THIỀN SƯ GIÁC HẢI TRONG VIỆC BẢN ĐỊA HÓA PHẬT GIÁO ĐẠI VIỆT THẾ KỶ XI-XII
Phật giáo thời Lý đạt đến đỉnh cao không chỉ về tôn giáo mà còn về văn hóa và tư tưởng. Trong bối cảnh nhà Lý lấy Phật giáo làm quốc giáo, các thiền sư không chỉ là người tu hành mà còn đóng vai trò quan trọng trong thiết lập và củng cố quyền lực tinh thần của nhà nước Trung ương. Trong dòng chảy ấy, các thiền sư như Không Lộ, Minh Không và Giác Hải, là những nhân vật nổi bật không chỉ bởi kiến thức Phật học, mà còn vì hành trạng đặc biệt: chữa bệnh, cứu dân, diệt yêu trừ quái, phổ độ chúng sinh. Với tư cách là môn đệ của Thiền sư Không Lộ, Thiền sư Giác Hải tiếp nối dòng Thiền Vô Ngôn Thông, để lại dấu ấn riêng với hành trạng nhập thế, cứu độ và truyền bá Phật pháp. Bài viết thông qua khảo cứu thân thế, hành trạng và tư tưởng Phật học của Giác Hải chỉ ra vai trò của thiền sư trong quá trình bản địa hóa Phật giáo Đại Việt thời Lý.
1. Mở đầu
Kể từ sau khi Lý Công Uẩn lên ngôi, dời
đô ra Thăng Long, Phật giáo không chỉ đóng vai trò là một tôn giáo thuần túy mà
còn trở thành hệ tư tưởng chủ đạo của nhà nước phong kiến tập quyền. Các vua nhà
Lý đều sùng tín Phật pháp, coi trọng tầng lớp tăng sĩ, và nhiều thiền sư trở
thành những bậc cố vấn tinh thần, thậm chí trực tiếp tham dự vào các công việc
quốc gia đại sự. Trong bối cảnh đó, tiến trình bản địa hóa Phật giáo diễn ra mạnh
mẽ, làm nên sắc thái riêng biệt của Phật giáo Đại Việt so với Phật giáo Trung
Hoa hay Ấn Độ.
Một trong những nhân vật tiêu biểu cho
tiến trình bản địa hóa này là Thiền sư Giác Hải. Xuất
thân bình dân, từng làm nghề chài lưới, sau quy y theo học thiền phái Vô Ngôn
Thông, Giác Hải đã trở thành một trong những bậc danh tăng lỗi lạc được triều
đình trọng vọng. Những truyền thuyết về phép trừ tà, hiển hiện thần thông, cùng
các thiền kệ ngắn gọn mà sâu sắc của ông đã phản ánh rõ rệt quá trình đưa Phật
giáo hòa nhập vào tâm thức và đời sống người Việt. Tuy nhiên, so với các thiền
sư cùng thời như Không Lộ, Minh Không hay Từ Đạo Hạnh, những nghiên cứu chuyên
sâu về Giác Hải còn chưa nhiều. Các tài liệu hiện có chủ yếu nằm rải rác trong Thiền
uyển tập anh, Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái, Thơ văn Lý - Trần, Địa dư huyện Quỳnh Côi cùng một số văn bia và
truyền thuyết dân gian. Do đó, việc khảo cứu lại thân thế, hành trạng và đặc biệt
là vai trò của Thiền sư Giác Hải trong tiến trình bản địa hóa Phật giáo là một yêu cầu cần
thiết, vừa góp phần làm sáng tỏ diện mạo Phật giáo đời Lý, vừa cung cấp tư liệu
cho việc nghiên cứu văn hóa - tôn giáo Việt Nam.
2. Tiểu sử và hành trạng
của Thiền sư Giác Hải
Về cuộc đời và sự nghiệp của Thiền sư Giác Hải được sử sách ghi chép khá ít, nhất là về quê quán, năm
sinh, năm mất. Hầu hết các sách đều ghi chép Thiền sư họ Nguyễn, tên Giác Hải,
người hương Hải Thanh, thuở nhỏ
làm nghề đánh cá, năm 25 tuổi bỏ nghề vào chùa xin làm tăng, rồi kế Thừa sư Không Lộ trở thành một nhà sư thế hệ thứ 10 dòng thiền Vô ngôn thông.
