TRIỂN KHAI NGHỊ QUYẾT SỐ 57-NQ/TW TẠI VIỆN SỬ HỌC: TỪ CỤ THỂ HÓA CHỦ TRƯƠNG ĐẾN ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí đặc biệt trong chiến lược phát triển đất nước. Triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW, Viện Sử học đang từng bước đưa chuyển đổi số vào hoạt động quản trị và nghiên cứu. Từ số hóa, chuẩn hóa dữ liệu đến đổi mới phương thức làm việc, những chuyển biến bước đầu hướng tới nâng cao hiệu quả nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị tri thức lịch sử.
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024
của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và
chuyển đổi số quốc gia đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi
số vào vị trí đặc biệt trong chiến lược phát triển đất nước. Nghị quyết xác
định đây là “đột phá quan trọng hàng đầu”, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đổi mới
phương thức quản trị, phát triển hạ tầng số, khai thác nguồn lực dữ liệu và
phát huy vai trò của đội ngũ khoa học[1].
Đối với một đơn vị nghiên cứu khoa học
xã hội và nhân văn chuyên ngành như Viện Sử học, triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW
không thể chỉ được hiểu là tăng cường sử dụng phần mềm hay chuyển tài liệu giấy
thành tệp điện tử. Vấn đề sâu hơn là thay đổi cách tổ chức công việc, cách tạo
lập và quản trị dữ liệu nghiên cứu, cách lưu giữ và khai thác nguồn tư liệu
lịch sử, phương thức công bố kết quả khoa học và cả cách đánh giá hiệu quả thực
hiện nhiệm vụ. Nhìn từ quá trình triển khai trong thời gian qua, có thể nhận thấy
Viện Sử học đang từng bước chuyển từ việc cụ thể hóa chủ trương thành kế hoạch
sang tổ chức những nhiệm vụ có sản phẩm, tiến độ và trách nhiệm tương đối rõ
ràng.
1. Từng bước cụ thể hóa Nghị quyết 57-NQ/TW phù hợp với đặc thù của một viện nghiên cứu về lịch sử
Ngay sau khi Nghị quyết số 57-NQ/TW
được ban hành, yêu cầu đầu tiên đặt ra đối với các cơ quan, đơn vị không phải
là xây dựng càng nhiều nhiệm vụ càng tốt, mà là xác định đúng những nội dung có
liên quan trực tiếp đến chức năng, nhiệm vụ và nguồn lực thực tế của mình. Với
Viện Sử học, quá trình này diễn ra qua nhiều bước.
Ngày 22/5/2025, Viện Sử học ban hành Kế
hoạch số 101/VSH-KH thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 03/NQ-CP
ngày 09/01/2025 của Chính phủ. Tiếp đó, sau khi Viện Hàn lâm Khoa học xã hội
Việt Nam (Viện Hàn lâm) ban hành Chiến lược chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030
theo Quyết định số 381/QĐ-KHXH ngày 17/3/2026, Viện Sử học ban hành Kế hoạch số
98/VSH-KH ngày 27/3/2026 để triển khai Chiến lược tại đơn vị[2]. Việc thực hiện
Nghị quyết 57-NQ/TW còn được duy trì thông qua chế độ báo cáo định kỳ, hoạt động
truyền thông và gắn với các nhiệm vụ chuyên môn của Viện.
Điều đáng chú ý ở đây là quá trình cụ
thể hóa không dừng ở một kế hoạch chung. Khi yêu cầu chuyển đổi số trở nên cụ
thể hơn trong năm 2026, hệ thống nhiệm vụ của Viện cũng được phân tách theo
từng lĩnh vực. Chi bộ Viện Sử học ban hành Nghị quyết số 76-NQ/CBVSH ngày
11/2/2026 về vận hành Website Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử theo hướng đổi mới
sáng tạo và chuyển đổi số. Website riêng của Tạp chí sau đó đã được xây dựng và
đưa vào vận hành, mở rộng khả năng phổ biến, tiếp cận các kết quả nghiên cứu[3].
