Chuyển đổi số gắn với cải cách hành chính trong các viện nghiên cứu: Nhìn từ thực tiễn Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Chuyển đổi số đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy cải cách hành chính và đổi mới phương thức quản trị tại các viện nghiên cứu. Thông qua phân tích thực tiễn tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (Viện Hàn lâm), bài viết làm rõ mối quan hệ giữa chuyển đổi số và cải cách hành chính, phân tích những đặc thù của quá trình chuyển đổi số trong cơ quan nghiên cứu, từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu. Trên cơ sở nhận diện những điểm nghẽn về dữ liệu, hạ tầng, nhân lực và cơ chế phối hợp, bài viết đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao hiệu quả chuyển đổi số, hướng tới xây dựng mô hình quản trị tinh gọn, liên thông đáp ứng yêu cầu mới.
Mở
đầu
Chuyển
đổi số đang làm thay đổi sâu sắc phương thức vận hành của cơ quan nhà nước, tổ
chức công và các đơn vị sự nghiệp. Tại Việt Nam, chuyển đổi số được đặt trong một
tiến trình chính sách ngày càng được cụ thể và hoàn thiện. Quyết định số
749/QĐ-TTg ngày 3/6/2020 về Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm
2025, định hướng đến năm 2030 xác định chuyển đổi số hướng tới mục tiêu kép
là phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số, đồng thời hình thành các
doanh nghiệp công nghệ số có năng lực đi ra toàn cầu. Trong khi đó, Nghị quyết
số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành
chính nhà nước giai đoạn 2021-2030 xác định sáu nội dung trọng tâm, trong
đó xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số là một trong những nội
dung cốt lõi của cải cách hành chính [1,2].
Đối
với hệ thống viện nghiên cứu, sự kết hợp giữa chuyển đổi số và cải cách hành
chính càng có ý nghĩa đặc biệt. Hoạt động của một viện nghiên cứu không chỉ bao
gồm quản lý hành chính thông thường, mà còn gắn với quản lý nhiệm vụ khoa học,
đội ngũ nghiên cứu, cơ sở dữ liệu và các mạng lưới hợp tác trong nước, quốc tế.
Vì vậy, nếu được triển khai đúng hướng, chuyển đổi số sẽ trở thành động lực để
tinh gọn quy trình, tăng tính minh bạch, giảm chi phí hành chính và dành nhiều
nguồn lực hơn cho hoạt động nghiên cứu.
Trong
phạm vi bài viết này, khung phân tích được đặt trong bối cảnh chung của các viện
nghiên cứu, nhưng các dẫn chứng thực tiễn chủ yếu được rút ra từ quá trình triển
khai chuyển đổi số tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Cách tiếp cận này
sẽ góp phần làm rõ những vấn đề có tính đặc thù của cơ quan nghiên cứu thông
qua một trường hợp thực tiễn cụ thể.
Nội
dung
1. Chuyển đổi số và cải cách
hành chính: hai quá trình, một mục tiêu
Chuyển
đổi số và cải cách hành chính thường được nhìn nhận như hai quá trình khác
nhau: một bên thiên về công nghệ, dữ liệu và hạ tầng số, bên kia tập trung vào
thể chế, thủ tục, tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ. Tuy nhiên, trong thực tế,
hai quá trình này có mối quan hệ ngày càng chặt chẽ. Cải cách hành chính tạo ra
yêu cầu thay đổi phương thức quản trị, còn chuyển đổi số cung cấp công cụ và
phương thức mới để thực hiện sự thay đổi đó.
Nghiên
cứu của Mergel, Edelmann và Haug chỉ ra rằng, cần phải xem xét chuyển đổi số
như một phương thức tiếp cận toàn diện ở cấp độ tổ chức thay vì chỉ đơn thuần
là đưa dữ liệu lên nền tảng trực tuyến hay chuyển đổi phương thức cung cấp dịch
vụ công từ truyền thống sang kỹ thuật số [3]. Đây cũng là một điểm đặc biệt
quan trọng đối với các viện nghiên cứu. Nếu một quy trình hành chính chỉ được
chuyển từ hồ sơ giấy sang hồ sơ điện tử thì thời gian xử lý và chi phí có thể giảm,
nhưng bản chất của quy trình chưa thay đổi. Chuyển đổi số chỉ thực sự trở thành
động lực cải cách khi công nghệ được sử dụng để tái thiết quy trình, loại bỏ
khâu trung gian không cần thiết, kết nối dữ liệu giữa các đơn vị, tự động hóa
những công việc lặp lại và hỗ trợ lãnh đạo ra quyết định dựa trên dữ liệu.
