image banner

Chuyển đổi số gắn với cải cách hành chính trong các viện nghiên cứu: Nhìn từ thực tiễn Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Chuyển đổi số đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy cải cách hành chính và đổi mới phương thức quản trị tại các viện nghiên cứu. Thông qua phân tích thực tiễn tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (Viện Hàn lâm), bài viết làm rõ mối quan hệ giữa chuyển đổi số và cải cách hành chính, phân tích những đặc thù của quá trình chuyển đổi số trong cơ quan nghiên cứu, từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu. Trên cơ sở nhận diện những điểm nghẽn về dữ liệu, hạ tầng, nhân lực và cơ chế phối hợp, bài viết đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao hiệu quả chuyển đổi số, hướng tới xây dựng mô hình quản trị tinh gọn, liên thông đáp ứng yêu cầu mới.

Mở đầu

Chuyển đổi số đang làm thay đổi sâu sắc phương thức vận hành của cơ quan nhà nước, tổ chức công và các đơn vị sự nghiệp. Tại Việt Nam, chuyển đổi số được đặt trong một tiến trình chính sách ngày càng được cụ thể và hoàn thiện. Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 3/6/2020 về Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 xác định chuyển đổi số hướng tới mục tiêu kép là phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số, đồng thời hình thành các doanh nghiệp công nghệ số có năng lực đi ra toàn cầu. Trong khi đó, Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021-2030 xác định sáu nội dung trọng tâm, trong đó xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số là một trong những nội dung cốt lõi của cải cách hành chính [1,2].

Đối với hệ thống viện nghiên cứu, sự kết hợp giữa chuyển đổi số và cải cách hành chính càng có ý nghĩa đặc biệt. Hoạt động của một viện nghiên cứu không chỉ bao gồm quản lý hành chính thông thường, mà còn gắn với quản lý nhiệm vụ khoa học, đội ngũ nghiên cứu, cơ sở dữ liệu và các mạng lưới hợp tác trong nước, quốc tế. Vì vậy, nếu được triển khai đúng hướng, chuyển đổi số sẽ trở thành động lực để tinh gọn quy trình, tăng tính minh bạch, giảm chi phí hành chính và dành nhiều nguồn lực hơn cho hoạt động nghiên cứu.

Trong phạm vi bài viết này, khung phân tích được đặt trong bối cảnh chung của các viện nghiên cứu, nhưng các dẫn chứng thực tiễn chủ yếu được rút ra từ quá trình triển khai chuyển đổi số tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Cách tiếp cận này sẽ góp phần làm rõ những vấn đề có tính đặc thù của cơ quan nghiên cứu thông qua một trường hợp thực tiễn cụ thể.

Nội dung

1. Chuyển đổi số và cải cách hành chính: hai quá trình, một mục tiêu

Chuyển đổi số và cải cách hành chính thường được nhìn nhận như hai quá trình khác nhau: một bên thiên về công nghệ, dữ liệu và hạ tầng số, bên kia tập trung vào thể chế, thủ tục, tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ. Tuy nhiên, trong thực tế, hai quá trình này có mối quan hệ ngày càng chặt chẽ. Cải cách hành chính tạo ra yêu cầu thay đổi phương thức quản trị, còn chuyển đổi số cung cấp công cụ và phương thức mới để thực hiện sự thay đổi đó.

Nghiên cứu của Mergel, Edelmann và Haug chỉ ra rằng, cần phải xem xét chuyển đổi số như một phương thức tiếp cận toàn diện ở cấp độ tổ chức thay vì chỉ đơn thuần là đưa dữ liệu lên nền tảng trực tuyến hay chuyển đổi phương thức cung cấp dịch vụ công từ truyền thống sang kỹ thuật số [3]. Đây cũng là một điểm đặc biệt quan trọng đối với các viện nghiên cứu. Nếu một quy trình hành chính chỉ được chuyển từ hồ sơ giấy sang hồ sơ điện tử thì thời gian xử lý và chi phí có thể giảm, nhưng bản chất của quy trình chưa thay đổi. Chuyển đổi số chỉ thực sự trở thành động lực cải cách khi công nghệ được sử dụng để tái thiết quy trình, loại bỏ khâu trung gian không cần thiết, kết nối dữ liệu giữa các đơn vị, tự động hóa những công việc lặp lại và hỗ trợ lãnh đạo ra quyết định dựa trên dữ liệu.