Các sách địa chí như: Đại Nam nhất
thống chí, Tân biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược hay Địa Dư huyện Quỳnh
Côi cho biết rõ hơn về Thiền sư Giác Hải: Thiền sư họ Nguyễn, húy là Quốc Y (hoặc Viên Y, Viết Y), hiệu là Giác Hải, vốn
người huyện Giao Thủy, sinh vào năm Giáp Tý, niên hiệu Thuận Thiên, đời vua Lý
Thái Tổ (1023). Khi nhỏ theo cha làm nghề đánh cá, sau theo mẹ về xã Yên Vệ,
huyện Yên Khánh. Đến ngày mùng 4 tháng Giêng năm Thiệu
Minh đời vua Lý Anh Tông (1138) thì ngài hóa, thọ 115 tuổi[3]. Hiện nay
tại khu di tích làng Yên Vệ (phường Đông Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình) có chùa Phúc
Long thờ phật và thờ Tiên thiên Thánh Mẫu (mẹ của Giác Hải thiền sư), và Đền
Thượng thờ tam thánh: Giác Hải, Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không, thường lấy ngày mùng 4 tháng Giêng là ngày
giỗ Thiền sư Giác Hải, dân quanh vùng tổ chức lễ hội và các trò chơi dân gian.
Theo Việt điện u linh và Lĩnh
Nam chích quái, Giác Hải là bạn cùng thời với Từ Đạo Hạnh và Minh Không. Ba người cùng sang
Tây Trúc cầu đạo, "cùng nhau truyền đổi phép tiên, đi trên mặt nước, bay ở
không trung, rồng phải xuống chầu, hổ phải nép, bay lên trời thu đất lại, muôn
quái nghìn kỳ, vào thần ra quỷ, chẳng ai dò được huyền diệu. Khi ấy mới nhường Đạo
Hạnh làm anh cả, Minh Không làm anh thứ, Giác Hải làm em út". Sau khi cầu đạo trở về, Giác Hải và Minh Không về Giao Thủy, trụ trì
chùa Nghiêm Quang, tức Chùa Keo Hành Thiện ngày nay, Đạo Hạnh tu ở chùa Thiên Phúc. Đến khoảng năm 1121-1122 Giác Hải về làm trụ
trì chùa Diên Phúc, sau này được vua Lý Anh Tông xuống chiếu trùng tu cho đổi
tên chùa thành chùa Viên Quang vào năm Đinh Mão (1167) và vẫn do sư Giác Hải trụ
trì. Đến thời Nguyễn, năm Tự Đức thứ 18 (1865) vì sông lở sát chùa nên chùa được
dời vào đất trại của làng Hộ Xá (thuộc huyện Giao Thủy, nay là xã Xuân Trường,
tỉnh Ninh Bình).
Có lẽ vì sự thân thiết và cùng chí hướng
nên hành trạng của Thiền sư Giác Hải thường được ghi chép cùng với Không Lộ và Từ Đạo Hạnh với
nhiều truyền thuyết ly kì. Sách An Nam chí lược cho biết, Giác Hải và Không Lộ thường vào Trung Quốc xin đồng để đúc chuông và Giác
Hải có tài lặn dưới nước, Không Lộ có tài bay trên không. Trong
tiểu truyện chép về sự tích Từ Đạo Hạnh, Lý Tế Xuyên cũng cho biết Giác Hải
cùng với Minh Không dùng phép biến hóa có thể nấu nồi cơm cho quân lính ăn mãi
không hết, dùng phép cho thuyền bay như tên, lại có thể dùng tay nhổ đinh và chữa
bệnh cho vua.
Địa dư huyện Quỳnh Côi còn cho biết Giác Hải và Không Lộ đã cùng với Hiệu
Quang đem quân đi giải vây cho vua khi vua Lý Thánh Tông bị quân Chiêm Thành
bao vây, được vua ban thưởng nhiều vàng bạc và hai ông đã đem về phát cho dân
làng.
Một trong những sự tích làm nên tên tuổi
sư Giác Hải được hầu hết các sách ghi chép là chuyện nhà sư làm phép cho tắc kè
rơi, được vua Lý Nhân Tông hết sức khâm phục, làm thơ tặng và ban cho nhiều ân
huệ. Tương truyền, dưới thời vua Lý Nhân Tông, Giác Hải cùng với Thông Huyền
chân nhân cùng vâng chiếu mệnh nhà vua vời đến thạch đình. Khi đang ngồi chợt
có tiếng tắc kè kêu hết sức chối tai, nhà vua hỏi có cách nào khiến tắc kỳ
không kêu. Ngài Thông Huyền liền triển pháp thuật, ngồi yên niệm chú, một con tắc
kè từ trên nóc rơi bộp xuống đất. Thông Huyền nói với Giác Hải: "Đang còn một con, để đó cho Sa Môn". Giác Hải trừng mắt nhìn lên nóc thạch đình, lập
tức con tắc kè khác rơi xuống. Nhà vua rất lấy làm kinh ngạc liền ngự chế một
bài thơ tán thưởng: Tán Giác Hải thiền sư/ Thông Huyền đạo nhân.