Tinh
thần này càng được củng cố bởi Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ
Chính trị. Nghị quyết xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo
và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để
phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi
mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội [4]. Trên tinh
thần này, giá trị chuyển đổi số tại các viện nghiên cứu không nằm ở số lượng phần
mềm được triển khai, mà ở mức độ đóng góp của việc chuyển đổi này để quá trình
vận hành đơn giản hơn, phối hợp tốt hơn, ra quyết định nhanh hơn và phục vụ hoạt
động nghiên cứu hiệu quả hơn.
2. Đặc thù của chuyển đổi số
trong viện nghiên cứu
Chuyển
đổi số trong viện nghiên cứu có những đặc thù khác với quá trình chuyển đổi số ở
các cơ quan hành chính thuần túy. Nếu ở cơ quan hành chính, trọng tâm thường là
số hóa thủ tục, cung cấp dịch vụ công và nâng cao hiệu quả xử lý hồ sơ, thì ở
viện nghiên cứu, chuyển đổi số đồng thời phải phục vụ hai nhóm hoạt động có
quan hệ mật thiết: quản trị tổ chức và sản xuất tri thức. Vì vậy, như đã đề cập,
đối tượng chuyển đổi số tại viện nghiên cứu không chỉ là văn bản, hồ sơ hay quy
trình hành chính, mà còn bao gồm dữ liệu nghiên cứu, tư liệu, kết quả nghiên cứu
khoa học, đội ngũ chuyên gia và các mạng lưới hợp tác.
Đặc
điểm nổi bật đầu tiên trong chuyển đổi số tại các viện nghiên cứu là tính đa dạng
và sự phân tán của dữ liệu. Một viện nghiên cứu có thể đồng thời quản lý dữ liệu
về cán bộ, đề tài, kinh phí, công bố, hội thảo, thư viện, tư liệu lưu trữ và
các cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Các loại tư liệu này có đặc điểm kỹ thuật, yêu
cầu quản lý và phương thức khai thác không giống nhau. Ví dụ như, đề tài khoa học
cần được tổ chức, mô tả theo những yêu cầu khác với hiện vật bảo tàng hay dữ liệu
đa phương tiện. Tại Hội nghị 23/7/2026, Viện Hàn lâm đã xây dựng riêng các nội
dung kỹ thuật đối với tài liệu lưu trữ, thư viện, hiện vật bảo tàng và dữ liệu
đa phương tiện, đồng thời đặt ra các yêu cầu về metadata, định danh, kiểm soát
chất lượng, sao lưu, phân quyền và kết nối với cơ sở dữ liệu tổng thể [5].
Thứ
hai, chuyển đổi số trong viện nghiên cứu phải
gắn với đặc thù của quy trình nghiên cứu khoa học. Đây không phải những quy
trình hành chính đơn tuyến mà thường liên quan đến nhiều chủ thể: nhà nghiên cứu,
hội đồng khoa học, quản lý khoa học, tài chính, thư viện, xuất bản. Do đó, một
hệ thống số hiệu quả cần tạo được sự liên thông giữa các khâu, thay vì chỉ số
hóa từng công đoạn riêng lẻ. Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) cho rằng
chuyển đổi số trong khu vực công đang chuyển từ cách tiếp cận dựa trên dự án số
hóa riêng biệt sang cách tiếp cận mang tính hệ thống, trong đó dữ liệu, công
nghệ, năng lực tổ chức và phương thức làm việc phải được tích hợp vào hoạt động
thường nhật [6]. Viện Hàn lâm xác định, trọng tâm chuyển đổi số trong năm 2026 là
đẩy mạnh số hóa dữ liệu, bao gồm dữ liệu hành chính và dữ liệu nội sinh phục vụ
nghiên cứu khoa học. Thực hiện mục tiêu đó, Viện đã đang triển khai các nhiệm vụ
xây dựng Chiến lược chuyển đổi số của Viện Hàn lâm giai đoạn 2026-2030, Chiến
lược dữ liệu đến năm 2030 và Khung kiến trúc số [7,8].