Tinh thần này càng được củng cố bởi Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị. Nghị quyết xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội [4]. Trên tinh thần này, giá trị chuyển đổi số tại các viện nghiên cứu không nằm ở số lượng phần mềm được triển khai, mà ở mức độ đóng góp của việc chuyển đổi này để quá trình vận hành đơn giản hơn, phối hợp tốt hơn, ra quyết định nhanh hơn và phục vụ hoạt động nghiên cứu hiệu quả hơn.

2. Đặc thù của chuyển đổi số trong viện nghiên cứu

Chuyển đổi số trong viện nghiên cứu có những đặc thù khác với quá trình chuyển đổi số ở các cơ quan hành chính thuần túy. Nếu ở cơ quan hành chính, trọng tâm thường là số hóa thủ tục, cung cấp dịch vụ công và nâng cao hiệu quả xử lý hồ sơ, thì ở viện nghiên cứu, chuyển đổi số đồng thời phải phục vụ hai nhóm hoạt động có quan hệ mật thiết: quản trị tổ chức và sản xuất tri thức. Vì vậy, như đã đề cập, đối tượng chuyển đổi số tại viện nghiên cứu không chỉ là văn bản, hồ sơ hay quy trình hành chính, mà còn bao gồm dữ liệu nghiên cứu, tư liệu, kết quả nghiên cứu khoa học, đội ngũ chuyên gia và các mạng lưới hợp tác.

Đặc điểm nổi bật đầu tiên trong chuyển đổi số tại các viện nghiên cứu là tính đa dạng và sự phân tán của dữ liệu. Một viện nghiên cứu có thể đồng thời quản lý dữ liệu về cán bộ, đề tài, kinh phí, công bố, hội thảo, thư viện, tư liệu lưu trữ và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Các loại tư liệu này có đặc điểm kỹ thuật, yêu cầu quản lý và phương thức khai thác không giống nhau. Ví dụ như, đề tài khoa học cần được tổ chức, mô tả theo những yêu cầu khác với hiện vật bảo tàng hay dữ liệu đa phương tiện. Tại Hội nghị 23/7/2026, Viện Hàn lâm đã xây dựng riêng các nội dung kỹ thuật đối với tài liệu lưu trữ, thư viện, hiện vật bảo tàng và dữ liệu đa phương tiện, đồng thời đặt ra các yêu cầu về metadata, định danh, kiểm soát chất lượng, sao lưu, phân quyền và kết nối với cơ sở dữ liệu tổng thể [5].

Thứ hai, chuyển đổi số trong viện nghiên cứu phải gắn với đặc thù của quy trình nghiên cứu khoa học. Đây không phải những quy trình hành chính đơn tuyến mà thường liên quan đến nhiều chủ thể: nhà nghiên cứu, hội đồng khoa học, quản lý khoa học, tài chính, thư viện, xuất bản. Do đó, một hệ thống số hiệu quả cần tạo được sự liên thông giữa các khâu, thay vì chỉ số hóa từng công đoạn riêng lẻ. Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) cho rằng chuyển đổi số trong khu vực công đang chuyển từ cách tiếp cận dựa trên dự án số hóa riêng biệt sang cách tiếp cận mang tính hệ thống, trong đó dữ liệu, công nghệ, năng lực tổ chức và phương thức làm việc phải được tích hợp vào hoạt động thường nhật [6]. Viện Hàn lâm xác định, trọng tâm chuyển đổi số trong năm 2026 là đẩy mạnh số hóa dữ liệu, bao gồm dữ liệu hành chính và dữ liệu nội sinh phục vụ nghiên cứu khoa học. Thực hiện mục tiêu đó, Viện đã đang triển khai các nhiệm vụ xây dựng Chiến lược chuyển đổi số của Viện Hàn lâm giai đoạn 2026-2030, Chiến lược dữ liệu đến năm 2030 và Khung kiến trúc số [7,8].

