụ tổ chức cơ quan giữ gìn sách báo. Tôi làm “kho” và Nhạ
làm “thư viện”.
Tháng
2-1933, đồng chí Đinh Xuân Nhạ cùng với 210 người tù Cộng sản và Quốc dân Đảng từ nhà tù Hỏa Lò bị đưa
lên giam ở nhà tù Sơn La. Đoàn tù tới Sơn La vào ngày 3-3-1933. Trong phiếu nhận dạng của tù nhân Đinh Xuân Nhạ, ghi số tù là 289. Đến khi
Toàn quyền Đông Dương Pasquier lên Sơn La, trước sự đấu tranh quyết liệt của
những người tù chính trị, lại được đông đảo nhân dân Đông Dương và dư luận tiến
bộ Pháp ủng hộ, nhà cầm quyền thực dân Pháp buộc phải ký lệnh giảm hoặc xóa bỏ
một số án tử hình, đưa một số tù chính trị ở ngục Sơn La về giam tại Hỏa Lò (Hà
Nội). Ngày 17-11-1933, đoàn tù bắt đầu khởi hành từ Sơn La về Hà Nội.
Sau
đó, trước khí thế cách mạng và đấu tranh của nhân dân ta, thực dân Pháp lo sợ,
đã quyết định chuyển một số tù chính trị ở nhà tù Hỏa Lò được xếp vào loại nguy
hiểm, đưa ra Côn Đảo; còn những người ốm yếu thì đưa lên Sơn La, trong số đó có
đồng chí Trần Quý Kiên. Trong hồi ký “Trường
học cuộc đời” của đồng chí Đặng Việt Châu viết: “Chúng tôi đến Sơn La ngày
4-6-1935. Đến nơi vào khoảng 4 giờ chiều đã gặp các anh em đi chuyến trước
(ngày 9-5-1935) ở đó... Các đồng chí Hào Lịch, Nguyễn Văn Năng, Nguyễn Mạnh
Hồng, Trần Quý Kiên... thấy chúng tôi, vừa mừng vừa căm tức về thủ đoạn xảo trá
của đế quốc”.
Những
năm tháng ở tù cũng là những tháng năm được sống hòa mình với anh em đồng chí
thân yêu. Những tấm gương bất khuất hy sinh đến hơi thở cuối cùng vì nước, vì
dân của nhiều đồng chí đã động viên, cổ vũ, tiếp thêm sức mạnh chiến đấu cho
trái tim nhiệt thành của đồng chí Trần Quý Kiên. Khi ở trong tù, đồng chí Trần
Quý Kiên đã tham gia tất cả các cuộc tranh đấu. Lúc nào đồng chí cũng ở trong
Chi bộ, trong tổ chức quần chúng của nhà tù,
rất chịu khó học văn hóa và chính trị. Đồng chí được đồng chí Đặng Xuân
Khu và nhiều đồng chí khác huấn luyện về giai cấp đấu tranh và chủ nghĩa Mác -
Lênin.
Giữa
năm 1936, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, phong trào đấu tranh
mạnh mẽ của nhân dân đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình, đòi trả tự do cho
tù chính trị phát triển mạnh, buộc thực dân Pháp phải ân xá cho nhiều tù chính
trị ở Đông Dương. Tháng 8-1936, các đồng chí Trần Quý Kiên, Đặng Xuân Khu và
hàng trăm tù chính trị khác được trả tự do. Sở Mật thám Hà Nội và các tỉnh,
thành khác tuyên bố lệnh quản thúc, rồi cho tù chính trị được trở về quê hương.
Sau
khi được trả tự do, chỉ trong một thời gian ngắn, nhiều chiến sĩ cộng sản trở
về Hà Nội tiếp tục hoạt động, như: Nguyễn Văn Cừ, Lương Khánh Thiện, Khuất Duy
Tiến, Trần Huy Liệu... Từ nhà tù Sơn La về, có các đồng chí: Đặng Xuân Khu,
Đinh Xuân Nhạ, Bùi Vũ Trụ...
