DÒNG HỌ NGUYỄN TRỌNG VỚI VIỆC BẢO VỆ VÙNG BIÊN GIỚI PHÍA BẮC Ở THẾ KỶ XVIII
Dòng họ Nguyễn Trọng ở Trung Cần - Nghệ An đã đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ biên cương phía Bắc ở thế kỷ XVIII. Ba người con ưu tú, ba thế hệ tiếp nối nhau, không những hoàn thành trọng trách, giữ vững chủ quyền quốc gia, mà còn phát huy truyền thống tốt đẹp của dòng họ.
Mở đầu
Thế
kỷ XVIII, biên giới phía Bắc của Đại Việt bao gồm các đạo/trấn Hưng Hóa (nay
thuộc các tỉnh Phú Thọ, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai), Tuyên Quang, Cao
Bằng, Lạng Sơn và An Quảng (nay thuộc tỉnh Quảng Ninh); tiếp giáp với Vân Nam
và Lưỡng Quảng (Quảng Đông, Quảng Tây - nay là tỉnh Quảng Đông và khu tự trị
dân tộc Choang Quảng Tây), Trung Quốc.
Đây
là thời kỳ nội chiến tiếp tục xảy ra khốc liệt ở Đại Việt, thì ở Trung Quốc nhà
Minh suy yếu và bị một bộ tộc phía Đông Bắc là Mãn Thanh tiêu diệt (1644).
Nhà Thanh thống trị Trung Quốc, tiếp nối “truyền thống”
bành trướng của các triều đại trước đây, tiếp tục gây nhiễu,
lấn chiếm đất đai vùng biên giới; vì vậy nhà nước quân chủ Đại
Việt phải liên tục đấu tranh chống xâm lấn, bảo vệ biên
cương của đất nước.
Trong
bối cảnh ấy, dòng họ Nguyễn Trọng có 3 người được triều đình cử làm quan trấn
thủ ở vùng biên giới phía Bắc. Bài viết này không nhắc lại toàn bộ sự nghiệp
quan trường của 3 vị đại quan triều đình Lê - Trịnh,
mà chú trọng đến những đóng góp của họ trên lĩnh vực xây dựng, bảo vệ và ổn định
vùng biên giới phía Bắc.
1. Vài nét về tình
hình biên giới phía Bắc của Đại Việt ở thế kỷ XVIII
Thế
kỷ XVII - XVIII, triều đình Lê - Trịnh vẫn tiếp tục thực hiện chính sách “nhu
viễn” đối với vùng biên giới. Chính sách “nhu viễn”, còn gọi là chính sách “kimi”,
“lạt mềm buộc chặt”, mềm dẻo đối với các vùng cư trú của đồng bào các dân tộc
thiểu số, bao gồm phong quan tước, hậu đãi các tù trưởng địa phương, gả các
công chúa cho các tù trưởng địa phương... nhằm đảm bảo sự phục vụ trung thành
của họ đối với chính quyền trung ương. Đồng thời, nhà nước Lê - Trịnh trừng
phạt đối với các tù trưởng có thái độ chống đối. Thời kỳ này, do nội chiến liên
miên, tình trạng quản lý của triều đình đối với các thổ tù thiểu số lỏng lẻo,
cộng thêm sự phá hoại của dư đảng nhà Mạc, sự cướp bóc của các thế lực ngoại
bang, nhiều thổ tù đã nổi dậy chống lại triều đình.
Năm
1672, Vũ Công Tuấn (con của Vũ Công Đức trấn trị vùng Tuyên Quang) làm phản, quấy
nhiễu biên giới, cướp bóc nhân dân, câu kết với dòng dõi họ Mạc là Mạc Kính Vũ,
tự xưng Tiểu Giao Cương Vương và chạy sang Vân Nam nhờ nhà Thanh giúp sức. Thổ
ty phủ Khai Hóa (Vân Nam) nhà Thanh nhân dịp này chiếm đất hai châu Vị Xuyên, Bảo
Lạc thuộc Tuyên Quang và châu Thuỷ Vĩ thuộc Hưng Hoá, cướp dân của Đại Việt,
cho đặt tuần ty ở các động ven biên giới để thu thuế. Sách Đại Việt sử ký tục biên chép: “Trước đây (1672), Công Tuấn trốn
sang Vân Nam nương dựa thổ quan họ Nùng, kêu gọi tụ tập lính Thổ và người Nùng
cướp bóc vùng Tuyên Quang, Hưng Hóa. Dân biên giới bị quấy rối…”.
Năm 1699, Vũ Công Tuấn bị triều đình nhà Lê bắt và giết.
Năm
1686, lại có người làm phản ở Tuyên Quang tên là Khoan, liên kết dẫn dắt giặc
Nùng xâm lược, cướp bóc vùng biên giới Tuyên Quang và Hưng Hóa.