Thứ
ba, đối tượng phục vụ của chuyển đổi số trong viện
nghiên cứu cũng rất đặc thù. Nhà nghiên cứu vừa là người sử dụng hệ thống hành
chính, vừa là người tạo ra và khai thác dữ liệu khoa học. Vì vậy, hiệu quả chuyển
đổi số không thể chỉ đo bằng số lượng hồ sơ được xử lý trực tuyến mà phải được
đánh giá qua khả năng giảm thời gian hành chính, tăng khả năng tiếp cận tư liệu,
kết nối dữ liệu, hỗ trợ hợp tác và nâng cao chất lượng nghiên cứu. Thực tiễn tại
Viện Hàn lâm cho thấy các hệ thống dùng chung phục vụ điều hành như quản lý văn
bản, quản lý thông tin viên chức, chữ ký số đã được khai thác ngày càng nhiều,
đồng thời các đơn vị đặt ra nhu cầu hiện đại hóa quy trình, xây dựng hệ thống
quản lý website các tạp chí khoa học và tự động hóa quy trình nghiệp vụ. Tại Hội
nghị vào tháng 8/2026, chuyển đổi số tại Viện Hàn lâm tiếp tục được đặt trong mối
liên hệ trực tiếp với cải cách hành chính và yêu cầu tháo gỡ các điểm nghẽn
trong quản trị [9].
3. Từ số hóa hồ sơ đến quản
trị dữ liệu
Trong
chuyển đổi số, số hóa chỉ là bước đầu, quản trị dữ liệu mới là mục tiêu trọng yếu.
Đối với viện nghiên cứu, có thể nhìn nhận quản trị dữ liệu theo một chu trình gồm”
hình thành dữ liệu – chuẩn hóa – định danh và mô tả - kết nối – chia sẻ - tái sử
dụng – bảo đảm an toàn. Tiếp cận theo chu trình này sẽ giúp khắc phục tình trạng
xem việc tạo ra một tệp điện tử là điểm kết thúc của số hóa.
Thứ
nhất, ở khâu hình thành, cần xác định dữ liệu
được tạo ra từ đâu, gắn với nghiệp vụ hoặc hoạt động khoa học nào, đơn vị nào
có trách nhiệm quản lý, mục đích sử dụng như thế nào để có thể tổ chức theo các
nhóm dữ liệu phù hợp.
Thứ
hai, ở khâu chuẩn khóa và định danh, cần thống
nhất cấu trúc dữ liệu, tiêu chuẩn siêu dữ liệu, mã định danh và quy tắc kiểm
soát chất lượng. Một tài liệu nghiên cứu sau khi được số hóa không nên chỉ tồn
tại dưới dạng một tệp PDF, mà cần được gắn với thông tin về nguồn gốc, tác giả,
thời gian, nhiệm vụ khoa học, tình trạng nghiệm thu, quyền sử dụng, mức độ bảo
mật và khả năng khai thác. Nghị định số 47/2020/NĐ-CP ngày 9/4/2020 của Chính
phủ về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước cũng
đặt vấn đề kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu trong một khuôn khổ pháp lý thống
nhất [10].
Thứ
ba, ở khâu kết nối và chia sẻ, dữ liệu cần có khả năng
trao đổi giữa các hệ thống và đơn vị theo những quy tắc được thống nhất. Đây là
điều kiện để giảm tình trạng dữ liệu bị phân tán và giúp thông tin được sử dụng
cho nhiều quy trình thay vì chỉ phục vụ một nghiệp vụ đơn lẻ.
Thứ
tư, ở khâu tái sử dụng, dữ liệu đã được chuẩn hóa và kết
nối cần có khả năng phục vụ nhiều mục đích phù hợp. Khi dữ liệu về nhiệm vụ
khoa học, nhà nghiên cứu, công bố, tư liệu và kết quả nghiên cứu được tổ chức tốt,
viện có thể theo dõi tiến độ, đánh giá sản phẩm, nhận diện thế mạnh nghiên cứu
và hỗ trợ đưa ra các tư vấn khoa học. Dữ liệu cũng có thể được sử dụng cho những
nghiên cứu mới, giảm trùng lặp và nâng cao hiệu quả khai thác nguồn lực khoa học.
Thứ
năm, toàn bộ chu trình phải đi kèm bảo đảm an
toàn dữ liệu. Đối với viện nghiên cứu, bên cạnh dữ liệu hành chính còn có dữ liệu
nghiên cứu, tư liệu chưa công bố và thông tin thuộc diện hạn chế tiếp cận. Vì vậy,
chia sẻ dữ liệu phải đi cùng phân quyền, sao lưu, bảo mật và kiểm soát quyền
truy cập phù hợp. Báo cáo Digital Government Outlook 2026 nhấn mạnh rằng, nhiều
quốc gia đã xây dựng chiến lược dữ liệu, nhưng thách thức lớn vẫn nằm ở khâu thực
thi: bảo đảm chất lượng dữ liệu, thúc đẩy tái sử dụng và làm cho các hệ thống
có thể kết nối, trao đổi thông tin một cách tin cậy [11].