Giác Hải tâm như hải
Thông Huyền đạo hựu huyền
Thần thông kiêm biến hóa
Nhất phật, nhất Thần Tiên
Tạm dịch:
Tâm Giác Hải rộng như biển cả
Tài Thông Huyền khác lạ nhiệm màu
Thần thông, biến hóa như nhau
Phật đây, Tiên đấy trước sau rõ ràng.
Từ đó tiếng tăm của Giác Hải vang dậy
khắp nơi, các hàng tăng
lục đều tôn sùng Ngài là hàng thượng thủ. Nhân một lần khác,
khi vua đến hỏi Giác Hải về phép "thần túc" (đi trên không) có thật
không. Sư bèn "hiển hiện thần thông, nhảy vọt lên không trung, cao hơn mặt
đất đến vài trượng đi đi lại lại một lúc rồi mới xuống. Nhà vua và quần thần đều
chắp tay lạy tỏ ý khâm phục và khen ngợi, nhân đó ngài được ân tứ rất hậu, cho
được tự do đi kiệu ra vào cửa khuyết. Sau việc này vua ban cho tên hiệu là Giác
Hải Tinh chiếu đại sư và còn cho ngài được theo họ nhà vua.
Tại chùa Viên Quang hiện nay vẫn còn
lưu giữ tấm bia Viên Quang tự bi minh do Dĩnh Đạt soạn dưới thời vua Lý
Cao Tông (1175-1210). Văn bia vẫn còn bút tích của sư Giác Hải, đồng thời nội
dung văn bia đã thuật lại khá rõ chuyện sư Giác Hải trụ trì tại chùa và ca ngợi
Phật pháp cao siêu của Thiền sư Giác Hải và công đức vô lượng của ông. Dĩnh Đạt đánh giá đức hạnh
và tài năng của Giác Hải không kém gì hai vị cao tăng là Trúc Pháp người Ấn Độ
và Chí Công người Trung Quốc. Nhờ
pháp thuật cao siêu và công đức với dân chúng, thiền sư được mang quốc tính (họ
Lý), khi mất được nhà vua xuống chiếu cho lấy thuế 30 hộ để cúng hương hỏa, lại
cho hai người con của sư làm quan để tỏ lòng khen thưởng. Đây là
bằng chứng cho thấy triều đình thừa nhận và vinh danh công lao “hộ quốc” của vị
Thiền sư Giác Hải. Trong bài kệ bia Viên Quang tự bi minh có câu:
"Quốc vương đại thần/Giác Hải đại sỹ/là người họ Lý/xuất gia tu hành/chứng
ngộ chân lý/Cưỡi voi lớn kia/Ra mắt thiên tử/Thần Tông tôn sùng/Anh Tông hâm mộ/
Sắc ban tông tộc/ Nhà cư làng cũ/ Người thảy nể vì/ Người đời khôn đọ" đã cho
thấy Giác Hải đã tu đến đắc đạo, được các vua tôn sùng, hâm mộ, người dân kính
nể.
Như vậy, có thể thấy việc ghi chép về
cuộc đời và hành trạng của Thiền sư Giác Hải
không được rõ ràng như các bậc thiền sư khác, song sự ghi nhận của các vua thời
Lý cũng như sự tôn sùng của hậu thế đã cho thấy ông có vai trò không nhỏ đối với
sự phát triển của Phật giáo thời Lý.
3. Thiền sư Giác Hải
- người bản địa hóa tư tưởng Phật giáo, khơi nguồn cho Phật giáo Đại Việt
Thời Lý là giai đoạn mà Phật giáo
không chỉ là một tôn giáo, mà còn trở thành nền tảng tinh thần của triều đình.