Như vậy, điểm qua vài nét về bối cảnh lịch sử, truyền thống gia đình, quê
hương thời kỳ đầu
hoạt động cách mạng sôi nổi (1930-1936) của đồng chí Trần Quý Kiên, có thể
khẳng định: Được sinh ra và lớn lên từ một vùng quê ngoại thành Hà Nội, có lịch
sử lâu đời, giàu truyền thống cách mạng, ngay từ những năm tuổi còn rất trẻ,
đồng chí Trần Quý Kiên đã có một ý chí và nghị lực đáng khâm phục. Vượt lên
hoàn cảnh, số phận, cần cù lao động, tự rèn luyện, học hỏi để kiếm sống và sớm
giác ngộ cách mạng, đồng chí đã sớm xác định rõ lý tưởng cộng sản, hăng hái, nhiệt huyết tham gia cách mạng và sau đó trở thành nòng cốt lãnh
đạo các phong trào đấu tranh chống ách đô hộ của thực dân Pháp.
2. Nhà lãnh đạo tài năng của Xứ ủy
Bắc Kỳ và Thành ủy Hà Nội trong những năm 1936-1939
Cuối
năm 1936, các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Trần Quý Kiên và Nguyễn Văn Minh hẹn nhau họp tại một địa điểm gần sân bay Gia Lâm
nhằm trao đổi về việc củng cố và phát triển các cơ sở đảng, cơ sở cách mạng;
tại cuộc họp, các đồng chí bàn nhau “thành lập cơ quan lãnh đạo lâm thời của Xứ
ủy Bắc Kỳ và Thành ủy Hà Nội, lấy tên là Ủy ban sáng kiến”.
Ba
đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Trần Quý Kiên và Nguyễn Văn Minh lại bàn cách thành lập
một Ủy ban hành động làm nhiệm vụ củng cố tổ chức Đảng ở Bắc Kỳ và liên lạc với
các đồng chí cũ ở nhà tù về. Sau đó, Ủy ban sáng kiến được bổ sung thêm nhiều
cán bộ, trong đó có nhiều đồng chí giàu kinh nghiệm hoạt động cách mạng,
đồng thời trực tiếp tham gia khôi phục và phát triển các cơ sở đảng ở khu vực
Hà Nội và các vùng phụ cận
(Hà Đông, Sơn Tây, Hải Phòng...).
Tháng
3-1937, Xứ ủy Bắc Kỳ chính thức được lập lại, gồm các đồng chí: Hoàng Tú Hưu (Hoàng
Văn Nọn, Thiết) làm Bí thư,
Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Văn Minh, Lương Khánh Thiện, Đặng Xuân Khu, Tô Hiệu, Hạ
Bá Cang (Hoàng Quốc Việt), Trần Quý Kiên.
Cũng
tháng 3-1937, Thành ủy Hà Nội chính thức được lập lại do đồng chí Lương Khánh
Thiện, Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ trực tiếp làm Bí thư. Tham gia Thành ủy có các
đồng chí: Trần Quý Kiên, Nguyễn Văn Phúc, Nguyễn Minh Đạt (tức Lộc, Ái), Tạ
Quang Sần, Nguyễn Trọng Cảnh (tức Trần Quốc Hoàn). Phạm vi hoạt động của Đảng
bộ bao gồm cả Sơn Tây và Hà Đông.
Giữa
lúc phong trào công khai đang phát triển mạnh mẽ, Đảng vẫn rất chú trọng các cơ
sở liên lạc bí mật ở Hà Nội làm mạch máu giao thông và để che giấu cán bộ khi
cần thiết. Chính đồng chí Trần Quý Kiên và Tạ Quang Sần đã thuê một cửa hiệu ở
gần bến Nứa, đầu cầu Long Biên, ngụy trang dưới hình thức cửa hàng sửa chữa xe
đạp, song thực chất là địa điểm liên lạc đầu mối hết sức quan trọng giữa Hà Nội
với các tỉnh phía Bắc sông Hồng...
Được sự quan
tâm chỉ đạo trực tiếp của Xứ ủy Bắc Kỳ, ngay sau khi thành lập lại, Thành ủy Hà
Nội đã khẩn trương bắt tay vào xây dựng và phát triển cơ sở đảng; vận động quần
chúng tích cực triển khai, chắp mối bắt liên lạc với những đảng viên đang hoạt
động ở Hà Nội; điều động thêm cán bộ, đảng viên tăng cường vào các xí nghiệp,
nhà máy, các ngành nghề và về các vùng nông thôn ngoại thành. Thành ủy thường
xuyên tổ chức các lớp huấn luyện, bồi dưỡng, đào tạo cán bộ và kết nạp đảng
viên mới.