Có
thể khẳng định, giá trị của chuyển đổi số trong cải cách hành chính tại các viện
nghiên cứu không nằm ở số lượng hồ sơ được đưa lên môi trường điện tử, mà ở khả
năng biến dữ liệu thành một nguồn lực của quản trị và nghiên cứu. Khi đó, dữ liệu
không còn là “sản phẩm phụ” của hoạt động hành chính mà trở thành hạ tầng quan
trọng để xây dựng một viện nghiên cứu vận hành liên thông, minh bạch, hiệu quả
và có khả năng thích ứng với yêu cầu mới.
4. Những điểm nghẽn và một số
đề xuất
* Những điểm nghẽn
Trong
quá trình thực hiện chuyển đổi số, đặc biệt là tại các viện nghiên cứu, có thể
thấy rằng, điểm nghẽn chủ yếu nằm ở khâu chuyển chủ trương thành quy trình và kết
quả cụ thể. Những khó khăn trên xuất phát từ thực tế các viện nghiên cứu phải đồng
thời đáp ứng yêu cầu quản trị hành chính, quản lý hoạt động khoa học và bảo tồn,
khai thác một khối lượng lớn tư liệu chuyên ngành.
Một
trong những điểm nghẽn đầu tiên đó là dữ liệu chưa được chuẩn hóa và liên thông
đầy đủ. Như kết luận tại Hội nghị ngày 23/7/2026 của Viện Hàn lâm cho thấy, khối
lượng tài liệu cần số hóa rất lớn, bao gồm hồ sơ lưu trữ, sách, báo, tạp chí,
luận án, hiện vật bảo tàng, tư liệu phim ảnh, âm thanh, và các nguồn dữ liệu
chuyên ngành. Trong khi đó, tỷ lệ số hóa còn thấp và mức độ chuẩn hóa chưa đồng
đèu, nhiều dữ liệu chưa đủ điều kiện để tích hợp vào hệ thống quản lý tập
trung. Vì vậy, việc xác định thống nhất chuẩn số hóa, metadata, định danh, kiểm
soát chất lượng, sao lưu và phân quyền khai thác là những yêu cầu nền tảng [12].
Thứ hai,
là số hóa chưa đồng đều và việc số hóa không phải lúc nào cũng đi kèm với khả
năng khai thác dữ liệu. Theo số liệu cập nhật tại Hội nghị ngày 19/8/2026 của Viện
Hàn lâm, chưa đơn vị nào đồng thời đáp ứng đầy đủ yêu cầu về phân loại 100% tài
liệu và lượng hóa số trang, tỷ lệ số hóa trong 100 ngày. Đáng chú ý, nhóm tài
liệu “đã số hóa nhưng chưa đúng tiêu chuẩn” còn bị bỏ sót ở nhiều đơn vị [13].
Thứ
ba, hạ tầng, thiết bị và nguồn lực tài chính có thể trở
thành một thách thức đối với tiến độ và quy mô chuyển đổi số. Chuyển đổi số
trong các cơ quan nghiên cứu đòi hỏi đầu tư không chỉ cho phần mềm mà còn cho hạ
tầng mạng, máy chủ, lưu trữ, thiết bị số hóa, bảo mật, sao lưu dữ liệu và các nền
tảng dùng chung. Đây là một thách thức đáng kể, nhất là đối với những cơ quan
có khối lượng tư liệu lớn, nhiều dữ liệu chuyên ngành và phải duy trì hệ thống
trong thời gian dài.
Thứ
tư, năng lực số và khả năng kết hợp giữa chuyên môn
nghiên cứu với công nghệ là một thách thức cần được quan tâm. Công nghệ có thể
được mua hoặc thuê, nhưng năng lực tổ chức, hiểu biết về dữ liệu và khả năng quản
trị công nghệ phải được xây dựng từ bên trong. Cơ quan nghiên cứu phải có những
cán bộ có khả năng hiểu đồng thời nghiệp vụ, dữ liệu, công nghệ và quản trị
thay đổi, qua đó làm cầu nối giữa chuyên môn và giải pháp số.