Thứ ba, đối tượng phục vụ của chuyển đổi số trong viện nghiên cứu cũng rất đặc thù. Nhà nghiên cứu vừa là người sử dụng hệ thống hành chính, vừa là người tạo ra và khai thác dữ liệu khoa học. Vì vậy, hiệu quả chuyển đổi số không thể chỉ đo bằng số lượng hồ sơ được xử lý trực tuyến mà phải được đánh giá qua khả năng giảm thời gian hành chính, tăng khả năng tiếp cận tư liệu, kết nối dữ liệu, hỗ trợ hợp tác và nâng cao chất lượng nghiên cứu. Thực tiễn tại Viện Hàn lâm cho thấy các hệ thống dùng chung phục vụ điều hành như quản lý văn bản, quản lý thông tin viên chức, chữ ký số đã được khai thác ngày càng nhiều, đồng thời các đơn vị đặt ra nhu cầu hiện đại hóa quy trình, xây dựng hệ thống quản lý website các tạp chí khoa học và tự động hóa quy trình nghiệp vụ. Tại Hội nghị vào tháng 8/2026, chuyển đổi số tại Viện Hàn lâm tiếp tục được đặt trong mối liên hệ trực tiếp với cải cách hành chính và yêu cầu tháo gỡ các điểm nghẽn trong quản trị [9].

3. Từ số hóa hồ sơ đến quản trị dữ liệu

Trong chuyển đổi số, số hóa chỉ là bước đầu, quản trị dữ liệu mới là mục tiêu trọng yếu. Đối với viện nghiên cứu, có thể nhìn nhận quản trị dữ liệu theo một chu trình gồm” hình thành dữ liệu – chuẩn hóa – định danh và mô tả - kết nối – chia sẻ - tái sử dụng – bảo đảm an toàn. Tiếp cận theo chu trình này sẽ giúp khắc phục tình trạng xem việc tạo ra một tệp điện tử là điểm kết thúc của số hóa.

Thứ nhất, ở khâu hình thành, cần xác định dữ liệu được tạo ra từ đâu, gắn với nghiệp vụ hoặc hoạt động khoa học nào, đơn vị nào có trách nhiệm quản lý, mục đích sử dụng như thế nào để có thể tổ chức theo các nhóm dữ liệu phù hợp.

Thứ hai, ở khâu chuẩn khóa và định danh, cần thống nhất cấu trúc dữ liệu, tiêu chuẩn siêu dữ liệu, mã định danh và quy tắc kiểm soát chất lượng. Một tài liệu nghiên cứu sau khi được số hóa không nên chỉ tồn tại dưới dạng một tệp PDF, mà cần được gắn với thông tin về nguồn gốc, tác giả, thời gian, nhiệm vụ khoa học, tình trạng nghiệm thu, quyền sử dụng, mức độ bảo mật và khả năng khai thác. Nghị định số 47/2020/NĐ-CP ngày 9/4/2020 của Chính phủ về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước cũng đặt vấn đề kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu trong một khuôn khổ pháp lý thống nhất [10].

Thứ ba, ở khâu kết nối và chia sẻ, dữ liệu cần có khả năng trao đổi giữa các hệ thống và đơn vị theo những quy tắc được thống nhất. Đây là điều kiện để giảm tình trạng dữ liệu bị phân tán và giúp thông tin được sử dụng cho nhiều quy trình thay vì chỉ phục vụ một nghiệp vụ đơn lẻ.

Thứ tư, ở khâu tái sử dụng, dữ liệu đã được chuẩn hóa và kết nối cần có khả năng phục vụ nhiều mục đích phù hợp. Khi dữ liệu về nhiệm vụ khoa học, nhà nghiên cứu, công bố, tư liệu và kết quả nghiên cứu được tổ chức tốt, viện có thể theo dõi tiến độ, đánh giá sản phẩm, nhận diện thế mạnh nghiên cứu và hỗ trợ đưa ra các tư vấn khoa học. Dữ liệu cũng có thể được sử dụng cho những nghiên cứu mới, giảm trùng lặp và nâng cao hiệu quả khai thác nguồn lực khoa học.