Bước sang năm
1938, phong trào cách mạng ở Bắc Kỳ và cả nước, đặc biệt là phong trào đấu
tranh đòi dân sinh, dân chủ của công nhân ở Hà Nội có bước phát triển mạnh, đòi
hỏi Thành ủy Hà Nội phải củng cố, kiện toàn, để có một tổ chức thực sự vững
mạnh và bổ sung những đồng chí ưu tú, xuất sắc, hoạt động trực tiếp từ phong
trào công nhân trên địa bàn. “Cơ quan lãnh đạo Thành ủy được kiện toàn, đồng
chí Trần Quý Kiên là Bí thư Thành ủy; bổ sung thêm hai đảng viên là các đồng
chí đang hoạt động từ phong trào công nhân là đồng chí Nguyễn Văn Trân và đồng
chí Văn Tiến Dũng vào Thành ủy”.
Trong hồi ký Đi theo con đường của Bác của Đại tướng Văn Tiến Dũng đã nói đến
việc được đồng chí Trần Quý Kiên, Bí thư Thành ủy Hà Nội kết nạp vào Đảng, và
được đồng chí Nhạ dẫn đến gặp Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ: “Anh Nhạ (Trần Quý
Kiên) lúc đó mở một cửa hàng sửa xe đạp ở gần Bến Nứa, đường bờ sông... Hoàn
toàn không một ai lúc đó, nếu không phải là đảng viên có trách nhiệm, có thể
biết được đây lại là một đồng chí trong Thường vụ Thành ủy Hà Nội (Thành ủy Hà
Nội vừa mới được khôi phục lại năm trước). Anh Nhạ phụ trách về tổ chức, chuyên
đi xây dựng lại và tổ chức mới những chi bộ Đảng trong công nhân và lao động, tổ
chức các lớp bồi dưỡng về chính trị, chỉ đạo phối hợp đấu tranh của thanh niên
công nhân trong phong trào ái hữu.
Một buổi, anh Nhạ - Bí thư Thành
ủy Hà Nội giới thiệu, tôi (Văn Tiến Dũng) biết đó là anh Nguyễn Văn Cừ. Tôi đã
được nghe nói về anh, đồng chí Tổng Bí thư mới của Đảng. Tôi vui mừng và cảm
động hết sức về buổi gặp mặt đầu tiên này. Đồng chí Tổng Bí thư gặp tôi lần này
để hỏi thêm một số điều trong phong trào công nhân ở Hà Nội, đồng thời cũng
trực tiếp chỉ thị cho tôi về hoạt động trong tình hình đã có thay đổi khác
trước...”.
Để nắm bắt chỉ đạo cách mạng, khoảng giữa năm 1937 tại nhà
số 86 phố Yên Phụ - Bến Nứa có trạm liên lạc của Xứ ủy Bắc Kỳ và Thành ủy Hà
Nội do đồng chí Trần Quý Kiên đảm nhiệm. Để che mắt địch, đồng chí Trần Quý
Kiên đóng giả là người sửa xe đạp.
Việc này đã được hồi ký Đi theo con đường
của Bác của đồng chí Văn Tiến Dũng viết và đã nói khá tỉ mỉ về những hoạt
động lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức xây dựng Đảng, kết nạp đảng viên... với vai trò
to lớn của đồng chí Trần Quý Kiên (Bí thư Thành ủy Hà Nội, Thường vụ Xứ ủy Bắc
Kỳ trong những năm 1938-1939).
Theo sách Địa chí Hà
Tây, từ giữa năm 1935 đến tháng 4-1936, làng Đa Phúc (Quốc Oai) có những
chính trị phạm bị trục xuất từ bên Lào về
hoạt động, như các đồng chí: Phan Trọng Tuệ, Nguyễn Văn Thọ, Đào Văn Tiễu.
Tháng 8-1936, các đồng chí đã thành lập tổ Cộng sản do đồng chí Nguyễn Văn Thọ
làm Thư ký tổ. Sau khi liên lạc được với Xứ ủy, cuối năm 1937, đồng chí Lê
Hoàng, cán bộ Xứ ủy đã về Đa Phúc
chuyển tổ Cộng sản thành Chi bộ dự bị,
do đồng chí Phan Trọng Tuệ làm Bí thư.