Đến tháng 6 năm 1686, giặc Nùng lại quấy nhiễu biên giới, [triều đình] sai bọn
Đề đốc Trịnh Cấp đem quân đi đánh. Quân lính tiến đánh thắng trận, nhưng quân
lính đến đâu ngang ngược sách nhiễu đến đó, nên triều đình không thưởng.
Năm
1699, Sầm Trì Phượng ở châu Tiểu Trấn Yên bên Trung Quốc lại sang quấy rối vùng
biên thuộc châu Bảo Lạc (Tuyên Quang). Năm 1701, thổ ty phủ Tư Lăng nhà Thanh
là Vi Vinh Diệu kéo sang lấn ruộng lúa của dân châu Lộc Bình. Sách Đại Việt sử ký tục biên chép: “[Chúa] hạ
lệnh cho quan phòng thủ ở cửa ải là Vi Phúc Vĩnh phải đốc suất dân cày cấy ở địa
hạt trong châu; khi lúa chín phải canh phòng cẩn mật hơn, đừng để cho [người nước
ngoài] vượt biên vào gặt tranh mất lúa mà thôi, chứ không động binh càn để gây
hấn khích ở biên giới”.
Vua Lê cử viên quan Hà Tông Mục dẫn đầu đoàn quan chức của triều đình
lên vùng biên giới để đàm phán, đấu tranh với quan đại diện của
triều đình nhà Thanh, kiên quyết không cho quân Thanh xâm lấn, chiếm
đóng châu Bảo Lạc, trấn Tuyên Quang (nay thuộc tỉnh Cao Bằng).
Tháng
9 năm 1721, Đèo Mỹ Lâm ở châu Chiêu Tấn chiếm đoạt Lai Châu, đánh phá Quỳnh Nhai
nơi biên giới phần nhiều bị đốt phá cướp bóc.
Ở
thế kỷ XVIII, nhà Thanh ở Trung Quốc đang bước vào giai đoạn cường
thịnh dưới sự trị vì của những ông vua có tài như Khang Hy, Ung Chính, Càn
Long, nên dã tâm xâm chiếm đất đai của các nước xung
quanh càng ráo riết. Nhận thấy mảnh đất Tụ Long của Đại Việt
có mỏ đồng với trữ lượng đồng khá lớn nên nhà Thanh tìm cách chiếm đoạt
vùng đất này. Viên quan tri phủ Khai Hoá (tỉnh Vân Nam, Trung Quốc)
đã cho binh lính tiến xuống chiếm giữ mỏ đồng và gửi thư báo cho triều đình nhà
Lê là biên giới của Trung Quốc tính từ phủ Khai Hoá ở
sát biên giới xuống phía Nam với chiều dài là 240 dặm và cho rằng ranh
giới giữa Đại Việt và Trung Quốc trước đây là sông Đỗ Chú là
không chính xác, ranh giới phải là sông Ninh Biên ở sâu trong phần
đất của Đại Việt. Bọn quan lại Trung Quốc vu khống nhà Lê đã lấn chiếm
đất đai biên giới của Trung Quốc đến 40 dặm, chúng cho quân
lính đóng đồn trại và tự lập bia mốc mới biên giới.
Trước
hành động ngang ngược, trắng trợn của Trung Quốc, triều đình nhà
Lê đã gửi công văn phản đối đến viên quan Tuần phủ Vân
Nam và triều đình nhà Thanh. Viên quan Tuần phủ Vân Nam lúc đó là Ngạc
Nhĩ Thái theo chỉ đạo của Thanh triều, đã gửi công văn trả
lời triều đình nhà Lê với lời lẽ rất kẻ cả, xấc xược. Viên tuần phủ quở
trách triều đình ta ngông cuồng, không biết lễ độ với thiên triều
và bắt vua ta phải làm biểu tạ tội, chấp nhận tuân theo cột
mốc biên giới mới mà chúng vừa dựng lên. Trước tình hình như
vậy, nhà Lê cử viên quan trấn thủ Tuyên Quang là Trịnh Kính đem quân
địa phương kéo lên phòng giữ, sẵn sàng chiến đấu; đồng thời triều
đình ta liên tục gửi công văn phản đối lên
quan tuần phủ Vân Nam và Thanh triều với lời lẽ ôn tồn, mềm mỏng nhưng cương
quyết.