Thứ
năm, thể chế, cơ chế phối hợp và kỷ luật thực
thi có thể trở thành điểm nghẽn khi chuyển đổi số được triển khai trên một hệ
thống gồm nhiều đơn vị và nhiều nhóm dữ liệu. Chuyển đổi số được bắt đầu bằng
công nghệ, nhưng thành công lại được quyết định bởi thể chế và cơ chế tổ chức.
Một hệ thống số khó vận hành hiệu quả nếu quy định về trách nhiệm quản lý dữ liệu
chưa có, quy trình nội bộ chưa được chuẩn hóa, việc chia sẻ dữ liệu giữa các
đơn vị chưa có cơ chế cụ thể. Khi đó, mỗi đơn vị có thể xây dựng một hệ thống
riêng, tạo ra “những ốc đảo dữ liệu” và làm giảm khả năng liên thông của toàn tổ
chức.
* Một số đề xuất
Từ
thực tế trên, để quá trình chuyển đổi số trong cải cách hành chính tại các viện
nghiên cứu có thể mang lại hiệu quả cao hơn, trước tiên chúng ta cần chuyển từ
tư duy “triển khai phần mềm” sang “cải cách phương thức vận hành”.
Trước
hết, cần xây dựng và thực hiện khung quản trị
dữ liệu trong toàn viện nghiên cứu. Trọng tâm là xác định rõ nhóm dữ liệu dùng
chung; thống nhất chuẩn dữ liệu, siêu dữ liệu; mã định danh và quy tắc đặt tên;
trách nhiệm của các đơn vị trong việc tạo lập, cập nhật, kiểm tra và quản lý dữ
liệu. Đối với những nhóm dữ liệu có khả năng chia sẻ, cần xác định rõ quyền
truy cập, cơ chế kết nối và phương thức tích hợp vào cơ sở dữ liệu tổng thể.
Thứ
hai, cần chuyển trọng tâm từ “số lượng” sang
“chất lượng và khả năng sử dụng dữ liệu sau số hóa”. Các chỉ tiêu của kế hoạch
số hóa cần được bổ sung theo hướng không chỉ tính số trang hoặc số tài liệu đã
quét, mà còn đánh giá tỷ lệ tài liệu được chuẩn hóa, khả năng tìm kiếm, kết nối
và tái sử dụng.
Thứ
ba, cần ưu tiên đầu tư theo kiến trúc tổng thể và mức độ
cần thiết của từng nhóm dữ liệu thay vì đầu tư phân tán theo từng đơn vị. Hạ tầng
chuyển đổi số cần được xem xét đồng bộ từ mạng, máy chủ, lưu trữ, thiết bị số
hóa, sao lưu, bảo mật đến các nền tảng dùng chung, đồng thời, cần xác định rõ
những hạng mục có thể sử dụng chung, những hạng mục cần đầu tư riêng cho từng
đơn vị.
Thứ
tư, cần phát triển đội ngũ theo hướng kết hợp năng lực
chuyên môn, năng lực dữ liệu và năng lực công nghệ. Đào tạo cán bộ không nên chỉ
dừng ở hướng dẫn sử dụng phần mềm, mà cần trang bị kiến thức về chuẩn hóa dữ liệu,
siêu dữ liệu, quy trình số hóa, kiểm soát chất lượng, bảo mật, khai thác và
chia sẻ dữ liệu. Đối với mỗi nhóm dữ liệu chuyên ngành, cần có cán bộ vừa hiểu
nghiệp vụ vừa có khả năng phối hợp với bộ phận công nghệ để tổ chức và quản trị
dữ liệu.
Thứ
năm, cần hoàn thiện cơ chế phân công trách
nhiệm, phối hợp và giám sát theo hướng rõ đầu mối, rõ nhiệm vụ, rõ tiến độ và
rõ sản phẩm. Chuyển đổi số ở viện nghiên cứu liên quan đến nhiều đơn vị và nhiều
nhóm dữ liệu nên cần xác định rõ đơn vị chủ trì, phối hợp, trách nhiệm quản lý
đối với từng loại dữ liệu, từng nền tảng và từng quy trình. Đồng thời, cần rà
soát, chuẩn hóa và tái thiết kế các quy trình nội bộ, tránh đưa nguyên trạng một
quy trình bất hợp lý lên môi trường điện tử.