Thứ năm, toàn bộ chu trình phải đi kèm bảo đảm an toàn dữ liệu. Đối với viện nghiên cứu, bên cạnh dữ liệu hành chính còn có dữ liệu nghiên cứu, tư liệu chưa công bố và thông tin thuộc diện hạn chế tiếp cận. Vì vậy, chia sẻ dữ liệu phải đi cùng phân quyền, sao lưu, bảo mật và kiểm soát quyền truy cập phù hợp. Báo cáo Digital Government Outlook 2026 nhấn mạnh rằng, nhiều quốc gia đã xây dựng chiến lược dữ liệu, nhưng thách thức lớn vẫn nằm ở khâu thực thi: bảo đảm chất lượng dữ liệu, thúc đẩy tái sử dụng và làm cho các hệ thống có thể kết nối, trao đổi thông tin một cách tin cậy [11].

Có thể khẳng định, giá trị của chuyển đổi số trong cải cách hành chính tại các viện nghiên cứu không nằm ở số lượng hồ sơ được đưa lên môi trường điện tử, mà ở khả năng biến dữ liệu thành một nguồn lực của quản trị và nghiên cứu. Khi đó, dữ liệu không còn là “sản phẩm phụ” của hoạt động hành chính mà trở thành hạ tầng quan trọng để xây dựng một viện nghiên cứu vận hành liên thông, minh bạch, hiệu quả và có khả năng thích ứng với yêu cầu mới.

4. Những điểm nghẽn và một số đề xuất

*  Những điểm nghẽn

Trong quá trình thực hiện chuyển đổi số, đặc biệt là tại các viện nghiên cứu, có thể thấy rằng, điểm nghẽn chủ yếu nằm ở khâu chuyển chủ trương thành quy trình và kết quả cụ thể. Những khó khăn trên xuất phát từ thực tế các viện nghiên cứu phải đồng thời đáp ứng yêu cầu quản trị hành chính, quản lý hoạt động khoa học và bảo tồn, khai thác một khối lượng lớn tư liệu chuyên ngành.

Một trong những điểm nghẽn đầu tiên đó là dữ liệu chưa được chuẩn hóa và liên thông đầy đủ. Như kết luận tại Hội nghị ngày 23/7/2026 của Viện Hàn lâm cho thấy, khối lượng tài liệu cần số hóa rất lớn, bao gồm hồ sơ lưu trữ, sách, báo, tạp chí, luận án, hiện vật bảo tàng, tư liệu phim ảnh, âm thanh, và các nguồn dữ liệu chuyên ngành. Trong khi đó, tỷ lệ số hóa còn thấp và mức độ chuẩn hóa chưa đồng đèu, nhiều dữ liệu chưa đủ điều kiện để tích hợp vào hệ thống quản lý tập trung. Vì vậy, việc xác định thống nhất chuẩn số hóa, metadata, định danh, kiểm soát chất lượng, sao lưu và phân quyền khai thác là những yêu cầu nền tảng [12].

Thứ hai, là số hóa chưa đồng đều và việc số hóa không phải lúc nào cũng đi kèm với khả năng khai thác dữ liệu. Theo số liệu cập nhật tại Hội nghị ngày 19/8/2026 của Viện Hàn lâm, chưa đơn vị nào đồng thời đáp ứng đầy đủ yêu cầu về phân loại 100% tài liệu và lượng hóa số trang, tỷ lệ số hóa trong 100 ngày. Đáng chú ý, nhóm tài liệu “đã số hóa nhưng chưa đúng tiêu chuẩn” còn bị bỏ sót ở nhiều đơn vị [13].

Thứ ba, hạ tầng, thiết bị và nguồn lực tài chính có thể trở thành một thách thức đối với tiến độ và quy mô chuyển đổi số. Chuyển đổi số trong các cơ quan nghiên cứu đòi hỏi đầu tư không chỉ cho phần mềm mà còn cho hạ tầng mạng, máy chủ, lưu trữ, thiết bị số hóa, bảo mật, sao lưu dữ liệu và các nền tảng dùng chung. Đây là một thách thức đáng kể, nhất là đối với những cơ quan có khối lượng tư liệu lớn, nhiều dữ liệu chuyên ngành và phải duy trì hệ thống trong thời gian dài.