Từ khi thành lập (8-1936) đến khi liên lạc được với Đảng
(cuối năm 1937), tổ Cộng sản Đa Phúc đã có nhiều cố gắng khắc phục khó khăn để
xây dựng cơ sở, thúc đẩy phong trào cách mạng địa phương từng bước phát triển.
Tuy từng mặt có những kết quả và hạn chế khác nhau, song nhìn chung thành tích,
ưu điểm là cơ bản và to lớn, trong điều kiện chưa được sự chỉ đạo trực tiếp của
tổ chức Đảng.
Vào mùa Xuân năm 1938,
sau một thời gian xem xét phong trào Mặt trận Dân chủ ở Đa Phúc - Thụy Khuê
dưới sự chỉ đạo của tổ Cộng sản, đồng chí Trần Quý Kiên, Thường vụ Xứ ủy, Bí
thư Thành ủy Hà Nội, đại diện Thành ủy đã về Đa Phúc công nhận và chuyển tổ
Cộng sản Đa Phúc thành Chi bộ Đa Phúc
và giao trách nhiệm phụ trách phong trào cách mạng ở tỉnh Sơn Tây. Lễ công nhận
được tiến hành ở nhà đồng chí Phan Trọng Tuệ vào một buổi tối có 3 đảng viên dự
là các đồng chí Nguyễn Văn Thọ, Phan Trọng Tuệ, Đào Văn Tiễu.
Sách Địa chí Hà Tây
viết “Sau một thời gian theo dõi, đầu năm 1938, đồng chí Trần Quý Kiên, Thường
vụ Xứ ủy, Bí thư Thành ủy Hà Nội về làng Đa Phúc công nhận là chi bộ chính thức
của Đảng, trực thuộc Thành ủy Hà Nội, giao nhiệm vụ cho chi bộ lãnh đạo phong
trào cách mạng tỉnh Sơn Tây. Chi bộ Đa Phúc là tổ chức đảng đầu tiên của tỉnh
Sơn Tây”.
Chi bộ Đa Phúc (Sài Sơn) là Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên
của huyện Quốc Oai và tỉnh Sơn Tây. Chi bộ lại được đồng chí Trần Quý Kiên giao
nhiệm vụ quan trọng là lãnh đạo phong trào cách mạng toàn tỉnh Sơn Tây và hoạt
động theo sự chỉ đạo của Thành ủy Hà Nội. Từ đây ở Quốc Oai đã có một tổ chức
cơ sở chính thức của Đảng, đây là một mốc lịch sử đáng ghi nhớ và hết sức tự
hào, kết thúc một quá trình tự rèn luyện thử thách của những người hoạt động
cách mạng ở hai làng Đa Phúc - Thụy Khuê. Sự kiện này đưa lại bước phát triển
mới cho phong trào cách mạng ở Quốc Oai nói riêng và tỉnh Sơn Tây nói chung.
Chi bộ Đa Phúc được công nhận không những
đáp ứng yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng trước mắt, mà còn là nền
tảng của Đảng bộ địa phương sau này. Từ đây Chi bộ Đa Phúc trưởng thành và có
đủ sức mạnh gánh vác một nhiệm vụ rất nặng nề nhưng rất vẻ vang là lãnh đạo
phong trào cách mạng phía Tây Bắc Hà Nội.
Chi bộ Đa Phúc, cơ sở Đảng đầu tiên trên đất Sơn Tây, được
đồng chí Trần Quý Kiên, Bí thư Thành ủy Hà Nội, thay mặt Thành ủy Hà Nội chính
thức công nhận, trước hết là một sự kiện quan trọng đối với phong trào cách
mạng Đa Phúc - Thụy Khuê, đã chấm dứt thời kỳ mò mẫm do thiếu sự lãnh đạo, chỉ
đạo trực tiếp của tổ chức Đảng. Đối với toàn tỉnh Sơn Tây, Chi bộ Đa Phúc là
hạt nhân lãnh đạo, là cơ sở ban đầu tiến tới xây dựng Đảng bộ tỉnh. Chi bộ Đa
Phúc ra đời là kết quả của phong trào đấu tranh quần chúng dưới ánh sáng cách
mạng của Đảng mà nổi bật là nhờ tinh thần chủ động, kiên trì vượt khó khăn của
những chiến sĩ cách mạng từ Lào về.