Tháng 8/2026 đánh dấu bước triển khai
tập trung hơn. Viện ban hành Kế hoạch số 311-KH/VSH ngày 08/8/2026 về số hóa
năm 2026; Kế hoạch số 314-KH/VSH ngày 12/8/2026 triển khai hành động cao điểm
100 ngày tháo gỡ các điểm nghẽn và thúc đẩy nhiệm vụ chuyển đổi số; Kế hoạch số
318-KH/VSH ngày 14/8/2026 về thi đua truyền thông 5 tháng cuối năm và Kế hoạch
số 319-KH/VSH cùng ngày về đăng tải tin, bài liên quan đến chuyển đổi số và
Nghị quyết 57 trên Trang thông tin điện tử của Viện[4]. Ngày 21/8/2026, Kế
hoạch số 336-KH/VSH về triển khai số hóa dữ liệu công tác tổ chức - cán bộ tiếp
tục được ban hành. Đặc biệt, trên cơ cở đề xuất của Viện Sử học, ngày
03/9/2026, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã ký Quyết định số
1633-QĐ/VHLKHXHVN ban hành Kế hoạch số hóa tài liệu của Viện Sử học năm 2026 và
lộ trình giai đoạn 2027-2030.
Chuỗi văn bản trên cho thấy một sự
chuyển dịch đáng lưu ý. Nếu giai đoạn đầu chủ yếu là quán triệt và xác định
định hướng, thì sang năm 2026, nội dung của Nghị quyết 57-NQ/TW bắt đầu đi vào
từng quy trình và từng nhóm công việc cụ thể: quản trị hành chính, nghiên cứu
khoa học, tổ chức - cán bộ, thư viện, tạp chí, dữ liệu, truyền thông và công
tác Đảng. Đây mới là bước có ý nghĩa quyết định, bởi chuyển đổi số chỉ trở
thành thực chất khi nó đi vào hoạt động thường xuyên của tổ chức, thay vì tồn
tại như một nhiệm vụ riêng của bộ phận công nghệ thông tin.
2. Từ chuyển đổi phương thức quản trị
đến hình thành nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu
Một trong những nội dung có ý nghĩa
nhất của Nghị quyết 57-NQ/TW là thay đổi cách nhìn về dữ liệu. Nghị quyết yêu
cầu “đưa dữ liệu thành tư liệu sản xuất chính”, đồng thời nhấn mạnh việc làm
giàu và khai thác tối đa tiềm năng của dữ liệu[5]. Với khoa học lịch sử, yêu
cầu này có nội hàm riêng. Dữ liệu không chỉ là số liệu hành chính; đó còn là
kết quả đề tài, sách, bài báo khoa học, tài liệu thư viện, thư mục, tư liệu
khảo sát, các bản thảo và những nguồn tài liệu được tích lũy qua nhiều thế hệ
nghiên cứu.
Vì vậy, số hóa ở Viện Sử học cần được
nhìn nhận như một quá trình tổ chức lại nguồn tài nguyên tri thức chứ không đơn
thuần là quét tài liệu. Kế hoạch số hóa của Viện đặt yêu cầu rà soát tài liệu
theo từng mảng công tác, xác định khối lượng, tình trạng số hóa và thứ tự ưu
tiên; tận dụng những tệp điện tử đã có, tránh số hóa lại tài liệu đã đáp ứng
tiêu chuẩn; đồng thời phân định trách nhiệm đối với từng nhóm dữ liệu. Nguyên
tắc “6 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian,
rõ kết quả, được đưa vào quá trình tổ chức thực hiện.
Cách tiếp cận này có ý nghĩa về mặt
quản trị công. Trong nhiều năm, một hạn chế phổ biến của quá trình tin học hóa
là chuyển tài liệu từ dạng giấy sang dạng điện tử nhưng phương thức quản lý về
cơ bản không thay đổi: tệp tin vẫn phân tán, cách đặt tên không thống nhất, khó
tìm kiếm, không xác định rõ phiên bản, người chịu trách nhiệm hay quyền khai
thác. Khi đó, tài liệu đã được “số hóa”, nhưng chưa trở thành dữ liệu có khả
năng quản trị và tái sử dụng.
Việc Viện Sử học xác định các nhóm dữ
liệu liên quan trực tiếp đến quản trị hành chính, nghiên cứu khoa học, Tạp chí
Nghiên cứu Lịch sử, thư viện và công tác Đảng vì thế có ý nghĩa nền tảng. Các
nhóm dữ liệu này có tính chất rất khác nhau, đòi hỏi cách quản lý khác nhau. Hồ
sơ hành chính chịu sự điều chỉnh của quy định về văn thư, lưu trữ và bảo vệ bí
mật nhà nước; dữ liệu nghiên cứu gắn với quyền sở hữu trí tuệ, quyền tác giả và
trách nhiệm khoa học; tài liệu thư viện lại liên quan đến mô tả thư mục, khả năng
tra cứu và quyền khai thác. Không thể áp dụng một cách xử lý đồng nhất cho tất
cả.
Đây cũng là lý do Kế hoạch cao điểm 100
ngày của Viện không đặt mục tiêu “số hóa bằng mọi giá”. Trước khi một tài liệu
được số hóa, chia sẻ hoặc kết nối, cần xác định nguồn gốc, tình trạng pháp lý,
quyền tác giả, mức độ mật và phạm vi khai thác; sau đó mới tiến hành chuẩn hóa,
phân quyền, lưu trữ và sao lưu. Nếu bỏ qua những bước này, kho dữ liệu càng lớn
thì rủi ro về quản trị càng tăng.
Song song với dữ liệu chuyên môn là dữ
liệu quản trị. Kế hoạch số 336-KH/VSH ngày 21/8/2026 về số hóa dữ liệu công tác
tổ chức - cán bộ cho thấy chuyển đổi số đang đi sâu hơn vào những lĩnh vực vốn
có lượng hồ sơ lớn và yêu cầu độ chính xác cao. Theo định hướng của Viện Hàn
lâm, các dữ liệu về lý lịch, văn bằng, chứng chỉ, tuyển dụng, điều động, bổ
nhiệm, tổ chức bộ máy và các quá trình liên quan đến viên chức cần được rà
soát, chuẩn hóa và cập nhật trên hệ thống quản lý. Kế hoạch số hóa tổng thể của
Viện Hàn lâm đặt yêu cầu số hóa, chuẩn hóa nhiều nhóm hồ sơ thuộc công tác tổ
chức - cán bộ, từ hồ sơ lý lịch, văn bằng đến hồ sơ tuyển dụng, điều động, bổ
nhiệm và tổ chức bộ máy.
Sự thay đổi này, nếu được thực hiện
đồng bộ, có thể tạo ra tác động lớn hơn bản thân việc giảm sử dụng giấy. Dữ
liệu cán bộ đầy đủ và có cấu trúc giúp giảm thời gian tổng hợp báo cáo, hạn chế
việc nhập lại cùng một thông tin ở nhiều biểu mẫu, nâng cao khả năng kiểm tra,
đối chiếu và phục vụ công tác quản lý nguồn nhân lực. Tương tự, dữ liệu nghiên
cứu được chuẩn hóa sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho thống kê sản phẩm khoa
học, theo dõi nhiệm vụ, tìm kiếm kết quả nghiên cứu trước đây và xác định những
khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu.
Một hướng chuyển đổi khác đang diễn ra
trong quản trị hành chính hằng ngày. Trước khi bước vào cao điểm năm 2026, Viện
Sử học đã từng bước sử dụng các phần mềm quản lý văn bản, kế toán, thư viện,
khoa học và hồ sơ viên chức; hoạt động giao việc và trình ký điện tử được đẩy
mạnh nhằm hạn chế quy trình giấy truyền thống. Trong Kế hoạch 100 ngày, các yêu
cầu được lượng hóa rõ hơn: 100% viên chức thuộc diện được cấp chữ ký số phải có
chữ ký số hợp lệ; 100% viên chức sử dụng hệ thống điều hành tác nghiệp và thư điện
tử công vụ; tỷ lệ văn bản đủ điều kiện được xử lý toàn trình, ký số trên hệ
thống được đặt mục tiêu tối thiểu 85%; tối thiểu 70% các cuộc họp thông thường
đủ điều kiện được tổ chức trên hệ thống họp không giấy tờ. Đây là chỉ tiêu đang
triển khai, không phải số liệu về kết quả đã hoàn thành tại thời điểm hiện nay.
Ý nghĩa của những chỉ tiêu này không
nằm ở con số riêng lẻ. Mục tiêu hướng tới là hình thành một quy trình làm việc,
trong đó văn bản, hồ sơ và trách nhiệm xử lý có thể được theo dõi trên môi
trường số; thông tin được tạo lập một lần và có khả năng sử dụng lại; tiến độ
công việc có căn cứ kiểm chứng. Đó chính là điểm chuyển từ ứng dụng công nghệ
thông tin sang quản trị dựa trên dữ liệu.
Đối với hoạt động nghiên cứu, triển
khai Nghị quyết 57-NQ/TW còn đặt ra yêu cầu gắn công nghệ với chính quá trình
tạo ra tri thức. Báo cáo sơ kết của Chi bộ cho biết Viện Sử học đã có một nhiệm
vụ khoa học được xác định phục vụ trực tiếp nội dung liên quan đến Nghị quyết 57-NQ/TW.
Cùng với đó, việc xây dựng Website Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử và duy trì các
chuyên mục về chuyển đổi số mở thêm một kênh công bố, phổ biến tri thức khoa
học trên môi trường số.
Nếu coi các kết quả nghiên cứu lịch sử
chỉ là những sản phẩm hoàn thành sau khi đề tài kết thúc hoặc cuốn sách được
xuất bản, giá trị khai thác của chúng sẽ bị giới hạn. Khi kết quả nghiên cứu,
tư liệu, thư mục và thông tin khoa học được tổ chức thành dữ liệu có cấu trúc,
khả năng kết nối giữa những công trình khác nhau sẽ lớn hơn. Một kết quả nghiên
cứu có thể đồng thời phục vụ công bố khoa học, tra cứu thư viện, xây dựng cơ sở
dữ liệu, cung cấp luận cứ cho nghiên cứu tiếp theo và phổ biến tri thức tới xã
hội. Đây chính là dư địa rất lớn để chuyển đổi số tạo thêm giá trị cho khoa học
lịch sử.
3. Một số vấn đề đặt ra trong giai đoạn
tiếp theo
Những công việc đã triển khai cho thấy
Viện Sử học đã bước qua giai đoạn chỉ dừng ở nhận thức về chuyển đổi số. Tuy
nhiên, từ việc ban hành kế hoạch đến hình thành một phương thức hoạt động thực
sự dựa trên dữ liệu vẫn còn một khoảng cách đáng kể. Đợt cao điểm 100 ngày
triển khai từ ngày 08/8 đến ngày 15/11/2026 hiện vẫn đang diễn ra; bởi vậy,
việc đánh giá lúc này nên tập trung vào chất lượng tổ chức thực hiện và khả
năng tạo nền tảng lâu dài hơn là chạy theo số lượng sản phẩm trước mắt.
Thứ nhất, cần
giữ đúng quan niệm rằng chuyển đổi số không đồng nghĩa với số hóa. Số hóa tài
liệu là một khâu quan trọng, nhưng nếu quy trình tạo lập, cập nhật, phê duyệt,
khai thác và lưu trữ dữ liệu không được chuẩn hóa thì sau một thời gian những
hạn chế cũ sẽ xuất hiện trở lại dưới hình thức mới. Vì thế, bên cạnh số lượng
tài liệu được số hóa, cần quan tâm nhiều hơn đến chất lượng dữ liệu: có tìm
kiếm được hay không, có xác định được nguồn và phiên bản hay không, có thể kết
nối và tái sử dụng hay không, quyền truy cập được thiết lập ra sao và ai chịu
trách nhiệm về độ chính xác của dữ liệu.
Thứ hai, đối
với một viện nghiên cứu lịch sử, cần từng bước hình thành chuẩn dữ liệu riêng
cho các sản phẩm và nguồn tư liệu chuyên ngành, nhưng phải bảo đảm khả năng kết
nối với kiến trúc dữ liệu chung của Viện Hàn lâm. Nghị quyết 57-NQ/TW đã đặt dữ
liệu vào vị trí của một nguồn lực phát triển; Chiến lược chuyển đổi số của Viện
Hàn lâm giai đoạn 2026-2030 tiếp tục tạo khuôn khổ để các đơn vị thành viên
triển khai theo hướng liên thông, dùng chung thay vì phát triển các hệ thống
biệt lập[6]. Quyết định số 381/QĐ-KHXH ngày 17/3/2026 là căn cứ trực tiếp cho
quá trình này.
Đối với dữ liệu lịch sử, chuẩn hóa
trước hết phải bắt đầu từ những vấn đề rất cụ thể: tên tài liệu, tác giả, thời
gian, địa điểm, nguồn gốc, loại hình tư liệu, từ khóa, tình trạng bản quyền,
mức độ được phép khai thác và quan hệ với các tài liệu khác. Công việc này đòi
hỏi sự tham gia trực tiếp của các nhà nghiên cứu. Công nghệ có thể hỗ trợ xử
lý, tìm kiếm và kết nối, nhưng khó thay thế tri thức chuyên ngành trong việc
xác định giá trị và ngữ cảnh lịch sử của tư liệu. Điều này phù hợp với tinh
thần của Nghị quyết 57-NQ/TW khi xác định “nhà khoa học là nhân tố then chốt”.
Thứ ba, cần
gắn chuyển đổi số với chất lượng nghiên cứu chứ không tách thành một trục hoạt
động bên ngoài chuyên môn. Hiệu quả cuối cùng không phải là có thêm một kho tệp
điện tử, mà là giúp nhà nghiên cứu tiếp cận tư liệu nhanh hơn, giảm thời gian
xử lý những thao tác hành chính lặp lại, tăng khả năng kiểm chứng nguồn, kế
thừa kết quả nghiên cứu và mở rộng khả năng hợp tác học thuật. Trong thời gian
tới, các công cụ trí tuệ nhân tạo có thể được nghiên cứu sử dụng để hỗ trợ tìm
kiếm, phân loại, tổng hợp và phát hiện mối liên hệ giữa những nguồn tư liệu
lớn. Tuy nhiên, với nghiên cứu lịch sử, mọi kết quả do công nghệ hỗ trợ vẫn
phải đặt dưới yêu cầu kiểm chứng nguồn, bảo đảm tính xác thực và chịu trách
nhiệm học thuật của nhà nghiên cứu.
Thứ tư,
chuyển đổi số phải đi cùng năng lực số và kỷ luật thực thi. Hệ thống tốt nhưng
người sử dụng vẫn duy trì đồng thời hai quy trình - một quy trình trên máy và
một quy trình giấy - thì không những không giảm việc mà có thể làm khối lượng
công việc tăng thêm. Bởi vậy, yêu cầu sử dụng chữ ký số, thư điện tử công vụ,
hệ thống quản lý văn bản, phòng họp không giấy tờ hay cập nhật dữ liệu phải gắn
với hướng dẫn cụ thể, kiểm tra tiến độ và trách nhiệm của từng đầu mối. Kế
hoạch 100 ngày của Viện đặt ra cơ chế theo dõi hằng tuần và yêu cầu nhiệm vụ
phải có sản phẩm hoặc minh chứng cụ thể. Đây là cách tiếp cận phù hợp nếu được
duy trì cả sau khi đợt cao điểm kết thúc.
Cuối cùng, công
tác truyền thông về Nghị quyết 57-NQ/TW cần tiếp tục chuyển từ tuyên truyền chủ
trương sang giới thiệu những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn chuyển đổi số của
hoạt động khoa học xã hội và nhân văn. Kế hoạch số 319-KH/VSH ngày 14/8/2026 đã
tạo cơ sở để duy trì các bài viết về Nghị quyết 57-NQ/TW, chuyển đổi số, đổi
mới sáng tạo và những kết quả triển khai tại đơn vị. Nếu được tổ chức tốt,
chuyên mục này không chỉ thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền mà còn có thể trở
thành diễn đàn trao đổi về số hóa tư liệu lịch sử, quản trị dữ liệu khoa học,
ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong nghiên cứu, đạo đức và liêm chính học thuật
trên môi trường số, cũng như những vấn đề về bản quyền và bảo vệ dữ liệu.
Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt ra yêu cầu
lớn, nhưng ý nghĩa của Nghị quyết cuối cùng phải được kiểm chứng bằng những
thay đổi trong công việc hằng ngày của từng cơ quan, đơn vị. Với Viện Sử học,
quá trình triển khai thời gian qua cho thấy một hướng đi đang hình thành: từ
xây dựng kế hoạch chung đến phân tách nhiệm vụ theo từng lĩnh vực; từ ứng dụng
công nghệ sang chú trọng dữ liệu; từ số hóa tài liệu sang yêu cầu chuẩn hóa,
phân quyền và khai thác; từ tuyên truyền chủ trương sang gắn chuyển đổi số với
quản trị, nghiên cứu và phổ biến tri thức lịch sử.
Đó mới chỉ là những bước đầu. Giá trị
lâu dài của quá trình này sẽ phụ thuộc vào việc Viện có hình thành được một hệ
thống dữ liệu khoa học đủ tin cậy, một phương thức quản trị đủ minh bạch và
hiệu quả, cùng một đội ngũ nghiên cứu có khả năng sử dụng công nghệ mà không
làm mất đi những chuẩn mực căn bản của khoa học lịch sử hay không. Nếu làm được
điều đó, triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW tại Viện Sử học sẽ không chỉ là thực
hiện một nhiệm vụ chuyển đổi số, mà còn góp phần đổi mới chính cách thức bảo
tồn, nghiên cứu và phát huy giá trị của tri thức lịch sử trong điều kiện mới.
Chú thích:
[1] Bộ Chính trị, Nghị quyết số
57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Toàn văn Nghị quyết được Cổng Thông tin
điện tử Chính phủ đăng tải.
[2] Viện Sử học, Kế hoạch số 101/VSH-KH
ngày 22/5/2025 thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 03/NQ-CP; Kế
hoạch số 98/VSH-KH ngày 27/3/2026 triển khai Chiến lược chuyển đổi số của Viện
Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tại Viện Sử học giai đoạn 2026–2030.
[3] Chi bộ Viện Sử học, Nghị quyết số
76-NQ/CBVSH ngày 11/2/2026 về vận hành Website Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử theo
hướng đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
[4] Viện Sử học, Kế hoạch số 311-KH/VSH
ngày 08/8/2026 về số hóa năm 2026; Kế hoạch số 314-KH/VSH ngày 12/8/2026 triển
khai hành động cao điểm 100 ngày tháo gỡ các điểm nghẽn và thúc đẩy các nhiệm
vụ chuyển đổi số tại Viện Sử học; Kế hoạch số 318-KH/VSH ngày 14/8/2026 về thi
đua truyền thông 5 tháng cuối năm 2026; Kế hoạch số 319-KH/VSH ngày 14/8/2026
về đăng tải tin, bài về chuyển đổi số và Nghị quyết số 57-NQ/TW.
[5] Bộ Chính trị, Nghị quyết số
57-NQ/TW, mục I, Quan điểm chỉ đạo.
[6] Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt
Nam, Quyết định số 381/QĐ-KHXH ngày 17/3/2026 ban hành Chiến lược chuyển đổi số
của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam giai đoạn 2026-2030.
[7] Viện Sử học, Kế hoạch số 336-KH/VSH
ngày 21/8/2026 triển khai số hóa dữ liệu công tác Tổ chức - Cán bộ tại Viện Sử
học.
[8] Viện Sử học, “100 ngày tháo gỡ điểm
nghẽn, tạo chuyển biến thực chất trong chuyển đổi số tại Viện Sử học”, Trang
thông tin điện tử Viện Sử học, đăng ngày 16/8/2026.
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số
57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
2. Chính phủ (2025), Nghị quyết số
03/NQ-CP ngày 09/01/2025 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực
hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
3. Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt
Nam (2026), Quyết định số 381/QĐ-KHXH ngày 17/3/2026 ban hành Chiến lược chuyển
đổi số của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam giai đoạn 2026–2030.
4. Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt
Nam (2026), Quyết định số 1507-QĐ/VHLKHXHVN ngày 07/8/2026 ban hành Kế hoạch
hành động cao điểm 100 ngày tháo gỡ các điểm nghẽn và thúc đẩy các nhiệm vụ
chuyển đổi số tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
5. Viện Sử học (2025), Kế hoạch số
101/VSH-KH ngày 22/5/2025 thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số
03/NQ-CP.
6. Viện Sử học (2026), Kế hoạch số
98/VSH-KH ngày 27/3/2026 triển khai Chiến lược chuyển đổi số của Viện Hàn lâm
Khoa học xã hội Việt Nam tại Viện Sử học giai đoạn 2026-2030.
7. Chi bộ Viện Sử học (2026), Nghị
quyết số 76-NQ/CBVSH ngày 11/2/2026 về vận hành Website Tạp chí Nghiên cứu Lịch
sử theo hướng đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
8. Viện Sử học (2026), Kế hoạch số
311-KH/VSH ngày 08/8/2026 về số hóa của Viện Sử học năm 2026.
9. Viện Sử học (2026), Kế hoạch số
314-KH/VSH ngày 12/8/2026 triển khai hành động cao điểm 100 ngày tháo gỡ các
điểm nghẽn và thúc đẩy các nhiệm vụ chuyển đổi số tại Viện Sử học.
10. Viện Sử học (2026), Kế hoạch số
319-KH/VSH ngày 14/8/2026 về đăng tải tin, bài về chuyển đổi số và Nghị quyết
số 57-NQ/TW trên Trang thông tin điện tử Viện Sử học.
11. Viện Sử học (2026), Kế hoạch số
336-KH/VSH ngày 21/8/2026 triển khai số hóa dữ liệu công tác Tổ chức - Cán bộ
tại Viện Sử học.