Thứ tư, năng lực số và khả năng kết hợp giữa chuyên môn nghiên cứu với công nghệ là một thách thức cần được quan tâm. Công nghệ có thể được mua hoặc thuê, nhưng năng lực tổ chức, hiểu biết về dữ liệu và khả năng quản trị công nghệ phải được xây dựng từ bên trong. Cơ quan nghiên cứu phải có những cán bộ có khả năng hiểu đồng thời nghiệp vụ, dữ liệu, công nghệ và quản trị thay đổi, qua đó làm cầu nối giữa chuyên môn và giải pháp số.

Thứ năm, thể chế, cơ chế phối hợp và kỷ luật thực thi có thể trở thành điểm nghẽn khi chuyển đổi số được triển khai trên một hệ thống gồm nhiều đơn vị và nhiều nhóm dữ liệu. Chuyển đổi số được bắt đầu bằng công nghệ, nhưng thành công lại được quyết định bởi thể chế và cơ chế tổ chức. Một hệ thống số khó vận hành hiệu quả nếu quy định về trách nhiệm quản lý dữ liệu chưa có, quy trình nội bộ chưa được chuẩn hóa, việc chia sẻ dữ liệu giữa các đơn vị chưa có cơ chế cụ thể. Khi đó, mỗi đơn vị có thể xây dựng một hệ thống riêng, tạo ra “những ốc đảo dữ liệu” và làm giảm khả năng liên thông của toàn tổ chức.

* Một số đề xuất

Từ thực tế trên, để quá trình chuyển đổi số trong cải cách hành chính tại các viện nghiên cứu có thể mang lại hiệu quả cao hơn, trước tiên chúng ta cần chuyển từ tư duy “triển khai phần mềm” sang “cải cách phương thức vận hành”.

Trước hết, cần xây dựng và thực hiện khung quản trị dữ liệu trong toàn viện nghiên cứu. Trọng tâm là xác định rõ nhóm dữ liệu dùng chung; thống nhất chuẩn dữ liệu, siêu dữ liệu; mã định danh và quy tắc đặt tên; trách nhiệm của các đơn vị trong việc tạo lập, cập nhật, kiểm tra và quản lý dữ liệu. Đối với những nhóm dữ liệu có khả năng chia sẻ, cần xác định rõ quyền truy cập, cơ chế kết nối và phương thức tích hợp vào cơ sở dữ liệu tổng thể.

Thứ hai, cần chuyển trọng tâm từ “số lượng” sang “chất lượng và khả năng sử dụng dữ liệu sau số hóa”. Các chỉ tiêu của kế hoạch số hóa cần được bổ sung theo hướng không chỉ tính số trang hoặc số tài liệu đã quét, mà còn đánh giá tỷ lệ tài liệu được chuẩn hóa, khả năng tìm kiếm, kết nối và tái sử dụng.

Thứ ba, cần ưu tiên đầu tư theo kiến trúc tổng thể và mức độ cần thiết của từng nhóm dữ liệu thay vì đầu tư phân tán theo từng đơn vị. Hạ tầng chuyển đổi số cần được xem xét đồng bộ từ mạng, máy chủ, lưu trữ, thiết bị số hóa, sao lưu, bảo mật đến các nền tảng dùng chung, đồng thời, cần xác định rõ những hạng mục có thể sử dụng chung, những hạng mục cần đầu tư riêng cho từng đơn vị.

Thứ tư, cần phát triển đội ngũ theo hướng kết hợp năng lực chuyên môn, năng lực dữ liệu và năng lực công nghệ. Đào tạo cán bộ không nên chỉ dừng ở hướng dẫn sử dụng phần mềm, mà cần trang bị kiến thức về chuẩn hóa dữ liệu, siêu dữ liệu, quy trình số hóa, kiểm soát chất lượng, bảo mật, khai thác và chia sẻ dữ liệu. Đối với mỗi nhóm dữ liệu chuyên ngành, cần có cán bộ vừa hiểu nghiệp vụ vừa có khả năng phối hợp với bộ phận công nghệ để tổ chức và quản trị dữ liệu.