Kết
luận
Chuyển
đổi số đang đặt ra yêu cầu mới đối với phương thức quản trị của các viện nghiên
cứu. Đây không chỉ là việc thay thế hồ sơ giấy bằng hồ sơ điện tử hay đưa các
quy trình hiện có lên phần mềm, mà phải trở thành động lực thúc đẩy cải cách
hành chính và đổi mới phương thức vận hành. Dữ liệu cần được nhìn nhận như một
tài sản chiến lược, vừa phục vụ quản trị, vừa hỗ trợ quản lý nhiệm vụ khoa học,
đánh giá kết quả nghiên cứu và hoạch định chiến lược phát triển.
Thực
tiễn tại Viện Hàn lâm cho thấy chuyển đổi số đang được triển khai gắn với xây dựng
hạ tầng và các hệ thống dùng chung, đẩy mạnh số hóa, chuẩn hóa tài liệu và từng
bước hoàn thiện phương thức quản trị. Tuy nhiên, chuyển đổi số tại Viện Hàn lâm
nói riêng, các viện nghiên cứu nói chung vẫn đang đứng trước những điểm nghẽn về
dữ liệu, hạ tầng, nguồn lực, năng lực số, cơ chế phối hợp và tổ chức thực thi. Để
chuyển đổi số phát huy hiệu quả, cần đồng thời xây dựng khung quản trị dữ liệu
thống nhất, nâng cao chất lượng số hóa, đầu tư hạ tầng theo hướng đồng bộ, phát
triển năng lực số đến hoàn thiện cơ chế phối hợp và giám sát. Chuyển đổi số thực
chất phải được thể hiện ở việc quy trình được tinh gọn hơn, dữ liệu được kết nối
và khai thác hiệu quả hơn, quyết định quản trị ngày càng dựa trên dữ liệu và đội
ngũ nghiên cứu có thêm thời gian dành cho hoạt động chuyên môn.
Tài
liệu tham khảo
[1] Thủ
tướng Chính phủ. (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 3/6/2020 phê duyệt Chương
trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
[2] Chính
phủ. (2021). Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 ban hành Chương trình tổng
thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021–2030.
[3] Mergel,
I., Edelmann, N., & Haug, N. (2019). Defining digital transformation:
Results from expert interviews. Government Information Quarterly, 36(4),
101385.
[4] Bộ
Chính trị. (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển
khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
[5] [12]
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. (23/7/2026). Thống nhất chuẩn số hóa, tạo
nền tảng dữ liệu cho Kế hoạch 100 ngày chuyển đổi số của Viện Hàn lâm Khoa học
xã hội Việt ; https://vass.gov.vn/tin-tuc-su-kien/thong-nhat-chuan-so-hoa-tao-nen-tang-du-lieu-cho-ke-hoach-100-ngay-chuyen-doi-so-cua-vien-han-lam-578191
[6] [11]
OECD. (2026). Digital Government Outlook 2026: From Foundations to
Transformational Impact. Paris: OECD Publishing.
[7] Viện
Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. (11/3/2026). Đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao
hiệu quả cải cách hành chính tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam;
https://vass.gov.vn/chuyen-doi-so/day-manh-chuyen-doi-so-nang-cao-hieu-qua-cai-cach-hanh-chinh-tai-vien-han-lam-khoa-hoc-xa-hoi-viet-nam-561478
[8] Viện
Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. (17/4/2026). Từ kết quả bước đầu đến yêu cầu
bứt phá: Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đẩy mạnh chuyển đổi số và cải
cách hành chính;
https://vass.gov.vn/chuyen-doi-so/tu-ket-qua-buoc-dau-den-yeu-cau-but-pha-vien-han-lam-khoa-hoc-xa-hoi-viet-nam-day-manh-chuyen-doi-s-564604
[9] [13]
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. (19/8/2026). Viện Hàn lâm Khoa học xã hội
Việt Nam quyết liệt tháo gỡ điểm nghẽn, tạo chuyển biến thực chất, thúc đẩy
công tác chuyển đổi số trong bối cảnh mới;
https://vass.gov.vn/chuyen-doi-so/vien-han-lam-khoa-hoc-xa-hoi-viet-nam-quyet-liet-thao-go-diem-nghen-tao-chuyen-bien-thuc-chat-thuc-day-cong-tac-chuyen-doi-so-trong-boi-canh-moi-579594
[10] Chính
phủ. (2020). Nghị định số 47/2020/NĐ-CP ngày 09/4/2020 về quản lý, kết nối và
chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước.