image banner

THIỀN SƯ GIÁC HẢI TRONG VIỆC BẢN ĐỊA HÓA PHẬT GIÁO ĐẠI VIỆT THẾ KỶ XI-XII
Phật giáo thời Lý đạt đến đỉnh cao không chỉ về tôn giáo mà còn về văn hóa và tư tưởng. Trong bối cảnh nhà Lý lấy Phật giáo làm quốc giáo, các thiền sư không chỉ là người tu hành mà còn đóng vai trò quan trọng trong thiết lập và củng cố quyền lực tinh thần của nhà nước Trung ương. Trong dòng chảy ấy, các thiền sư như Không Lộ, Minh Không và Giác Hải, là những nhân vật nổi bật không chỉ bởi kiến thức Phật học, mà còn vì hành trạng đặc biệt: chữa bệnh, cứu dân, diệt yêu trừ quái, phổ độ chúng sinh. Với tư cách là môn đệ của Thiền sư Không Lộ, Thiền sư Giác Hải tiếp nối dòng Thiền Vô Ngôn Thông, để lại dấu ấn riêng với hành trạng nhập thế, cứu độ và truyền bá Phật pháp. Bài viết thông qua khảo cứu thân thế, hành trạng và tư tưởng Phật học của Giác Hải chỉ ra vai trò của thiền sư trong quá trình bản địa hóa Phật giáo Đại Việt thời Lý.
 

    1. Mở đầu

    Kể từ sau khi Lý Công Uẩn lên ngôi, dời đô ra Thăng Long, Phật giáo không chỉ đóng vai trò là một tôn giáo thuần túy mà còn trở thành hệ tư tưởng chủ đạo của nhà nước phong kiến tập quyền. Các vua nhà Lý đều sùng tín Phật pháp, coi trọng tầng lớp tăng sĩ, và nhiều thiền sư trở thành những bậc cố vấn tinh thần, thậm chí trực tiếp tham dự vào các công việc quốc gia đại sự. Trong bối cảnh đó, tiến trình bản địa hóa Phật giáo diễn ra mạnh mẽ, làm nên sắc thái riêng biệt của Phật giáo Đại Việt so với Phật giáo Trung Hoa hay Ấn Độ.

    Một trong những nhân vật tiêu biểu cho tiến trình bản địa hóa này là Thiền sư Giác Hải. Xuất thân bình dân, từng làm nghề chài lưới, sau quy y theo học thiền phái Vô Ngôn Thông, Giác Hải đã trở thành một trong những bậc danh tăng lỗi lạc được triều đình trọng vọng. Những truyền thuyết về phép trừ tà, hiển hiện thần thông, cùng các thiền kệ ngắn gọn mà sâu sắc của ông đã phản ánh rõ rệt quá trình đưa Phật giáo hòa nhập vào tâm thức và đời sống người Việt. Tuy nhiên, so với các thiền sư cùng thời như Không Lộ, Minh Không hay Từ Đạo Hạnh, những nghiên cứu chuyên sâu về Giác Hải còn chưa nhiều. Các tài liệu hiện có chủ yếu nằm rải rác trong Thiền uyển tập anh, Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái, Thơ văn Lý - Trần, Địa dư huyện Quỳnh Côi cùng một số văn bia và truyền thuyết dân gian. Do đó, việc khảo cứu lại thân thế, hành trạng và đặc biệt là vai trò của Thiền sư Giác Hải trong tiến trình bản địa hóa Phật giáo là một yêu cầu cần thiết, vừa góp phần làm sáng tỏ diện mạo Phật giáo đời Lý, vừa cung cấp tư liệu cho việc nghiên cứu văn hóa - tôn giáo Việt Nam. 

    2. Tiểu sử và hành trạng của Thiền sư Giác Hải

    Về cuộc đời và sự nghiệp của Thiền sư Giác Hải được sử sách ghi chép khá ít, nhất là về quê quán, năm sinh, năm mất. Hầu hết các sách đều ghi chép Thiền sư họ Nguyễn, tên Giác Hải, người hương Hải Thanh[1], thuở nhỏ làm nghề đánh cá, năm 25 tuổi bỏ nghề vào chùa xin làm tăng, rồi kế Thừa sư Không Lộ trở thành một nhà sư thế hệ thứ 10 dòng thiền Vô ngôn thông[2].