Thứ năm, cần hoàn thiện cơ chế phân công trách nhiệm, phối hợp và giám sát theo hướng rõ đầu mối, rõ nhiệm vụ, rõ tiến độ và rõ sản phẩm. Chuyển đổi số ở viện nghiên cứu liên quan đến nhiều đơn vị và nhiều nhóm dữ liệu nên cần xác định rõ đơn vị chủ trì, phối hợp, trách nhiệm quản lý đối với từng loại dữ liệu, từng nền tảng và từng quy trình. Đồng thời, cần rà soát, chuẩn hóa và tái thiết kế các quy trình nội bộ, tránh đưa nguyên trạng một quy trình bất hợp lý lên môi trường điện tử.

Kết luận

Chuyển đổi số đang đặt ra yêu cầu mới đối với phương thức quản trị của các viện nghiên cứu. Đây không chỉ là việc thay thế hồ sơ giấy bằng hồ sơ điện tử hay đưa các quy trình hiện có lên phần mềm, mà phải trở thành động lực thúc đẩy cải cách hành chính và đổi mới phương thức vận hành. Dữ liệu cần được nhìn nhận như một tài sản chiến lược, vừa phục vụ quản trị, vừa hỗ trợ quản lý nhiệm vụ khoa học, đánh giá kết quả nghiên cứu và hoạch định chiến lược phát triển.

Thực tiễn tại Viện Hàn lâm cho thấy chuyển đổi số đang được triển khai gắn với xây dựng hạ tầng và các hệ thống dùng chung, đẩy mạnh số hóa, chuẩn hóa tài liệu và từng bước hoàn thiện phương thức quản trị. Tuy nhiên, chuyển đổi số tại Viện Hàn lâm nói riêng, các viện nghiên cứu nói chung vẫn đang đứng trước những điểm nghẽn về dữ liệu, hạ tầng, nguồn lực, năng lực số, cơ chế phối hợp và tổ chức thực thi. Để chuyển đổi số phát huy hiệu quả, cần đồng thời xây dựng khung quản trị dữ liệu thống nhất, nâng cao chất lượng số hóa, đầu tư hạ tầng theo hướng đồng bộ, phát triển năng lực số đến hoàn thiện cơ chế phối hợp và giám sát. Chuyển đổi số thực chất phải được thể hiện ở việc quy trình được tinh gọn hơn, dữ liệu được kết nối và khai thác hiệu quả hơn, quyết định quản trị ngày càng dựa trên dữ liệu và đội ngũ nghiên cứu có thêm thời gian dành cho hoạt động chuyên môn.

Tài liệu tham khảo

[1]    Thủ tướng Chính phủ. (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 3/6/2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

[2]    Chính phủ. (2021). Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021–2030.

[3]    Mergel, I., Edelmann, N., & Haug, N. (2019). Defining digital transformation: Results from expert interviews. Government Information Quarterly, 36(4), 101385.

[4]    Bộ Chính trị. (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

[5]    [12] Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. (23/7/2026). Thống nhất chuẩn số hóa, tạo nền tảng dữ liệu cho Kế hoạch 100 ngày chuyển đổi số của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt ; https://vass.gov.vn/tin-tuc-su-kien/thong-nhat-chuan-so-hoa-tao-nen-tang-du-lieu-cho-ke-hoach-100-ngay-chuyen-doi-so-cua-vien-han-lam-578191

[6]    [11] OECD. (2026). Digital Government Outlook 2026: From Foundations to Transformational Impact. Paris: OECD Publishing.