Tại tỉnh Hà Đông, những thanh niên cốt cán ở vùng Bắc Hoài Đức sớm liên lạc được với tổ chức
Đảng ở Hà Nội, được đồng chí Trần Quý Kiên, Thường vụ Xứ ủy, Bí thư Thành ủy Hà
Nội chỉ đạo, nhiều cán bộ ở các tòa báo công khai từ Hà Nội về giúp đỡ. Ở phía
Bắc tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội), được sự chỉ đạo, giúp đỡ của Xứ ủy Bắc Kỳ, phong trào cách mạng ở vùng nam Hoài Đức
phát triển mạnh. “Ngày 15-5-1938, đồng chí Trần Quý Kiên (còn gọi là Đinh Nhạ)
về La Cả tổ chức kết nạp ba quần chúng cốt cán vào Đảng, đó là: Dương Nhật Đại
(La Cả), Nguyễn Quý Bình (Đại Mỗ), Ngô Văn Phát (Thượng Cát). Thay mặt Xứ ủy Bắc Kỳ, đồng chí Trần Quý Kiên tuyên bố thành lập
chi bộ ghép do đồng chí Dương Nhật Đại làm Bí thư. Xứ ủy giao cho chi bộ ghép La Cả - Đại Mỗ - Thượng Cát
có nhiệm vụ lãnh đạo phong trào cách mạng ở tỉnh Hà Đông, đồng thời cũng là Ban
vận động chuẩn bị cho việc thành lập Đảng bộ tỉnh”.
Trong hồi ký Từ những
buổi đầu của đồng chí Dương Nhật Đại (sau làm Bí thư Thành ủy Hà Nội) in
trong Hồi ký cách mạng Hà Sơn Bình
viết: ở Hà Đông, phong trào quần chúng phát triển đã khá, nhưng chưa có tổ chức
Đảng. Đồng chí Hoàng Lương Hữu
nói với đồng chí Dương Nhật Đại: “Cậu hãy chọn lấy một người nữa, mình cũng sẽ
giới thiệu một người nữa, thế là đủ ba người để thành lập chi bộ Đảng. Đúng một
tuần lễ sau, tôi ra Hà Nội báo cáo với anh Hữu về việc chọn người. Anh Hữu giới
thiệu với tôi anh Phát ở Thượng Cát, thế là đủ bộ ba: anh Bình, anh Phát và
tôi. Anh Hữu còn giới thiệu một đồng chí nữa mà tôi không quen, đồng chí ấy sẽ
thay mặt Đảng về kết nạp chúng tôi, anh Hữu không giới thiệu tên, sau này tôi
mới rõ đồng chí ấy chính là anh Đinh Nhạ, tức anh Trần Quý Kiên.
Ngày 15-5-1938, tại nhà tôi ở La Cả. Anh Nhạ thay mặt Đảng
tuyên bố kết nạp ba chúng tôi vào Đảng Cộng sản Đông Dương, anh công nhận chúng
tôi là đảng viên chính thức hợp thành chi bộ ghép do tôi (Dương Nhật Đại) làm
Bí thư, Chi bộ ghép có trách nhiệm lãnh đạo phong trào cách mạng ở Hà Đông,
đồng thời cũng là ban vận động thành lập Đảng bộ tỉnh (Hà Đông). Cuối cùng, anh
nói với chúng tôi vừa có tính chất động viên, vừa có tính chất chỉ thị: Trước
đây các đồng chí hoạt động là do nhiệt tình, do lòng yêu nước, ngày nay các
đồng chí phải chịu trách nhiệm trước Đảng về phong trào của một tỉnh. Đảng tin
cậy ở các đồng chí, quần chúng Hà Đông trông đợi ở sự lãnh đạo của các đồng
chí. Tôi tin rằng phong trào cách mạng ở Hà Đông đã lớn mạnh, với sự nỗ lực của
các đồng chí, chẳng bao lâu nữa cái vốn nhỏ bé này sẽ phát triển gấp mười, gấp
trăm rồi gấp nghìn lần hơn nữa...
Dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy Bắc Kỳ, Thành ủy Hà Nội mà trực
tiếp là đồng chí Trần Quý Kiên, Thường vụ Xứ ủy, Bí thư Thành ủy Hà Nội, các tổ
chức Đảng đã được thiết lập tại 17/29 tỉnh, thành phố ở Bắc Kỳ “Việc
tổ chức lại các tổ chức của Đảng có thể tiến hành khá nhanh, đó là nhờ hoạt
động của các cựu tù chính trị được ân xá...”.
Dưới sự lãnh đạo của đồng chí Trần Quý
Kiên và các đồng chí trong Thành ủy Hà Nội, các đoàn thể quần chúng như Công
đoàn, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ dân chủ, Đoàn Thanh niên dân chủ, Nghiệp đoàn
báo giới Bắc Kỳ, Hội Truyền bá chữ Quốc ngữ... đã tập hợp, lãnh đạo nhân dân
đấu tranh đòi các quyền dân sinh, dân chủ; lựa chọn các quần chúng tích cực,
bồi dưỡng kết nạp Đảng. Một số đảng viên sau này được đồng chí Trần Quý Kiên
theo dõi, bồi dưỡng kết nạp vào Đảng, hoặc công nhận chi bộ chính thức... trong
thời kỳ này như: Văn Tiến Dũng, Dương Nhật Đại, Phan Trọng Tuệ, Hoàng Minh Giám, Nguyễn Quý Bình, Ngô Văn Phát...
Trong thời kỳ hoạt
động cách mạng ở Bắc Kỳ, trong đó gắn bó
nhiều với Hà Nội từ năm 1930-1939, đồng chí Trần Quý Kiên đã trực tiếp lãnh đạo Đảng bộ, và nhân dân Thành phố Hà Nội và sau năm 1945, là
cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng, giữ nhiều chức vụ khác nhau và có gắn bó
nhiều với Thủ đô Hà Nội. Đồng chí Trần Quý Kiên thực sự là tấm
gương sáng của người cộng sản trung kiên, bất khuất, suốt đời chiến đấu vì lý
tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân.
3. Đồng chí
Trần Quý Kiên trong phong trào cách mạng ở Hà Nội và khu vực Bắc Kỳ trong những
năm 1939- 1945
Trong thời kỳ 1936-1939, với cao trào
vận động dân chủ, nhờ hoạt động không mệt mỏi của đồng chí Trần Quý Kiên, Đảng
bộ tỉnh Hà Đông, tỉnh Sơn Tây đã ra đời. Trải qua hơn một năm đấu tranh dưới
ngọn cờ của Đảng, phong trào cách mạng ở mỗi địa phương đều có bước phát triển
quan trọng. Từ năm 1938, Sơn Tây có chi bộ Đa Phúc chịu trách nhiệm lãnh đạo
toàn tỉnh. Hà Đông, từ những cơ sở Đảng ban đầu đã tiến tới thành lập Đảng bộ
tỉnh. Những sự kiện đó đã đánh dấu bước phát triển về chất của phong trào ở mỗi
địa phương, tạo điều kiện cho bước phát triển mới vững mạnh hơn nữa.
Như vậy, sau khi ra tù năm 1936, đồng chí Trần Quý Kiên đã
hăng say tham gia ngay vào nhiều công việc, công tác của Đảng, có nhiều đóng
góp trong Ủy ban sáng kiến, Xứ ủy Bắc Kỳ, Thành ủy Hà Nội. Cuối năm 1938, đồng
chí Trần Quý Kiên được cử làm Bí thư Thành ủy Hà Nội đến đầu tháng 9-1939.
Nhận trách nhiệm lãnh đạo Thành ủy giữa lúc phong trào cách mạng cả nước nói
chung, Hà Nội nói riêng đang ở vào giai đoạn cuối của cuộc đấu tranh hợp pháp,
nửa công khai, đồng chí Trần Quý Kiên cùng Thành ủy Hà Nội với sự chỉ đạo chặt
chẽ của Xứ ủy Bắc Kỳ đã khéo léo lợi dụng giai đoạn “đệm” ấy để tiếp tục duy
trì thúc đẩy một số cuộc đấu tranh, tập dượt quần chúng chuẩn bị bước vào một
thời kỳ đấu tranh mới.