Sử cũ ghi lại rằng ngay từ đầu triều Lý, “dân chúng quá nửa làm sư sãi, trong
nước chỗ nào cũng có chùa chiền". Vua Lý
Thái Tổ và các thế hệ sau đều trọng dụng tăng sĩ, coi họ là bậc thầy tinh thần,
đồng thời cũng là những người có khả năng hộ trì quốc gia. Trong bối cảnh đó, Thiền sư Giác Hải trở thành một nhân vật đặc biệt: ông là biểu tượng cho sự
gắn kết giữa thiền môn và vương quyền, giữa Phật giáo và chính trị. Thiền sư
Giác Hải cũng trở thành cầu nối giữa Phật giáo - Vương quyền và Cộng đồng, khi
ngài từ một ngư phủ trở thành "bậc thầy của vua", được vua tôn kính,
được dân tin tưởng và yêu mến, những nơi sư trụ trì đều được các vua thời Lý
thường xuyên ghé thăm và rất quan tâm. Giác Hải là biểu tượng của một nhà sư góp
phần tạo dựng hình ảnh Phật giáo hộ quốc, củng cố niềm tin chính trị của thần
dân đối với triều Lý.
Theo
Thiền uyển tập anh, Giác Hải thuộc thế hệ thứ 10 của phái thiền Vô Ngôn Thông và cũng là thế hệ thứ hai của phái Thảo đường. Vì thế, có thể
nói trong tư tưởng và triết lý tu thiền của Giác Hải có nhiều điều đặc biệt. Nội
dung cốt lõi của phái thiền Vô Ngôn Thông là đốn ngộ, nghĩa là giác ngộ đến đột ngột, trong phút chốc,
lúc ánh sáng của Tuệ - Bát Nhã lóe lên, do đó không cần đến ngôn ngữ, văn tự, thì ở
phái Thảo Đường điểm nổi bật là khuynh hướng mật giáo, nghĩa là mang yếu tố huyền
bí, bùa chú. Thiền sư Giác Hải đã thấm nhuần đạo lý của phái thiền Vô Ngôn Thông, sử dụng uyển chuyển cùng với những bùa chú, những câu kệ để từng bước
đưa giáo lý của Phật giáo dễ dàng đến gần hơn với mọi tầng lớp nhân dân, khác với
những nội dung giáo lý khi mới được đưa vào Việt Nam, coi việc thiền tụng là
thoát tục thuần túy.
Có thể thấy một trong những dấu ấn
quan trọng của thiền sư Giác Hải là ở thiền kệ - những
bài thơ ngắn gọn nhưng súc tích, vừa thể hiện tư tưởng Phật học, vừa phản ánh sự
thích ứng với tâm thức người Việt. Khác với những kinh văn khó hiểu, trừu tượng,
kệ của Giác Hải thường sử dụng hình ảnh đời thường, dân dã. Nhờ vậy, giáo lý vốn
phức tạp của Phật giáo đã được “dịch” sang ngôn ngữ bản địa, dễ nhớ, dễ truyền
khẩu trong cộng đồng. Điều này được thể hiện rõ trong hai tác phẩm mà ông để lại cho hậu thế.
Để
trả lời cho câu hỏi "Phật và chúng sinh ai là khách, ai là chủ", Thiền sư
Giác Hải viết:
Bất giác nữ đầu bạch
Báo nhĩ tác giả thức
Nhược vấn Phật cảnh
giới
Long môn tao điểm ngạch
Dịch nghĩa: Nào ai biết rằng trong cô gái trẻ trung đã thấy mái đầu bạc
nói cho người học đạo hiểu
Nếu cứ lo tìm hỏi đâu là cõi Phật
Thì cũng như cá chép nhảy thi ở Long môn bị chấm trán mà
thôi.