Các
chúa Trịnh kiên trì chính sách ngoại giao để đòi lại đất. Năm 1725, thời vua
Ung Chính (nước Đại Thanh), sứ giả Đại Việt được Trịnh Cương cử sang thương
thuyết về vấn đề biên giới, hai bên giằng co nhưng không có kết quả. Sang năm
1726, vua Ung Chính chấp nhận trả lại 80 dặm trong số 120 dặm chiếm ở hai châu
Vị Xuyên và Thuỷ Vĩ, còn 40 dặm chỗ có xưởng đồng thì nhà Thanh không trả. Tới
năm 1728, Ung Chính mới đồng ý trả nốt 40 dặm có mỏ đồng Tụ Long. Chúa Trịnh
Cương cho Nguyễn Huy Nhuận và Nguyễn Công Thái làm sứ giả lên nhận đất. Ban đầu
thổ ty phủ Khai Hóa nhà Thanh muốn giữ lại các sách ở Bảo Sơn nên chỉ sai chỗ
khác, bảo đó là sông Đỗ Chú. Tuy nhiên, Nguyễn Công Thái biết là gian trá, bèn
tự mình xông pha lặn lội vào chỗ hiểm trở, đi qua các xưởng bạc, xưởng đồng, nhận
ra đúng chỗ sông Đổ Chú. Thổ ty phủ Khai Hóa phải thừa nhận và Nguyễn Công Thái
dựng bia làm nơi giáp ranh, lấy sông Đổ Chú làm ranh giới hai nước.
Sách
Lịch triều tạp kỷ của Ngô Cao Lãng chép:
“Bấy giờ quan nhà Thanh cho chia ranh giới hai nước bằng sông Đỗ Chú,
nhưng thổ quan phủ Khai Hoá chỉ láo sông Đỗ Chú giả để chực chặn lấy các sách ở Bảo
Sơn. Bọn Công Thái xông pha lam chướng, vượt nơi hiểm trở, đi qua các mỏ đồng,
mỏ bạc, nhận ra được sông Đỗ Chú thật, bèn cùng quan nhà Thanh hai
bên tự đi báo lại, tranh biện và bẻ lý mãi, rồi lập đồng trụ làm giới
mốc. Thế là việc cương giới mới ổn định. Mỏ đồng Tụ Long lại thuộc về ta”.
Về
việc trả lại xưởng đồng Tụ Long, sách Đại
Việt sử ký tục biên chép: Năm 1728, nhà Thanh Trả lại xưởng đồng Tụ Long.
Trước kia, Vị Xuyên, vùng đất biên giới bị thổ quan phủ Khai Hóa xâm chiếm đã
lâu.
Trải qua quá trình đấu tranh lâu dài đến 5 năm, triều đình Lê -
Trịnh đã đòi lại được 17 thôn ở biên giới, trong đó có mỏ đồng Tụ Long. Để đề
phòng hành động xâm lấn, cướp phá từ phía Trung Quốc, chúa Trịnh
đã cử võ quan đem hơn hai nghìn binh lính đến đóng giữ, bảo vệ cho việc
khai thác mỏ đồng Tụ Long.
Trước
tình hình bất ổn ở vùng biên giới, chính quyền nhà nước Lê - Trịnh đã thực hiện
một số biện pháp nhằm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, ổn định tình hình dân chúng. Một
trong những biện pháp đó là giảm bớt quan lại trong các trấn ty, để giảm bớt
chi phí chu cấp của người dân. Sách Đại
Việt sử ký tục biên chép: Năm
1721, “dân nơi biên giới phiêu tán, thôn xóm tiêu điều. Nếu không giảm số viên
chức thì sự chi phí về thóc gạo, bổng lộc và sự phiền nhiễu biếu xén vận chuyển
biết bao giờ mới thôi”, nên triều đình Lê - Trịnh cho giảm bớt chức phó quan
trong hai ty Thừa chính, Hiến sát và phủ huyện ở các trấn Cao Bằng, Tuyên
Quang, Hưng Hoá và Lạng Sơn, công việc của các viên quan ấy giao về cho các trấn quan…[9].
Đối với
vùng biên giới, người
Việt và người Hoa thường gián tiếp hay trực tiếp giúp người thiểu số hay quân
phản loạn chống lại triều đình đối phương dọc vùng biên giới. Vì thế, nhà Lê và
nhà Thanh đã thực hiện việc phân ranh giới lãnh thổ bằng những trụ đá, nhưng thỏa
thuận này không được tôn trọng, 6 huyện ở Hưng Hóa lọt vào tay nhà Thanh. Nhiều
cuộc đụng độ vũ trang giữa quân Thanh và chúa Trịnh đã xảy ra tại Lạng Sơn và
Cao Bằng trong suốt thời gian từ 1724 đến 1753, thắng lợi nghiêng về phía Việt
Nam, nhiều đồn bốt quân sự đã được dựng lên để kiểm soát sự qua lại của dân
chúng trong vùng. “Xin lập đồn ở những đường hiểm yếu, chia giao cho phiên tù
[cho lính] tới đóng giữ, để việc phòng bị biên giới được nghiêm”.
Năm 1739, Lưu
thủ Thái Nguyên là Lê Đình Tính tâu với chúa Trịnh rằng: "Châu Bạch Thông
và huyện Cảm Hóa, giáp giới với Lạng Sơn, phủ Cao Bằng và châu Bảo Lạc, vì
trước kia không có đồn ải gì, nên những bọn ở ngoài vòng pháp luật đi lại tự
do. Bọn quan ở phiên trấn tự tiện về Kinh sư để cầu cạnh việc riêng, còn việc
tuần phòng nhất thiết phế bỏ. Như thế những bọn giặc cướp ngông cuồng, không có
ai kiềm chế, ngày lan rộng ra. Xin đặt đồn ở những chỗ đường hiểm yếu, bắt bọn
quan phiên trấn phải đem quân đến đóng giữ, để việc phòng bị chỗ biên thùy được
nghiêm mật". Chúa
Trịnh nghe lời tâu.
