image banner

CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 - DẤU MỐC QUAN TRỌNG MỞ RA KỶ NGUYÊN MỚI CỦA NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công là bước ngoặt trọng đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Dấu mốc lịch sử này còn có ý nghĩa to lớn đối với nền giáo dục quốc dân, đặt cơ sở, tạo dựng nền tảng cho sự phát triển giáo dục trong kỷ nguyên mới của đất nước, đồng thời để lại những di sản cần kế thừa, phát huy nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước trong thời kì đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

 

    1. Cách mạng tháng Tám năm 1945 - bước ngoặt lịch sử chấm dứt hoạt động của hệ thống giáo dục thực dân, tạo điều kiện cơ bản và đặt ra yêu cầu mới cho việc xây dựng nền giáo dục quốc dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

    Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại trong tiến trình lịch sử của dân tộc, chấm dứt ách thống trị gần 100 năm của chủ nghĩa thực dân, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam. Cách mạng tháng Tám cũng đồng thời chấm dứt hoạt động của hệ thống giáo dục thực dân, tạo ra những điều kiện cơ bản để Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam xây dựng lại đất nước về mọi mặt, trong đó có giáo dục. Nền giáo dục quốc dân của nước Việt Nam mới - một sản phẩm của Cách mạng tháng Tám được xây dựng và khẳng định là nền giáo dục mang tính chất đại chúng hóa, dân tộc hóa và khoa học hóa, được khai sinh cùng với sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

    Bên cạnh những thuận lợi sau Cách mạng tháng Tám, công cuộc xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng còn non trẻ phải đương đầu với những khó khăn chồng chất do thù trong, giặc ngoài cùng với những hậu quả nặng nề về kinh tế, văn hóa, xã hội do chế độ cũ để lại, được ví như “ngàn cân treo sợi tóc”. Nền kinh tế vốn nghèo nàn, lạc hậu, kiệt quệ do chính sách vơ vét, bóc lột của Pháp - Nhật và chiến tranh tàn phá. Các hủ tục, tệ nạn xã hội trở nên phổ biến.

    Chính sách cai trị của Pháp trong hơn 80 năm (từ giữa thế kỷ XIX đến năm 1945) đã để lại những hậu quả về mặt văn hóa, giáo dục. 95% dân số không biết đọc, biết viết. Số học sinh tiểu học chỉ bằng 0,8% dân số, học sinh trung học chiếm chưa đầy 0,3% dân số. Con em nhân dân lao động hầu như không có mặt trong các trường tiểu học, nhất là ở miền núi thì trường học lại càng hiếm. Từ sau khi Nhật đảo chính Pháp, các trường đại học, cao đẳng ở Đông Dương cũng không hoạt động được như cũ do các giáo sư người Pháp lần lượt bỏ đi, sinh viên cũng phân tán mỗi người một nơi. Khi chính quyền về tay nhân dân, thực tế ở nhiều thôn, xã thiếu người đọc thông, viết thạo và được nhân dân tín nhiệm để thực hiện nhiệm vụ. Trong mọi ngành, cán bộ đều thiếu và tình trạng này là một cản trở lớn đến công cuộc kháng chiến, kiến quốc. Vì vậy, việc đào tạo cán bộ chuyên môn là việc Chính phủ rất quan tâm thực hiện.

    Nạn dốt và những hậu quả về kinh tế, văn hóa, xã hội do chính sách nô dịch, ngu dân của thực dân Pháp để lại là mối đe dọa thường trực đến sự tồn vong của đất nước. Khi nước nhà đã độc lập, nhân dân đã có chính quyền, yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải khắc phục những hậu quả nặng nề đó và tiến hành xây dựng đất nước về mọi mặt, đặc biệt là về văn hóa, giáo dục. Đây là những thử thách to lớn đối với chính quyền cách mạng, đồng thời đặt ra những nhiệm vụ quan trọng cần phải giải quyết để bảo vệ và giữ vững thành quả của Cách mạng tháng Tám và chuẩn bị đội ngũ cán bộ cho công cuộc xây dựng đất nước về sau.

    Xác định xây dựng nền giáo dục mới là một trong những nhiệm vụ chiến lược cơ bản, lâu dài của đất nước, Đảng, Nhà nước, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức sâu sắc về vai trò của giáo dục và xác định rõ mục đích, nhiệm vụ của ngành giáo dục. Sáng ngày 3-9-1945, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu 6 nhiệm vụ cấp bách nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải làm[1], trong đó nhiệm vụ “diệt giặc dốt” đứng hàng thứ hai. Việc xây dựng nền giáo dục mới, mà trước hết là thanh toán nạn mù chữ cho nhân dân được Đảng và Nhà nước đặt thành một trong ba nhiệm vụ lớn nhất lúc bấy giờ. Ngoài việc bàn các biện pháp chống “giặc đói”, “giặc ngoại xâm” và thực thi các quyền tự do dân chủ thì các biện pháp chống “giặc dốt”, xóa nạn mù chữ đã được quan tâm và đặt ra ngay từ đầu, bởi vì đây là nhiệm vụ rất quan trọng và cấp bách, cần phải được thực hiện tốt mới đảm bảo cho người dân lao động nâng cao được trình độ văn hóa, tham gia có hiệu quả vào các lĩnh vực quản lý, nâng cao được tinh thần và năng lực làm chủ đất nước, bảo vệ chính quyền cách mạng.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Vì vậy, Người đề nghị mở ngay một chiến dịch diệt dốt và đồng thời phát động chiến dịch diệt dốt, chống nạn mù chữ trong cả nước. Nhằm đẩy mạnh việc xóa nạn mù chữ, gần một tuần sau ngày tuyên bố độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh thành lập Nha bình dân học vụ. Trong ngày 8-9-1945, Chính phủ đã ban hành 3 Sắc lệnh quan trọng về bình dân học vụ (BDHV)[2]. Cùng với các Sắc lệnh về BDHV kể trên, ngày 4-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi chống nạn thất học”, phát động trong cả nước một phong trào thi đua diệt giặc dốt.

    Trong thư gửi các học sinh nhân dịp khai giảng năm học đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện những quan điểm cơ bản về tính chất, mục đích, nhiệm vụ của nền giáo dục mới, đó là nền giáo dục “hoàn toàn Việt Nam”, phát triển những “năng lực sẵn có” của người học, “đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam”[3].

    Đến ngày 10-6-1946, Chính phủ ký Sắc lệnh 146/SL và 147/SL khẳng định nguyên tắc căn bản của nền giáo dục mới là dân tộc hóa, khoa học hóa và đại chúng hóa và theo tôn chỉ phụng sự lý tưởng quốc gia và dân chủ. Mục đích của nền giáo dục mới được xác định rõ ràng: đào tạo học sinh thành những công dân tốt, những cán bộ tốt để phục vụ cho sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc, cho công cuộc bảo vệ và xây dựng chính quyền nhân dân.

    Như vậy, Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời đã chính thức chấm dứt hoạt động của hệ thống giáo dục thực dân, tạo ra những  điều kiện cơ bản để khai sinh và xây dựng nền giáo dục quốc dân mới của nước Việt Nam độc lập. Đồng thời, những khó khăn, thách thức sau cách mạng cũng đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ cho các ngành nói chung, ngành giáo dục nói riêng. Đó là nhiệm vụ xây dựng nền giáo dục quốc dân, xóa nạn mù chữ, nâng cao dân trí, tạo dựng đội ngũ cán bộ quản lí, chuyên môn cho các ngành, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ đất nước, bảo vệ nền độc lập, tự do, bảo vệ thành quả mà Cách mạng tháng Tám vừa giành được. Xuất phát từ tình hình thực tế, tính chất, nguyên tắc và mục đích của nền giáo dục quốc dân cũng được Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định rõ, là kim chỉ nam cho sự nghiệp xây dựng và phát triển giáo dục ngay từ những ngày đầu mới thành lập nước.

    2. Xây dựng nền giáo dục quốc dân sau Cách mạng tháng Tám - nền tảng cho quá trình xây dựng và phát triển giáo dục trong các giai đoạn tiếp theo

    Chỉ trong hơn một năm đầu sau Cách mạng tháng Tám, nhờ các chủ trương, chính sách và biện pháp đúng đắn, sáng suốt của Đảng, Nhà nước và quyết tâm của toàn dân, nền móng đầu tiên của ngành giáo dục đã được xây dựng và thu được những thành quả đáng tự hào.

    Thành tích nổi bật trong hơn một năm đầu sau Cách mạng tháng Tám là tổ chức bình dân học vụ, mở chiến dịch xóa nạn mù chữ trên khắp cả nước nhằm thanh toán nạn mù chữ và diệt “giặc dốt”. Ngay sau khi thành lập, Nha bình dân học vụ đã mở các lớp bình dân cho thợ thuyền và nông dân, khẳng định việc học chữ là bắt buộc và không mất tiền với mọi người. Sau một thời gian ngắn, chiến dịch diệt dốt đã trở thành một phong trào quần chúng sôi nổi, thu hút hàng triệu học viên bình dân học vụ trong cả nước và hàng chục vạn cán bộ, giáo viên bình dân học vụ với một đội ngũ cán bộ bao gồm chủ yếu là thành phần học sinh, cán bộ và trí thức đã từng hoạt động cho Hội truyền bá Quốc ngữ trước Cách mạng tháng Tám. Từ một di sản nặng nề do chế độ thực dân để lại, chỉ sau một năm phát động phong trào “chống nạn thất học”, tính đến ngày 8-9-1946, cả nước 74.957 lớp học với 95.665 giáo viên[4], đồng thời có thêm 2.520.600 người thoát nạn mù chữ, biết đọc, biết viết. Hà Tĩnh là tỉnh đã thanh toán nạn mù chữ với tỉ lệ cao nhất, chiếm 52% dân số. Riêng 4 tỉnh Liên khu V, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên có 314.550 người mãn khóa với tổng số 17.073 lớp, 22.115 giáo viên[5]. Xen giữa các tiết học hay các buổi học, các lớp còn tổ chức cho các học viên nghe thời sự, học tập chính trị, giảng giải về chủ nghĩa yêu nước, về chính quyền của nhân dân và ý thức của công dân. Phong trào xóa nạn mù chữ không chỉ mang ý nghĩa văn hóa, mà nó trở thành một phong trào vận động yêu nước, huấn luyện chính trị cho quảng đại quần chúng nhân dân.