    Các sách địa chí như: Đại Nam nhất thống chí, Tân biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược hay Địa Dư huyện Quỳnh Côi cho biết rõ hơn về Thiền sư Giác Hải: Thiền sư họ Nguyễn, húy là Quốc Y (hoặc Viên Y, Viết Y), hiệu là Giác Hải, vốn người huyện Giao Thủy, sinh vào năm Giáp Tý, niên hiệu Thuận Thiên, đời vua Lý Thái Tổ (1023). Khi nhỏ theo cha làm nghề đánh cá, sau theo mẹ về xã Yên Vệ, huyện Yên Khánh. Đến ngày mùng 4 tháng Giêng năm Thiệu Minh đời vua Lý Anh Tông (1138) thì ngài hóa, thọ 115 tuổi[3]. Hiện nay tại khu di tích làng Yên Vệ (phường Đông Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình) có chùa Phúc Long thờ phật và thờ Tiên thiên Thánh Mẫu (mẹ của Giác Hải thiền sư), và Đền Thượng thờ tam thánh:  Giác Hải, Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không, thường lấy ngày mùng 4 tháng Giêng là ngày giỗ Thiền sư Giác Hải, dân quanh vùng tổ chức lễ hội và các trò chơi dân gian.

    Theo Việt điện u linh Lĩnh Nam chích quái, Giác Hải là bạn cùng thời với Từ Đạo Hạnh và Minh Không. Ba người cùng sang Tây Trúc cầu đạo, "cùng nhau truyền đổi phép tiên, đi trên mặt nước, bay ở không trung, rồng phải xuống chầu, hổ phải nép, bay lên trời thu đất lại, muôn quái nghìn kỳ, vào thần ra quỷ, chẳng ai dò được huyền diệu. Khi ấy mới nhường Đạo Hạnh làm anh cả, Minh Không làm anh thứ, Giác Hải làm em út"[4]. Sau khi cầu đạo trở về, Giác Hải và Minh Không về Giao Thủy, trụ trì chùa Nghiêm Quang, tức Chùa Keo Hành Thiện ngày nay[5], Đạo Hạnh tu ở chùa Thiên Phúc. Đến khoảng năm 1121-1122 Giác Hải về làm trụ trì chùa Diên Phúc, sau này được vua Lý Anh Tông xuống chiếu trùng tu cho đổi tên chùa thành chùa Viên Quang vào năm Đinh Mão (1167) và vẫn do sư Giác Hải trụ trì. Đến thời Nguyễn, năm Tự Đức thứ 18 (1865) vì sông lở sát chùa nên chùa được dời vào đất trại của làng Hộ Xá (thuộc huyện Giao Thủy, nay là xã Xuân Trường, tỉnh Ninh Bình).

    Có lẽ vì sự thân thiết và cùng chí hướng nên hành trạng của Thiền sư Giác Hải thường được ghi chép cùng với Không Lộ và Từ Đạo Hạnh với nhiều truyền thuyết ly kì. Sách An Nam chí lược cho biết, Giác Hải và Không Lộ thường vào Trung Quốc xin đồng để đúc chuông và Giác Hải có tài lặn dưới nước, Không Lộ có tài bay trên không[6]. Trong tiểu truyện chép về sự tích Từ Đạo Hạnh, Lý Tế Xuyên cũng cho biết Giác Hải cùng với Minh Không dùng phép biến hóa có thể nấu nồi cơm cho quân lính ăn mãi không hết, dùng phép cho thuyền bay như tên, lại có thể dùng tay nhổ đinh và chữa bệnh cho vua[7]. Địa dư huyện Quỳnh Côi còn cho biết Giác Hải và Không Lộ đã cùng với Hiệu Quang đem quân đi giải vây cho vua khi vua Lý Thánh Tông bị quân Chiêm Thành bao vây, được vua ban thưởng nhiều vàng bạc và hai ông đã đem về phát cho dân làng[8].

    Một trong những sự tích làm nên tên tuổi sư Giác Hải được hầu hết các sách ghi chép là chuyện nhà sư làm phép cho tắc kè rơi, được vua Lý Nhân Tông hết sức khâm phục, làm thơ tặng và ban cho nhiều ân huệ. Tương truyền, dưới thời vua Lý Nhân Tông, Giác Hải cùng với Thông Huyền chân nhân cùng vâng chiếu mệnh nhà vua vời đến thạch đình. Khi đang ngồi chợt có tiếng tắc kè kêu hết sức chối tai, nhà vua hỏi có cách nào khiến tắc kỳ không kêu. Ngài Thông Huyền liền triển pháp thuật, ngồi yên niệm chú, một con tắc kè từ trên nóc rơi bộp xuống đất. Thông Huyền nói với Giác Hải: "Đang còn một con, để đó cho Sa Môn".  Giác Hải trừng mắt nhìn lên nóc thạch đình, lập tức con tắc kè khác rơi xuống. Nhà vua rất lấy làm kinh ngạc liền ngự chế một bài thơ tán thưởng: Tán Giác Hải thiền sư/ Thông Huyền đạo nhân.

Giác Hải tâm như hải

Thông Huyền đạo hựu huyền

Thần thông kiêm biến hóa

Nhất phật, nhất Thần Tiên

Tạm dịch:

Tâm Giác Hải rộng như biển cả

Tài Thông Huyền khác lạ nhiệm màu

Thần thông, biến hóa như nhau

Phật đây, Tiên đấy trước sau rõ ràng[9].

    Từ đó tiếng tăm của Giác Hải vang dậy khắp nơi, các hàng tăng lục đều tôn sùng Ngài là hàng thượng thủ. Nhân một lần khác, khi vua đến hỏi Giác Hải về phép "thần túc" (đi trên không) có thật không. Sư bèn "hiển hiện thần thông, nhảy vọt lên không trung, cao hơn mặt đất đến vài trượng đi đi lại lại một lúc rồi mới xuống. Nhà vua và quần thần đều chắp tay lạy tỏ ý khâm phục và khen ngợi, nhân đó ngài được ân tứ rất hậu, cho được tự do đi kiệu ra vào cửa khuyết. Sau việc này vua ban cho tên hiệu là Giác Hải Tinh chiếu đại sư và còn cho ngài được theo họ nhà vua[10].

    Tại chùa Viên Quang hiện nay vẫn còn lưu giữ tấm bia Viên Quang tự bi minh do Dĩnh Đạt soạn dưới thời vua Lý Cao Tông (1175-1210). Văn bia vẫn còn bút tích của sư Giác Hải, đồng thời nội dung văn bia đã thuật lại khá rõ chuyện sư Giác Hải trụ trì tại chùa và ca ngợi Phật pháp cao siêu của Thiền sư Giác Hải và công đức vô lượng của ông. Dĩnh Đạt đánh giá đức hạnh và tài năng của Giác Hải không kém gì hai vị cao tăng là Trúc Pháp người Ấn Độ và Chí Công người Trung Quốc[11]. Nhờ pháp thuật cao siêu và công đức với dân chúng, thiền sư được mang quốc tính (họ Lý), khi mất được nhà vua xuống chiếu cho lấy thuế 30 hộ để cúng hương hỏa, lại cho hai người con của sư làm quan để tỏ lòng khen thưởng[12]. Đây là bằng chứng cho thấy triều đình thừa nhận và vinh danh công lao “hộ quốc” của vị Thiền sư Giác Hải. Trong bài kệ bia Viên Quang tự bi minh có câu: "Quốc vương đại thần/Giác Hải đại sỹ/là người họ Lý/xuất gia tu hành/chứng ngộ chân lý/Cưỡi voi lớn kia/Ra mắt thiên tử/Thần Tông tôn sùng/Anh Tông hâm mộ/ Sắc ban tông tộc/ Nhà cư làng cũ/ Người thảy nể vì/ Người đời khôn đọ"[13] đã cho thấy Giác Hải đã tu đến đắc đạo, được các vua tôn sùng, hâm mộ, người dân kính nể.

    Như vậy, có thể thấy việc ghi chép về cuộc đời và hành trạng của Thiền sư Giác Hải không được rõ ràng như các bậc thiền sư khác, song sự ghi nhận của các vua thời Lý cũng như sự tôn sùng của hậu thế đã cho thấy ông có vai trò không nhỏ đối với sự phát triển của Phật giáo thời Lý.

    3. Thiền sư Giác Hải - người bản địa hóa tư tưởng Phật giáo, khơi nguồn cho Phật giáo Đại Việt

    Thời Lý là giai đoạn mà Phật giáo không chỉ là một tôn giáo, mà còn trở thành nền tảng tinh thần của triều đình. Sử cũ ghi lại rằng ngay từ đầu triều Lý, “dân chúng quá nửa làm sư sãi, trong nước chỗ nào cũng có chùa chiền"[14]. Vua Lý Thái Tổ và các thế hệ sau đều trọng dụng tăng sĩ, coi họ là bậc thầy tinh thần, đồng thời cũng là những người có khả năng hộ trì quốc gia. Trong bối cảnh đó, Thiền sư Giác Hải trở thành một nhân vật đặc biệt: ông là biểu tượng cho sự gắn kết giữa thiền môn và vương quyền, giữa Phật giáo và chính trị. Thiền sư Giác Hải cũng trở thành cầu nối giữa Phật giáo - Vương quyền và Cộng đồng, khi ngài từ một ngư phủ trở thành "bậc thầy của vua", được vua tôn kính, được dân tin tưởng và yêu mến, những nơi sư trụ trì đều được các vua thời Lý thường xuyên ghé thăm và rất quan tâm. Giác Hải là biểu tượng của một nhà sư góp phần tạo dựng hình ảnh Phật giáo hộ quốc, củng cố niềm tin chính trị của thần dân đối với triều Lý.

    Theo Thiền uyển tập anh, Giác Hải thuộc thế hệ thứ 10 của phái thiền Vô Ngôn Thông và cũng là thế hệ thứ hai của phái Thảo đường. Vì thế, có thể nói trong tư tưởng và triết lý tu thiền của Giác Hải có nhiều điều đặc biệt. Nội dung cốt lõi của phái thiền Vô Ngôn Thông là đốn ngộ, nghĩa là giác ngộ đến đột ngột, trong phút chốc, lúc ánh sáng của Tuệ - Bát Nhã lóe lên, do đó không cần đến ngôn ngữ, văn tự[15], thì ở phái Thảo Đường điểm nổi bật là khuynh hướng mật giáo, nghĩa là mang yếu tố huyền bí, bùa chú. Thiền sư Giác Hải đã thấm nhuần đạo lý của phái thiền Vô Ngôn Thông, sử dụng uyển chuyển cùng với những bùa chú, những câu kệ để từng bước đưa giáo lý của Phật giáo dễ dàng đến gần hơn với mọi tầng lớp nhân dân, khác với những nội dung giáo lý khi mới được đưa vào Việt Nam, coi việc thiền tụng là thoát tục thuần túy.

    Có thể thấy một trong những dấu ấn quan trọng của thiền sư Giác Hải là ở thiền kệ - những bài thơ ngắn gọn nhưng súc tích, vừa thể hiện tư tưởng Phật học, vừa phản ánh sự thích ứng với tâm thức người Việt. Khác với những kinh văn khó hiểu, trừu tượng, kệ của Giác Hải thường sử dụng hình ảnh đời thường, dân dã. Nhờ vậy, giáo lý vốn phức tạp của Phật giáo đã được “dịch” sang ngôn ngữ bản địa, dễ nhớ, dễ truyền khẩu trong cộng đồng. Điều này được thể hiện rõ trong hai tác phẩm  mà ông để lại cho hậu thế.