Trong cuộc đấu tranh trên nghị trường, đồng chí Trần Quý
Kiên và Thành ủy Hà Nội đã chỉ đạo tốt công tác tuyên truyền tới các cử tri cho
cuộc bầu cử Hội đồng Thành phố ngày 5-4-1939. Những người do Mặt trận dân chủ
giới thiệu đã trúng cử với số phiếu cao nhất so với các thành phần khác. Điều
này chứng tỏ ảnh hưởng của cách mạng tăng lên nhiều trong các tầng lớp trung
gian và tầng lớp trên. Nhân dịp ông Phan Thanh, một chiến sĩ dân chủ xuất sắc
có uy tín trong phong trào dân chủ ở Hà Nội bị bệnh mất ngày 4-5-1939, Thành ủy
đã huy động quần chúng tham dự đám tang với quy mô chưa từng có. Hơn hai vạn
người xếp hàng đi sau xe tang. Thực tế, đó là cuộc biểu dương lực lượng của
quần chúng cách mạng. Kẻ thù rất bực tức nhưng không có cớ gì để đàn áp. Bằng
cách đó đồng chí Trần Quý Kiên cùng với Thành ủy đã chỉ đạo thành công cuộc
biểu dương lực lượng của quần chúng nhân ngày Quốc khánh nước Pháp 14-7 và cuộc
vận động quần chúng phản đối bọn đế quốc thực dân và tay sai muốn quay trở lại
Hiệp ước Patenôtre năm 1884. Tháng 8-1939, do áp lực của quần chúng, Bộ Thuộc
địa Pháp cuối cùng đã phải hủy bỏ ý định trên.
Như vậy, có thể nói, ngoài một số hoạt động về tổ chức và
xây dựng Đảng ở vùng xung quanh Hà Nội, đồng chí Trần Quý Kiên còn có những
hoạt động khác mà trong điều kiện bài viết này chưa thể nêu lên một cách đầy
đủ. Nhưng qua những nội dung đã trình bày ở trên có thể thấy truyền thống quê
hương, gia đình đã hun đúc nên ý chí cách mạng của đồng chí Trần Quý Kiên,
người chiến sĩ cộng sản kiên cường. Những hoạt động và cống hiến của đồng chí
Trần Quý Kiên đối với cách mạng và dân tộc, với Thành ủy Hà Nội từ năm 1930 đến
năm 1945 là rất to lớn. Là nhà lãnh đạo tiền bối, đồng chí Trần Quý Kiên cùng
với các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Lương Khánh Thiện, Văn Tiến Dũng... và nhiều
đồng chí khác đã có những đóng góp căn bản quan trọng, góp phần đưa sự nghiệp
cách mạng của Đảng đi tới thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám 1945, lập nên
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Thành công của Cách mạng tháng Tám 1945 là một trong
những mốc son vẻ vang, chói lọi
nhất trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Đối với Hà Nội, thắng lợi của Cách
mạng tháng Tám 1945 đã
ghi nhận và khẳng định sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Trung ương Đảng, của
Đảng bộ Hà Nội, trong đó, có một phần đóng góp tích cực và rất quan trọng của đồng chí Trần Quý Kiên, với vai trò là Bí
thư Thành ủy Hà Nội từ năm 1938 và trực tiếp lãnh đạo phong trào đấu tranh của
nhân dân Hà Nội trong thời kỳ 1938 - 1939.
4. Kết luận
Trong
bối cảnh lịch sử những thập niên đầu thế kỷ XX, cùng với truyền thống tốt đẹp
của quê hương như lòng yêu nước, tinh thần hiếu học, khoa bảng cùng với truyền
thống của gia đình, dòng họ, xóm làng, đã trở thành những nhân tố rất quan
trọng, góp phần hình thành, nuôi dưỡng những phẩm chất cao đẹp, tư tưởng yêu
nước chân chính trong con người đồng chí Trần Quý Kiên. Trong lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc dưới sự lãnh
đạo của Đảng, nhiều thanh niên yêu nước đã tham gia hoạt động cách mạng, trở
thành những cán bộ lãnh đạo tận tụy, tài năng - những đảng viên trung kiên lớp
đầu tiên của Đảng, những người đã trọn đời hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ
quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Trong số những con người ưu tú đó có đồng chí
Trần Quý Kiên (1911-1965), Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ, Bí thư Thành ủy Hà Nội -
người cộng sản kiên trung, bất khuất, có nhiều đóng góp cho sự nghiệp cách mạng
của Đảng và trọn đời hy sinh cống hiến vì hạnh phúc của nhân dân.
Hoạt động và cống hiến của đồng chí Trần Quý Kiên với cách
mạng Việt Nam và quê hương Hà Nội là rất to lớn. Với những cống hiến cho sự
nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, đồng chí Trần Quý Kiên đã được Đảng và
Nhà nước tặng thưởng nhiều Huân, Huy chương cao quý: Huân chương kháng chiến hạng Nhất (1961), Huân chương Lao động hạng Nhất (1965), Huân chương Hồ Chí Minh (truy tặng, 2003), Huân chương Sao vàng (truy tặng, 2018). Tên của đồng chí Trần Quý
Kiên còn được dùng để đặt tên đường, phố ở Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí
Minh, Thành phố Huế, Thành phố Đà Nẵng.
PHỤ LỤC


Đồng chí Đinh
Xuân Nhạ - Trần Quý Kiên năm 1940

Đồng chí Trần
Quý Kiên được Chủ tịch nước truy tặng Huân chương Sao vàng năm 2018. Ảnh: Gia
đình cung cấp
Bài đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 3 (587)
năm 2025.
Chú thích:
Vũ Thị Minh Hương, Nguyễn Văn Nguyên, Philippe Papin, Địa danh và tài liệu lưu trữ về làng xã Bắc
Kỳ, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1999, tr.223.
Nguyễn Đạt Phác (có tài liệu viết là Nguyễn Đạt Phát), quê quán phường Ngọc Hà, quận Ba
Đình, Thành phố Hà Nội, sau làm Phó Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình (1947 - 1949). Chủ
tịch Ủy ban kháng chiến Hành chính tỉnh Ninh Bình (1948 - 1949). Năm 1952, ông
điều trị ho lao ở Đại Từ. Theo Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Ninh Bình, Lịch sử Đảng bộ tỉnh Ninh Bình, tập 1
(1930-1975), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2023, tr.293.
Lý lịch của
phạm nhân Đinh Xuân Nhạ số 289 được đề nghị ân xá, ở Nhà tù Sơn La (ngày 31-10-1933), tài liệu tại phông Thống sứ Bắc Kỳ, Hồ
sơ số: 82828, tờ số 4, lưu tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia I.
Theo Lớp chỉnh Đảng Trung ương, Tổng kết tư tưởng, Họ tên: Trần Quý Kiên, đơn vị công tác: Văn
phòng Thủ tướng Phủ, tháng 8-1952, tr.1.
Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố Hà Nội, Lịch sử Đảng bộ Thành phố Hà Nội (1930-2000), sđd, tr.62.
Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố Hà Nội, Lịch sử Đảng bộ Thành phố Hà Nội (1930-2000), sđd, tr.70; Đại tướng Văn Tiến Dũng với cách
mạng Việt Nam và quê hương Hà Nội, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2017, tr.82.
Đại tướng Văn
Tiến Dũng, Đi theo con đường của Bác
(hồi ký), Nxb. Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2004, tr.36.
Đại tướng Văn Tiến Dũng, Đi
theo con đường của Bác (hồi ký), Sđd, tr.55-56.
Sách Lịch sử Đảng bộ quận Ba Đình, 1930-2005, Nxb. Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, 2005, tr.78. Đến cuối năm 1938, do bị lộ, đồng chí Trần Quý Kiên rút về
cơ sở khác, cuối năm 1939, đầu năm 1940 đồng chí làm Bí thư Thành ủy Hà Nội (có
nhiều ý kiến khác nhau về thời điểm khoảng một năm đồng chí Trần Quý Kiên làm
Bí thư Thành ủy Hà Nội, nhưng sách này viết đồng chí Trần Quý Kiên làm Bí thư
Thành ủy Hà Nội từ “cuối năm 1939, đầu năm 1940” là chưa thật chính xác, bởi từ
khi bị lộ, chiến tranh thế giới xảy ra, Đảng đã rút đồng chí lên Phú Thọ hoạt
động từ cuối năm 1939).
Địa chí Hà
Tây, sđd, tr.287.
Hồi ký cách mạng Hà Sơn Bình, Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Hà Sơn Bình, 1981, tr.24.
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn
kiện Đảng toàn tập, tập 6, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.300.
Những chiến
sĩ cộng sản ưu tú và cơ sở cách mạng của Hà Nội (tập 1), sđd, tr.73.