Bài kệ sử
dụng hai hình ảnh gần gũi: cô gái trẻ với mái tóc bạc và cá chép vượt
Long Môn. Đây đều là hình ảnh quen thuộc trong đời sống người Việt thời trung
đại: sự già - trẻ,
và tích cá hóa rồng. Thiền sư đã chỉ cho người hỏi thấy rằng trong hình ảnh cô
gái trẻ kia là ẩn dấu hình ảnh một bà già tóc bạc trong nay mai, nghĩa là mái đầu
không xanh mãi, trước là cô gái trẻ và kế tiếp khi mái đầu ngã bạc sẽ thành bà
già. Cũng như chúng sinh và Phật không phải là hai, không ai là khách, không ai
là chủ, bởi bây giờ là chúng sinh nhưng nếu tu tập giác ngộ và giải thoát, mai
kia là Phật. Giống như giáo lý của phái thiền Vô Ngôn Thông khi nói đến Tâm và Phật là một, không
phải là hai. Vị tổ của phái thiền Vô Ngôn Thông đã từng nói: Tất cả các pháp từ tâm sinh, nếu tâm
không sinh thì pháp làm sao đứng vững được. Nếu đạt được tâm địa thì hành động
sẽ hoàn toàn tự do. Thiền sư Cửu Chỉ thuộc thế hệ thứ 7 của phái Vô Ngôn Thông cũng viết "hết thảy mọi pháp môn bắt nguồn từ
tính; hết thảy mọi pháp tính bắt nguồn từ Tâm. Tâm và Pháp là một, đâu phải là
hai",
nghĩa là nếu đạt ngộ thì tâm là Phật, pháp là Phật, tất cả những gì từ tâm địa
phát sinh đều là Phật. Từ đó Giác Hải khuyên rằng không nên đi tìm cảnh giới của
Phật ở đâu xa, giống như cá chép kia cố gắng vượt long môn nhưng không được mà
bị chấm trán trở về: Nhược vấn Phật cảnh giới/ Long môn tao điểm ngạch. Tức
là, Phật không nằm ở đâu xa, mà chính ở trong tự thân, ngay trong đời sống thường
ngày.
Ở bài kệ thứ
hai, Giác Hải cũng dùng những hình ảnh thân thuộc là hoa và bướm để nói lên
giáo lý duyên khởi trong đạo Phật. Nội dung bài kệ như sau:
Xuân lai hoa điệp thiện tri thì
Hoa điệp ưng tu cộng ưng kỳ
Hoa điệp bản lai giai thị huyễn
Mạc tu hoa điệp hướng tâm trì
Dịch
nghĩa:
Xuân sang hoa và bướm khéo quen với thời tiết
Hoa bướm đều cần phải thích ứng với kỳ hạn của chúng
Nhưng hoa với bướm vốn dĩ là hư ảo
Chớ nên bận tâm về hoa với bướm
Giác Hải đã chỉ ra rằng hoa và bướm
là hiện tượng tự nhiên của đất trời, mùa Xuân đến thì hoa nở, hoa có nở thì bướm mới bay đến để hút
mật, đó là chu kỳ của tạo hóa. Thiền sư Giác Hải cũng như các thiền sư khác của
phái Vô Ngôn Thông đều nhận ra rằng, mọi hiện tượng của thế giới hiện ra trước
mắt chỉ là ảo, cả hoa và bướm đều là hiện tượng vô thường, vốn dĩ đều hư ảo.
Cũng giống như bản thân mỗi người - thể xác cũng là ảo, sinh rồi diệt, cát bụi
trở về với cát bụi - đó là quy luật của tạo hóa.
4. Kết
luận
Qua khảo cứu
tư liệu và phân tích, có thể khẳng định rằng Thiền sư Giác Hải là một trong những nhân vật tiêu biểu
cho quá trình bản địa hóa Phật giáo Đại Việt thời Lý. Giác Hải không chỉ là một
nhà tu hành mà còn trở thành biểu tượng “hộ quốc an dân”. Những truyền thuyết về
việc cứu giá, trừ tà, hiển hiện thần thông đều phản ánh niềm tin của triều đình
và nhân dân rằng Phật giáo có khả năng bảo hộ quốc gia. Việc vua Lý Nhân Tông
ban thơ ca ngợi, cho phép ra vào cửa khuyết bằng kiệu, hay việc nhà vua cấp hộ
dân để phụng thờ sau khi ông viên tịch, cho thấy sự gắn bó mật thiết giữa thiền
sư và vương quyền. Nhờ đó, Phật giáo không còn chỉ là tôn giáo nhập ngoại mà trở
thành một trụ cột tinh thần của quốc gia Đại Việt.
Giác Hải
không chỉ kế thừa tư tưởng của thiền Vô Ngôn Thông mà còn chuyển hóa nó theo hướng nhập thế, kết hợp
pháp thuật, hành đạo, trị bệnh, bảo vệ cộng đồng. Ông không dùng ngôn ngữ trừu
tượng mà dùng hình ảnh gần gũi để giáo lý Phật giáo được chuyển tải đến cộng đồng
một cách dễ hiểu, dễ ghi nhớ, góp phần đưa Phật pháp hòa nhập vào tâm thức dân
gian và văn hóa Việt. Nhờ đó chùa Đại Việt không chỉ là nơi giảng kinh, niệm phật
mà đã trở thành nơi sinh hoạt của cộng đồng dân cư.