Rồi sau việc
phòng cấm hơi sơ sài, người Trung Quốc đi lại khai khẩn làm mỏ không có hạn chế
gì. Những người Thiều Châu bên Trung Quốc đến ở xưởng Tống Tinh đến 20.000 -
30.000 người. Chúng đều dữ tợn, ngoan ngạnh, khinh nhờn pháp luật, đánh giết
lẫn nhau không kiêng sợ gì. Trong thời Cảnh Hưng, Khổn đốc
Ngô Thì Sĩ xin khu xử chúng thêm nghiêm ngặt, kiềm thúc chúng lại. Triều đình
mới sai quan quân đến tận nơi để tra xét và làm thành danh sách. Rồi vì cớ
khác, việc ấy lại thôi không làm.
Khoảng
sau năm 1774, Ngô Thì Sĩ đã mô tả cảnh nhân dân đói kém và xã hội loạn lạc vùng
đất Lạng Sơn như sau: “Bấy giờ hạt Lạng Sơn đói vì mất mùa; dân 7 châu phần nhiều
đi nơi khác và chết đói ngoài đường”. Khi ông đến, tìm cách cấp cứu. Rồi chiêu
dụ dân lưu tán về khai khẩn ruộng hoang, tự mình đôn đốc việc cày bừa để khuyến
khích dân biên giới. Đến vụ gặt mùa lúa tốt lắm. Do đó trộm giặc tiêu tan,
trong hạt yên ổn. Khi việc tuần phòng được rỗi rãi, ông lại nhởn nhơ nơi núi
khe, tìm chốn thanh u, dò nơi hiểm trở, không có chỗ nào ông không đến. Ở phía
bắc trấn thành cách sông, ông mở mang động Nhị Thanh làm cảnh trí rất lạ. Khi
việc quan thong thả, ông thả thuyền tới động, leo lên bậc đá ngâm thơ, uống rượu;
thật là hứng thú, phóng khoáng”.
Năm
1786, khi Nguyễn Huệ ra Bắc khuất phục triều Lê, toàn khu vực Đông Bắc lọt vào
tay nhà Thanh và chỉ thu hồi lại năm 1789 khi quân Thanh bị đánh bại bỏ chạy về
nước. Nhưng Nguyễn Huệ không có ý định ở lại đất Bắc nên trong suốt thời gian
tranh giành ảnh hưởng với Nguyễn Phúc Ánh ở trong Nam, khu vực thượng du lại bị
các toán cướp người Hoa và quân Thanh lại vào chiếm cứ.
Như
vậy, trong suốt một thế kỷ, tình hình biên giới phía Bắc luôn luôn bất ổn. Nhà
Thanh vẫn nuôi dã tâm xâm lược, lấy đất của nước ta. Vì thế, tại đây đã diễn ra
nhiều cuộc xâm lấn, nhiều cuộc đụng độ vũ trang, đồng thời cũng là nơi diễn ra
các cuộc đấu tranh ngoại giao để bảo vệ và giữ gìn từng tấc đất của cha ông.
Tượng ba Tiến sỹ dòng họ Nguyễn Trọng ở làng Trung Cần, xã Nam Trung, huyện Nam Đàn, Nghệ An. Ảnh nguồn: truyenhinhnghean.vn
2. Dòng họ Nguyễn
Trọng làm quan tại vùng biên giới phía Bắc
Trong
thế kỷ XVIII, dòng họ Nguyễn Trọng có 3 người làm quan ở vùng biên giới phía Bắc,
bao gồm:
Nguyễn
Trọng Thường (1681 - 1735), làm Giám sát
Ngự sử đạo Hưng Hóa năm 1712. Năm 1714, ông lại được cử làm Thanh hình Hiến sát sứ xứ Lạng Sơn.
Nguyễn
Trọng Đang (1724 - 1786) làm Đốc trấn Lạng
Sơn năm 1777.
Nguyễn
[Trọng] Đường (1746 - ?) được bổ làm Đốc
trấn Lạng Sơn, tước Chi Phong bá năm 1787.
Có
thể thấy, 3 đời liên tiếp (Nguyễn Trọng Thường là bố của Trọng Đang, ông nội [Trọng]
Đường), dòng họ Nguyễn Trọng đều được cử giữ trọng trách ở trấn Lạng Sơn - là một
trọng trấn của đất nước, nơi tiếp xúc sứ thần của 2 nước Đại Việt - Trung Hoa.
Trấn
Lạng Sơn được Phan Huy Chú mô tả như sau: “Đất
này ruộng ít, dân thưa, dân tộc thì người Nùng nhiều, người Thổ ít. Tiền của
hơi kém trấn khác, nhưng liền với Trung Quốc, gọi là trọng trấn. Việc đón tiếp các sứ đi qua là việc quan trọng,
thể diện của một nước trọng hay khinh quan hệ ở đó. Trách nhiệm của người coi
giữ trấn này không thể không cẩn thận”.
Vì thế, quan trấn thủ ở các ngoại trấn cũng được tùy nghi xử trí các sự vụ tại
đây: “Các trấn Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hưng Hóa đều là
phên dậu của nhà nước”, nên cho các quan trị nhậm tùy phương cách xử trí, để giữ
vững vùng biên giới.
Trong
các chuyến đi sứ Trung Quốc, Lạng Sơn vốn nhận cung đốn phu dịch, ngựa xe cho
các đoàn Cống sứ và Khâm sứ, nên [triều đình] trừ vào tiền thuế dung, thuế điệu
và không cấp cho tiền thuê gánh nữa. Hễ Cống sứ khởi trình, trấn Lạng Sơn phải
chuẩn bị đầy đủ dân phu tiếp đón.
Nhận thức rõ vai trò của các ngoại trấn trong việc bảo vệ chủ quyền đất
nước, năm 1712, Tham tụng
Nguyễn Quý Đức, Nguyễn Thế Bá khải
yêu cầu các quan trấn thủ ở biên trấn đều bắt
phải đến lỵ sở cũng như bốn [nội] trấn. Tờ khải nói rõ: Trước đây, các
trấn quan trấn Tuyên Quang, Hưng Hóa, Thái Nguyên, Lạng Sơn hoặc ủy một trấn
quan kiêm lĩnh, hoặc sai cận thần kiêm làm. Người kiêm lĩnh thì mắc bận việc ở
nội trấn, quan cận thần thì quyến luyến ở Kinh đô, chỉ muốn tùy tiện ở xa trông coi, lâu thành thói quen, dẫu có quan võ thay
thế, cũng viện lệ ấy, thường lấy cớ rằng núi sông lam chướng không tiện cho
binh lính. Nhưng Kinh đô với phiên trấn, trong ngoài cách xa, ở chỗ biên cương,
biết đâu không xảy ra việc bất thường, chợt khi có việc cần kíp, sao có thể cứu
được ngay! Lại còn việc kiện tụng, đòi hỏi, giải tống, kể ngày hành trình, bắt
dân cung đốn, dân chịu phiền phí càng nhiều. Vậy xin từ nay về sau, các quan
trấn thủ ở biên trấn đều bắt phải đến lỵ sở cũng như bốn [nội] trấn. Trấn Yên
Quảng vốn cho Hải Dương kiêm lĩnh, nhưng xứ ấy ở miền biển xa xôi, xin đặc biệt
chọn người giỏi, chuyên việc cầm phòng. Lại như hai ty của Tuyên [Quang], Lạng
[Sơn], đều nên đến trấn làm việc, theo đúng phép cũ, để tỏ rõ chế độ đời thái
bình. Triều đình theo lời khải ấy, cho thi hành.
Đạo
sắc năm Vĩnh Thịnh thứ 8 (1712) cho biết sau khi vinh quy trở lại triều, Nguyễn
Trọng Thường được giao giữ chức Giám sát Ngự sử đạo Hưng Hoá. Có lẽ ông cũng phải
đến trị nhậm tại lỵ sở Hưng Hóa.
Giám sát Ngự sử là một chức quan
của Ngự sử đài. Ngự sử đài có chức năng: Đàn hặc các quan, nói bàn về chính sự
hiện thời. Nếu các quan làm trái phép, chính sự hiện thời có thiếu sót, đều được
xét hặc trình bày, cùng là xét bàn về thành tích của các nha môn đề lĩnh, phủ
doãn, trấn thủ, lưu thủ, thừa ty, và xét hỏi các vụ kiện về người quyền quý ở
Kinh ức hiếp, về người cai quản hà lạm. Vì thế, Ngự sử đài có chức danh rất trọng,
nhằm giữ gìn phong hóa, pháp độ, nên cũng gọi là quan Phong (phong hóa) hiến
(pháp độ), Đài quan hoặc Ngôn quan. Trong Ngự sử đài có các chức danh Đô ngự sử
(trật hàm chánh Tam phẩm), Phó đô Ngự sử (chánh Tứ phẩm), Thiêm đô Ngự sử
(chánh Ngũ phẩm) và Giám sát ngự sử (chánh Thất phẩm).
Hiến sát sứ là chức Trưởng
quan của Hiến sát sứ ty, gọi tắt là Hiến ty, là một trong Tam ty ở các đạo thừa
tuyên (Đô ty, Thừa ty và Hiến ty), hàm chánh Lục phẩm. Chức quan này có trách
nhiệm: nói bày, đàn hặc, khám đoán, xét hỏi, hội đồng kiểm soát, khảo khóa, tuần
hành…
Về chức Đốc trấn, Phan Huy Chú viết: “Thời
Trung hưng về sau, bãi chức Đô ty, lại đặt chức Trấn thủ, duy có ba xứ Cao Bằng,
Lạng Sơn, Nghệ An, vì việc biên giới quan trọng phiền kịch, đều đặt chức Đốc trấn…”. Đốc trấn thuộc ngạch võ, hàm Tòng tam phẩm.
Từ năm Tân Sửu (1721) triều đình Lê - Trịnh bắt đầu bổ dụng quan văn làm Đốc trấn.
Trong quan chế thời Lê, chức quan được liệt vào hàng đại thần phải có hàm tòng
Tứ phẩm trở lên (văn quan từ chức Đông các Đại học sĩ, Quốc tử giám Tế tửu,
Thông chính sứ, Tham chính trở lên đến
Tam thái; võ quan từ chức Chỉ huy sứ Đồng tri, Tổng binh Đồng tri, Đô tri lên đến
Tam thái).
Sơ
lược về chức trách của các chức quan nêu trên của Nguyễn Trọng Thường, Nguyễn
Trọng Đang và Nguyễn Trọng Đường để có hình dung nhất định về công việc của các
ông khi nắm giữ trọng trách ở nơi biên trấn. Trong thời gian thực hiện nhiệm vụ
nơi biên trấn, các vị quan chức họ Nguyễn Trọng đã làm được một số việc để lại ấn
tượng tốt đẹp cho người dân địa phương, đồng thời ghi đậm dấu ấn tại nơi biên ải
còn tồn tại cho đến ngày nay.
3. Dòng họ Nguyễn
Trọng với việc bảo vệ biên cương, ổn định đời sống nhân dân vùng biên giới
Phải
thấy rằng, với việc nắm giữ nhiều trọng trách trong triều đình Lê - Trịnh, các
vị quan dòng họ Nguyễn Trọng đã có những đóng góp nhất định vào sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ đất nước, trong đó bao gồm bảo vệ biên cương, ổn định đời sống nhân
dân vùng biên giới. Tiếc rằng, thư tịch không ghi chép đầy đủ và cụ thể những
thành tựu của họ trong những năm tháng làm trấn thủ Lạng Sơn, chỉ còn lại vài
điểm xuyết dưới đây:
Bảo vệ chủ quyền, giữ vững quốc thể
Theo
các nguồn tư liệu để lại, các danh thần Nguyễn Trọng Thường, Nguyễn Trọng Đang,
Nguyễn Trọng Đường trong quá trình làm quan đều được triều đình tin cậy, giao
cho trách nhiệm đi sứ nhà Thanh.
Xưa
nay, ngoại giao với Trung Quốc là công việc thường xuyên và hết sức quan trọng
đối với các sứ thần Việt Nam. Ở từng giai đoạn, tùy từng thời điểm với những
nhiệm vụ khác nhau, nhưng sứ mệnh của những người đi sứ phải đạt được 2 mục
tiêu chính là: Duy trì sự hòa hiếu có lợi cho triều đại, cho đất nước vào bảo vệ
chủ quyền, quốc thể và cương vực trước đế chế phương Bắc. Đây là vinh dự lớn
lao, nhưng cũng là trách nhiệm nặng nề cho những người được lựa chọn đi sứ.
Sách
Bắc sứ thông lục của Lê Quý Đôn cho
biết: Người được vâng mệnh đi sứ, về văn học phải xem rộng biết nhiều, về đối
đáp ngoại giao phải mềm dẻo và thẳng thắn đúng mực. Nhưng khẩu khí không thể
không khéo léo, vì lẽ chức vị cao thấp khác nhau. Nếu trông thấy bóng họ đã nhụt
dũng khí, tự ti mình là người ở nơi xa xôi, ít giao thiệp, ít nói năng thì ắt sẽ
bị người ta khinh rẻ và coi là quân Di Địch, sứ giả Di Địch.
Nguyễn
Trọng Thường không chỉ là nhà chính trị có năng lực, đức độ mà còn là nhà ngoại
giao xuất sắc. Có thể thấy, trong cuộc nội trị, Nguyễn Trọng Thường là người cầm
quyền có năng lực, có đức độ, còn trong trường ngoại giao ông không những bảo vệ
được quốc thể, đem vinh dự về cho bản thân, mà hơn thế ông còn làm cho quốc thể
thêm long trọng nhờ tài năng của mình.
Năm
Cảnh Hưng thứ 44 (1783), Nguyễn Trọng Đường vâng mệnh đi sứ. “Đến Nam Ninh gặp
vua Thanh, ông vào yết. Vua Thanh đặc biệt tặng cho 4 chữ đại tự “Nam Giao bình
hàn” (Cõi Nam Giao là cột ngăn) đóng dấu có 4 chữ “cổ hy thiên tử”
[nghĩa là vua 70 tuổi, tức Càn Long].
Xác định mốc giới, trùng tu đài Ngưỡng Đức ở cửa Nam
Quan
Trong
sách Bi ký biểu văn tạp lục, hiện được
lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, còn chép lại văn bia Trùng tu quan thượng Ngưỡng Đức đài bi ký do Nguyễn Trọng Đang soạn
năm 1785. Qua nội dung văn bia, có thể thấy, trong quá trình ông làm quan Đốc
trấn Lạng Sơn, ông đã góp sức sửa sang, trùng tu đài Ngưỡng Đức ở cửa Nam Quan
nơi biên ải để làm nơi dừng chân cho các đoàn sứ bộ.
Năm
1769, Nguyễn Trọng Đang đi sứ qua cửa Nam Quan, thấy Ngưỡng Đức đài còn bằng
tranh, tre, nứa, lá. Khi ông làm Đốc trấn Lạng Sơn đã cho trùng tu, xây bằng gạch,
lợp ngói đỏ tươi. Đến năm 1785, Nguyễn Trọng Đường - cháu gọi Nguyễn Trọng Đang
bằng chú, đi sứ qua đây, đài vừa trùng tu xong.
Văn
bia ghi: “Nước Việt ở thời có núi Ngũ Lĩnh, cửa khẩu biên giới ở đâu không khảo
cứu được, về sau biến cải vô lường. Gần châu Văn Uyên trấn Lạng Sơn có cửa khẩu, trên cửa khẩu có đài Ngưỡng Đức,
chẳng biết đài được tạo lập tự bao giờ, chỉ nghe nói là vào thời Gia Tĩnh nhà
Minh (1522 - 1566). Đài cùng quán bên phải bên trái được dựng che bằng tranh
tre lau sậy đã cũ lắm rồi.
Năm
Canh Tý (1780), năm thứ bốn mươi mốt triều đại vua ta, tức năm bốn mươi lăm Càn
Long nhà Thanh, Đang (tức tác giả văn bia) nhậm chức Đốc trấn, được 5 năm thì
khởi công trùng tu, thay đổi sang gạch ngói, mới có đài hoành tráng như vậy”.
Theo
Nguyễn Trọng Đang, từ khi phụng mệnh đi sứ về, nhận việc ở trấn Lạng Sơn, khi
thì tạ sứ hồi trình, khi thì chúc mừng cống sứ lên đường, nhiều lần phục vụ,
nên nghĩ rằng: “Nước ta lễ văn thông với Trung Châu, huống chi nay Đại hoàng đế
yêu mến, khi tuế cống bên ngoài, khi giao tiếp trao thư trao lụa, cần tu sửa
đài quán cho xứng với nghi thức và nghĩa tình”.
Ông có “con mắt nhìn xa trông rộng” khi tu sửa đài Ngưỡng Đức và viết bài văn
bia, là “để giữ đất này về sau cho sứ giả nước nhà làm sáng tỏ nền văn hiến quốc
gia”.
Cửa
Nam Quan, còn gọi là Trấn Nam quan, nay là Hữu Nghị quan, là cửa khẩu biên giới
của Việt Nam và Trung Quốc. Cửa khẩu/cửa ải này do phía Trung Quốc xây dựng từ
thời nhà Hán. Sách Đại Nam nhất thống chí
xét kỹ: “Cửa này dựng năm Gia Tĩnh nhà Minh, đến năm Ung Chính thứ 3 [1725]
nhà Thanh, Án sát tỉnh Quảng Tây là Cam Nhữ Lai tu bổ lại; có tên nữa là Đại
Nam quan; phía đông là một dải núi đất, phía tây là một dải núi đá, đều dựa
theo chân núi làm tường, gồm 119 trượng. Cửa quan đặt ở quãng giữa, có biển đề
3 chữ “Trấn Nam Quan” dựng từ năm Ung Chính thứ 6 [1728] triều Thanh, có một cửa,
có khóa, chỉ khi nào có công việc của sứ bộ mới mở. Bên trên cửa có Trùng đài,
biển đề bốn chữ “Trung Ngoại nhất gia”, dựng từ năm Tân Sửu đời vua Càn Long
nhà Thanh. Phía bắc có cửa Chiêu Đức đài, đằng sau có Đình tham đường (nhà dừng
ngựa) của nước Thanh; phía nam có Ngưỡng Đức đài của nước ta, bên tả bên hữu
đài có hai dãy hành lang, mỗi khi sứ bộ đến cửa quan, thì dùng chỗ này làm nơi
tạm nghỉ”.
Cầm phòng, chế ngự giặc cướp
Theo
sách Nghệ An ký, trước kia, người Thiên
Châu ở Trung Quốc sang nước ta khai thác mỏ bạc. Hàng năm họ thu thập bạc đưa về
Trung Quốc. Các phụ đạo ở biên giới rình khi họ ra khỏi bờ cõi thì đón đường cướp
lấy, nhưng lại sợ việc phát giác thì phải tội, nên đưa một phần số bạc cướp được
đút lót cho các quan trấn mà quan trấn cũng nhận.
Khi
Nguyễn Trọng Đang làm Đốc trấn Lạng Sơn, theo lệ thường, các viên phụ đạo đem 5
khối bạc đến biếu ông, ông nổi giận cự lại và từ chối.
Ông làm Đốc trấn Lạng Sơn đến 6 năm, để lại nhiều ân đức cho nhân dân vùng biên
giới, đặc biệt là giữ vững trật tự an ninh, trấn áp mọi hoạt động quấy phá của
giặc dã và ngoại xâm, bảo đảm ổn định cuộc sống cho dân chúng và làm trọn nghĩa
vụ và trách nhiệm với đất nước.
Chăm lo đời sống cho nhân dân
Các
thư tịch đều chép về việc đức độ, chăm lo cho đời sống của nhân dân của các vị
quan dòng họ Nguyễn Trọng khi ở Lạng Sơn.
Về
Nguyễn Trọng Thường, sách Nghệ An ký của
Bùi Dương Lịch chép theo gia phả cho biết, tính ông đứng đắn, đôn hậu, trải làm
quan ở Lạng Sơn, Sơn Tây, đến đâu cũng được dân ca tụng là rất tốt (đức nữ).
Bùi Dương Lịch trong sách Thanh Chương
huyện chí lại khẳng định thêm “Dân vùng biên ca tụng công đức của ngài”.
Về
Nguyễn Trọng Đang, năm 1777, ông đi sứ về, làm Đốc trấn Lạng Sơn. Việc quan chuộng
nhân từ, những người Thanh ngụ ở Lạng Sơn cảm đức của ông, nên lập sinh từ để
thờ và làm một bài văn Tụng đức ca tụng
ông.
Nội dung bức trướng ca ngợi như sau: “Bút phượng tốt đẹp, nối nghiệp tiền nhân,
sáng đức như ông, tất đời được bảo hộ, mọi người được thấm ơn ông. Xứng đáng là
những cây hòe, cây quế trước sân”. Lại có
câu: “May được gặp ông khiến cho kẻ xa quy phục về gần, làm yên dân tứ phương,
tụ hợp hàng hóa tứ phương, trao đổi với nhau ai về chốn nấy. Phải chăng là, ông
coi dân như con, và dân gặp được ông như được gặp cha mẹ vậy”. Lại câu ca ngợi
công đức của ông: “Danh văn Bắc Đẩu, Đức
trứ Nam bang, cái Trung Châu bút dã” (nghĩa
là: Tiếng tăm như sao Bắc Đẩu, Đức lớn rạng trời Nam, ngọn bút trùm đất
Trung Châu).
Một vài nhận xét
Biên
cương, lãnh thổ là vấn đề trọng yếu của mỗi quốc gia trong quá trình tồn tại,
xây dựng và phát triển, là cơ sở khẳng định sự tồn tại của một đất nước hay một
triều đại. Do đó, vấn đề bảo vệ biên cương, lãnh thổ là điều được mọi triều đại
quan tâm. Trước những âm mưu cướp phá, lấn chiếm, xâm lược của ngoại bang, để
giữ vững chủ quyền và bảo toàn lãnh thổ quốc gia, ổn định tình hình đất nước,
các triều đại quân chủ Việt Nam luôn chủ động trong việc phòng bị, giữ gìn và bảo
vệ lãnh thổ.
Có
thể thấy, các ngoại trấn vùng biên giới phía Bắc là những trọng trấn, là phên dậu của quốc gia. Các trấn này giáp ranh với
Trung Quốc, một quốc gia hùng mạnh trong khu vực và luôn luôn có dã tâm bành
trướng, xâm lược Đại Việt khi có điều kiện. Vì thế, những viên quan trấn thủ ở
các trọng trấn này phải là người có bản lĩnh, có tài chính trị, khéo léo, linh
hoạt để xử trí những sự vụ diễn ra hằng ngày như đấu tranh ngoại giao chống xâm
lấn đất đai biên cương; kiểm soát dân cư giao lưu buôn bán, đi lại giữa hai bên
biên giới; kiềm chế các tù trưởng, thủ lĩnh dân tộc; ổn định đời sống nhân dân…
Dòng họ Nguyễn Trọng ở Trung Cần - Nghệ An đã đóng góp cho sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ biên cương phía Bắc ở thế kỷ XVIII. Ba người con ưu tú, ba thế hệ tiếp
nối nhau, không những hoàn thành trọng trách, giữ vững chủ quyền quốc gia, mà
còn phát huy truyền thống tốt đẹp của dòng họ.
Chú thích:
Bùi Dương Lịch, Thanh
Chương huyện chí, Sđd, tr.72 - 73.