[7]    Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. (11/3/2026). Đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao hiệu quả cải cách hành chính tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; https://vass.gov.vn/chuyen-doi-so/day-manh-chuyen-doi-so-nang-cao-hieu-qua-cai-cach-hanh-chinh-tai-vien-han-lam-khoa-hoc-xa-hoi-viet-nam-561478

[8]    Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. (17/4/2026). Từ kết quả bước đầu đến yêu cầu bứt phá: Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đẩy mạnh chuyển đổi số và cải cách hành chính; https://vass.gov.vn/chuyen-doi-so/tu-ket-qua-buoc-dau-den-yeu-cau-but-pha-vien-han-lam-khoa-hoc-xa-hoi-viet-nam-day-manh-chuyen-doi-s-564604

[9]    [13] Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. (19/8/2026). Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam quyết liệt tháo gỡ điểm nghẽn, tạo chuyển biến thực chất, thúc đẩy công tác chuyển đổi số trong bối cảnh mới; https://vass.gov.vn/chuyen-doi-so/vien-han-lam-khoa-hoc-xa-hoi-viet-nam-quyet-liet-thao-go-diem-nghen-tao-chuyen-bien-thuc-chat-thuc-day-cong-tac-chuyen-doi-so-trong-boi-canh-moi-579594

[10] Chính phủ. (2020). Nghị định số 47/2020/NĐ-CP ngày 09/4/2020 về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước.

TS. Trương Thùy Dung, Viện Sử học
Tin nổi bật
  • Bộ sách gồm 10 tập, Viện Sử học dịch, Nxb KHXH xuất bản.
    23/04/2013
  • Đại Nam nhất thống chí đời Tự Đức là bộ sách địa lý học Việt Nam đầy đủ nhất dưới thời phong kiến. Đại Nam nhất thống chí theo bộ Đại Thanh nhất thống chí của Trung Quốc mà chia ra các mục như: phương vi, phân dã, kiến trí, duyên cách, phủ huyện, hình thế, khí hậu, phong tục, thành trì, học hiệu, hộ khẩu, điền phú, sơn xuyên, quan tấn, dịch trạm, thị lập, tứ miếu, tự quán, phân việt, thổ sản, v.v... Ngoài ra, Đại Nam nhất thống chí còn có quyển chép riêng về Cao Miên (Campuchia), Xiêm La, Miến Điện, Nam Chưởng, Vạn Tượng.
    22/04/2013
  • Trong tập sách này, các tác giả không chỉ trình bày các sự kiện về quân sự, chính trị mà còn nêu lên nhiều sự kiện khác thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại....
    27/09/2012
  • "Việt Nam những sự kiện lịch sử (Từ khởi thủy đến 1858)" là cuốn sách ghi lại các sự kiện lịch sử nước nhà từ khởi thủy đến khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược vào giữa thế kỷ XIX.
    27/09/2012
  • Đại Nam liệt truyện là một bộ sách có quy mô khá đồ sộ trong kho tàng thư tịch cổ viết bằng chữ Hán của Việt Nam, do cơ quan làm sử chính thức của nhà Nguyễn là Quốc sử quán biên soạn vào giữa thế kỷ XIX.
    24/09/2012
  • Lịch triều hiến chương loại chí là bộ bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam. Có nghĩa là Phép tắc các triều đại chép theo thể phân loại do Phan Huy Chú soạn trong 10 năm (1809-1819).
    23/09/2012
  • Là bộ sử có giá trị to lớn và quan trọng bậc nhất trong nền sử học Việt Nam thời kỳ cổ trung đại. Bộ chính sử do Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê biên soạn.
    22/09/2012
  • Cuốn sách Cổ luật Việt Nam gốm 2 bộ Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ. Quốc triều hình luật (còn gọi là bộ luật Hồng Đức) và Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là bộ luật Gia Long) là hai bộ cổ luật duy nhất còn lại cho đến nay của các triều đại phong kiến Việt Nam; là những di sản quý giá có giá trị tham khảo về nhiều mặt cho chúng ta ngày nay.
    19/09/2012
  • Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ là một bộ sách được biên soạn dưới triều Nguyễn theo thể loại Hội điển. Thể loại này được đặt ra nhằm ghi chép lại các điển pháp, quy chuẩn và các dữ kiện liên quan đến tổ chức và hoạt động của một triều đại, một Nhà nước.
    19/09/2012
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1