    Để trả lời cho câu hỏi "Phật và chúng sinh ai là khách, ai là chủ", Thiền sư Giác Hải viết:

 Bất giác nữ đầu bạch

 Báo nhĩ tác giả thức

Nhược vấn Phật cảnh giới

Long môn tao điểm ngạch

Dịch nghĩa: Nào ai biết rằng trong cô gái trẻ trung đã thấy mái đầu bạc

nói cho người học đạo hiểu

Nếu cứ lo tìm hỏi đâu là cõi Phật

Thì cũng như cá chép nhảy thi ở Long môn bị chấm trán mà thôi.[16]

    Bài kệ sử dụng hai hình ảnh gần gũi: cô gái trẻ với mái tóc bạc và cá chép vượt Long Môn. Đây đều là hình ảnh quen thuộc trong đời sống người Việt thời trung đại: sự già - trẻ, và tích cá hóa rồng. Thiền sư đã chỉ cho người hỏi thấy rằng trong hình ảnh cô gái trẻ kia là ẩn dấu hình ảnh một bà già tóc bạc trong nay mai, nghĩa là mái đầu không xanh mãi, trước là cô gái trẻ và kế tiếp khi mái đầu ngã bạc sẽ thành bà già. Cũng như chúng sinh và Phật không phải là hai, không ai là khách, không ai là chủ, bởi bây giờ là chúng sinh nhưng nếu tu tập giác ngộ và giải thoát, mai kia là Phật. Giống như giáo lý của phái thiền Vô Ngôn Thông khi nói đến Tâm Phật là một, không phải là hai. Vị tổ của phái thiền Vô Ngôn Thông đã từng nói: Tất cả các pháp từ tâm sinh, nếu tâm không sinh thì pháp làm sao đứng vững được. Nếu đạt được tâm địa thì hành động sẽ hoàn toàn tự do. Thiền sư Cửu Chỉ thuộc thế hệ thứ 7 của phái Vô Ngôn Thông cũng viết "hết thảy mọi pháp môn bắt nguồn từ tính; hết thảy mọi pháp tính bắt nguồn từ Tâm. Tâm và Pháp là một, đâu phải là hai"[17], nghĩa là nếu đạt ngộ thì tâm là Phật, pháp là Phật, tất cả những gì từ tâm địa phát sinh đều là Phật. Từ đó Giác Hải khuyên rằng không nên đi tìm cảnh giới của Phật ở đâu xa, giống như cá chép kia cố gắng vượt long môn nhưng không được mà bị chấm trán trở về: Nhược vấn Phật cảnh giới/ Long môn tao điểm ngạch. Tức là, Phật không nằm ở đâu xa, mà chính ở trong tự thân, ngay trong đời sống thường ngày.

    Ở bài kệ thứ hai, Giác Hải cũng dùng những hình ảnh thân thuộc là hoa và bướm để nói lên giáo lý duyên khởi trong đạo Phật. Nội dung bài kệ như sau:

Xuân lai hoa điệp thiện tri thì

Hoa điệp ưng tu cộng ưng kỳ

Hoa điệp bản lai giai thị huyễn

Mạc tu hoa điệp hướng tâm trì

Dịch nghĩa:

Xuân sang hoa và bướm khéo quen với thời tiết

Hoa bướm đều cần phải thích ứng với kỳ hạn của chúng

Nhưng hoa với bướm vốn dĩ là hư ảo

Chớ nên bận tâm về hoa với bướm[18]

    Giác Hải đã chỉ ra rằng hoa và bướm là hiện tượng tự nhiên của đất trời, mùa Xuân đến thì hoa nở, hoa có nở thì bướm mới bay đến để hút mật, đó là chu kỳ của tạo hóa. Thiền sư Giác Hải cũng như các thiền sư khác của phái Vô Ngôn Thông đều nhận ra rằng, mọi hiện tượng của thế giới hiện ra trước mắt chỉ là ảo, cả hoa và bướm đều là hiện tượng vô thường, vốn dĩ đều hư ảo. Cũng giống như bản thân mỗi người - thể xác cũng là ảo, sinh rồi diệt, cát bụi trở về với cát bụi - đó là quy luật của tạo hóa.

    4. Kết luận

    Qua khảo cứu tư liệu và phân tích, có thể khẳng định rằng Thiền sư Giác Hải là một trong những nhân vật tiêu biểu cho quá trình bản địa hóa Phật giáo Đại Việt thời Lý. Giác Hải không chỉ là một nhà tu hành mà còn trở thành biểu tượng “hộ quốc an dân”. Những truyền thuyết về việc cứu giá, trừ tà, hiển hiện thần thông đều phản ánh niềm tin của triều đình và nhân dân rằng Phật giáo có khả năng bảo hộ quốc gia. Việc vua Lý Nhân Tông ban thơ ca ngợi, cho phép ra vào cửa khuyết bằng kiệu, hay việc nhà vua cấp hộ dân để phụng thờ sau khi ông viên tịch, cho thấy sự gắn bó mật thiết giữa thiền sư và vương quyền. Nhờ đó, Phật giáo không còn chỉ là tôn giáo nhập ngoại mà trở thành một trụ cột tinh thần của quốc gia Đại Việt.

    Giác Hải không chỉ kế thừa tư tưởng của thiền Vô Ngôn Thông mà còn chuyển hóa nó theo hướng nhập thế, kết hợp pháp thuật, hành đạo, trị bệnh, bảo vệ cộng đồng. Ông không dùng ngôn ngữ trừu tượng mà dùng hình ảnh gần gũi để giáo lý Phật giáo được chuyển tải đến cộng đồng một cách dễ hiểu, dễ ghi nhớ, góp phần đưa Phật pháp hòa nhập vào tâm thức dân gian và văn hóa Việt. Nhờ đó chùa Đại Việt không chỉ là nơi giảng kinh, niệm phật mà đã trở thành nơi sinh hoạt của cộng đồng dân cư.

 

Chú thích:

[1] Hương Hải Thanh nay thuộc xã Xuân Hồng, tỉnh Ninh Bình.

[2] Thiền uyển tập anh, in trong Lê Mạnh Thát, Nghiên cứu về Thiền uyển tập anh, Nxb TP.Hồ Chí Minh, 1999, tr.232

Khánh Vân Nguyễn Thụy Hòa, Tiểu truyện các thuyền sư Việt Nam, Phái Vô ngôn thông, Nha tuyên úy Phật giáo ấn hành 2517 - 1974.

Thơ văn Lý - Trần, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977.

[3] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập 3, Nxb Thuận Hóa, 2006, tr.317; Ngô Vi Liên (tri huyện Quỳnh Côi, Thái Bình, Địa Dư huyện Quỳnh Côi, in tại nhà in Lê Văn Tân, Hà Nội, 1933, tr.69-70; Dương Văn Vượng dịch, Phòng địa chí - thư mục tỉnh Nam Định chỉnh lý, chế bản, Tân biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược, tr.146

[4] Lý Tế Xuyên, Việt điện U linh tập,bản PDF, tr.104

[5]  Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập 3, sđd, tr.317

[6] Lê Tắc, An Nam chí lược,Viện Đại học Huế, Ủy ban phiên dịch sử liệu Việt Nam, 1961, tr.123

[7] Lý Tế Xuyên, Việt điện u linh tập, sđd, tr.106

[8] Ngô Vi Liên (tri huyện Quỳnh Côi, Thái Bình), Địa Dư huyện Quỳnh Côi, in tại nhà in Lê Văn Tân, Hà Nội, 1933, tr.66

[10] Ngô Vi Liên (tri huyện Quỳnh Côi, Thái Bình, Địa Dư huyện Quỳnh Côi, sđd, tr.66, 70.

Khánh Vân Nguyễn Thụy Hòa, Tiểu truyện các thuyền sư Việt Nam, Phái Vô ngôn thông, sđd, tr.231-234.

[11] Chí Công: tức Bảo Chí hay Bảo Công, là nhà sư thời Lục triều Trung Quốc, ông rất có thần lực, dự đoán được việc lớn quốc gia

Trúc Pháp:  tức Trúc Pháp Lan, vị cao tăng nổi tiếng người Ấn Độ, cùng Ma Đằng có công lao truyền bá Phật giáo vào Trung Quốc

[12] Lê Mạnh Thát, Nghiên cứu về Thiền uyển tập anh, sđd, tr.233

[13] Văn bia thời Lý, Dịch chú và giới thiệu Nguyễn Văn Thịnh, Hoàng Văn Lâu, Phạm Văn Ánh, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010, tr. 315

[14] Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, 1993, tr.242

[15] Nguyễn Tài Thư (cb), Minh Chi, Lý Kim Hoa, Hà Thúc Minh, Hà Văn Tấn, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nxb Đại học sư phạm Hà Nội, 2021, tr. 150

[16] Thơ văn Lý - Trần, tập 1, sđd, tr.444

[17] Nguyễn Tài Thư (cb), Minh Chi, Lý Kim Hoa, Hà Thúc Minh, Hà Văn Tấn, Lịch sử Phật giáo Việt Nam,  sđd, tr.154

[18] Thơ văn Lý - Trần, tập 1, sđd, tr.445.

Avatar: https://chonthieng.com/nhan-vat/thien-su-giac-hai/, truy cập 17-9-2026.

TS. Nguyễn Thị Hải, Viện Sử học, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam
Tin nổi bật
  • Bộ sách gồm 10 tập, Viện Sử học dịch, Nxb KHXH xuất bản.
    23/04/2013
  • Đại Nam nhất thống chí đời Tự Đức là bộ sách địa lý học Việt Nam đầy đủ nhất dưới thời phong kiến. Đại Nam nhất thống chí theo bộ Đại Thanh nhất thống chí của Trung Quốc mà chia ra các mục như: phương vi, phân dã, kiến trí, duyên cách, phủ huyện, hình thế, khí hậu, phong tục, thành trì, học hiệu, hộ khẩu, điền phú, sơn xuyên, quan tấn, dịch trạm, thị lập, tứ miếu, tự quán, phân việt, thổ sản, v.v... Ngoài ra, Đại Nam nhất thống chí còn có quyển chép riêng về Cao Miên (Campuchia), Xiêm La, Miến Điện, Nam Chưởng, Vạn Tượng.
    22/04/2013
  • Trong tập sách này, các tác giả không chỉ trình bày các sự kiện về quân sự, chính trị mà còn nêu lên nhiều sự kiện khác thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại....
    27/09/2012
  • "Việt Nam những sự kiện lịch sử (Từ khởi thủy đến 1858)" là cuốn sách ghi lại các sự kiện lịch sử nước nhà từ khởi thủy đến khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược vào giữa thế kỷ XIX.
    27/09/2012
  • Đại Nam liệt truyện là một bộ sách có quy mô khá đồ sộ trong kho tàng thư tịch cổ viết bằng chữ Hán của Việt Nam, do cơ quan làm sử chính thức của nhà Nguyễn là Quốc sử quán biên soạn vào giữa thế kỷ XIX.
    24/09/2012
  • Lịch triều hiến chương loại chí là bộ bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam. Có nghĩa là Phép tắc các triều đại chép theo thể phân loại do Phan Huy Chú soạn trong 10 năm (1809-1819).
    23/09/2012
  • Là bộ sử có giá trị to lớn và quan trọng bậc nhất trong nền sử học Việt Nam thời kỳ cổ trung đại. Bộ chính sử do Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê biên soạn.
    22/09/2012
  • Cuốn sách Cổ luật Việt Nam gốm 2 bộ Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ. Quốc triều hình luật (còn gọi là bộ luật Hồng Đức) và Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là bộ luật Gia Long) là hai bộ cổ luật duy nhất còn lại cho đến nay của các triều đại phong kiến Việt Nam; là những di sản quý giá có giá trị tham khảo về nhiều mặt cho chúng ta ngày nay.
    19/09/2012
  • Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ là một bộ sách được biên soạn dưới triều Nguyễn theo thể loại Hội điển. Thể loại này được đặt ra nhằm ghi chép lại các điển pháp, quy chuẩn và các dữ kiện liên quan đến tổ chức và hoạt động của một triều đại, một Nhà nước.
    19/09/2012
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1