    Song song với việc tổ chức bình dân học vụ và đẩy mạnh phong trào xóa nạn mù chữ, một trong những nhiệm vụ quan trọng đặt ra là cải tổ và xây dựng hệ thống giáo dục quốc dân. Ngày 9-7-1946, Chính phủ ký Sắc lệnh 119/SL thành lập Bộ Quốc gia giáo dục.  Ngoài việc sắp xếp lại bộ máy học chính các cấp và các trường theo tinh thần mới, Bộ Quốc gia Giáo dục đã xúc tiến việc nghiên cứu xây dựng một dự án cải cách cần thiết và tập hợp đội ngũ thầy giáo, xây dựng các đoàn thể chính trị trong trường học, nhằm từng bước xóa bỏ nền giáo dục lệ thuộc, xây dựng nền giáo dục dân chủ mới.

    Hệ thống giáo dục quốc dân mới được xây dựng đã đạt những kết quả quan trọng. Theo thống kê của Bộ Giáo dục, đến cuối năm học 1945-1946, bậc tiểu học có 4.952 trường (kể cả trường sơ cấp) với 8.720 giáo viên và 284.314 học sinh, bậc trung học có 29 trường (trong đó Bắc Bộ có 9 trường, Nam Bộ có 4 trường, Trung Bộ có 6 trường và 10 trường bán công) với 31 giáo viên trường công và 2.378 học sinh[6].

    Các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp cũng bước đầu được xây dựng và củng cố để đào tạo cán bộ, công nhân cho yêu cầu của cuộc kháng chiến và xây dựng đất nước trong tương lai. Đảng và Chính phủ chuẩn bị những điều kiện cải tổ lại các trường hiện có và mở thêm những trường mới. Ngày 8-10-1945, Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Vũ Đình Hòe đã ra nghị định công bố ngày khai giảng của các trường đại học, cao đẳng gồm trường Y khoa, Dược khoa, Nha khoa đại học, Cao đẳng, Khoa học, Cao đẳng Mỹ thuật, Cao đẳng chuyên môn Công chính, Cao đẳng chuyên môn Canh nông, Cao đẳng chuyên môn Thú y. Ngày 10-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 45 thành lập thêm Ban Đại học Văn khoa do Đặng Thai Mai làm Giám đốc. Ngày 15-11-1945, tại cơ sở trường Đại học Đông Dương số 19 Lê Thánh Tông, Hà Nội, lễ khai giảng đầu tiên của Đại học Việt Nam (gồm 5 ban là Y khoa, Khoa học, Văn khoa và Chính trị - Xã hội, Mỹ thuật, trong đó có Ban Văn Khoa là mới) dưới chế độ dân chủ cộng hòa được tổ chức. Đây là “một mốc son lịch sử đánh dấu sự ra đời của nền đại học dân tộc của nước Việt Nam độc lập, tự do”[7]. Nếu như trước đây việc giảng dạy trong các trường đại học là do các giáo sư người Pháp đảm nhận, người Việt làm trợ lý, trợ giáo thì trong năm đầu sau khi giành độc lập, đội ngũ giảng viên cũng được xây dựng. Nhà nước đã tập hợp, trọng dụng nhân sĩ, trí thức yêu nước, hình thành nên đội ngũ cán bộ giảng dạy đại học, cao đẳng đầu tiên của nước Việt Nam mới.

    Một trong những điều quan tâm đầu tiên của Đảng và Nhà nước ngay sau khi nước nhà giành độc lập là khôi phục lại địa vị của tiếng Việt trong các trường, từ bậc tiểu học đến bậc đại học. Bởi vậy, thành công đáng ghi nhận của ngành giáo dục giai đoạn này là ngay từ năm học đầu tiên khi nước nhà độc lập, tất cả các trường học, các bậc học từ tiểu học đến đại học đều dùng tiếng Việt để giảng dạy và học tập. Đồng thời, Chính phủ cũng bước đầu chú ý đến việc đưa môn ngoại ngữ vào giảng dạy. Việc coi trọng dạy và học quốc văn, quốc ngữ cùng các môn khoa học hiện đại là một quyết định quan trọng, không chỉ nhằm nâng cao ý chí độc lập dân tộc mà còn góp phần vào việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam.

    Bên cạnh đó, Chính phủ cũng định ra chương trình giáo dục, tổ chức ngạch thi nhằm kiểm soát và lập hội đồng sách giáo khoa. Trong điều kiện còn nhiều khó khăn sau Cách mạng tháng Tám, các chương trình tiểu học, trung học, đại học tạm thời được cải tổ, sửa chữa cho phù hợp với nền giáo dục dân tộc, khoa học, dân chủ.

    Mặt khác, vấn đề gửi học sinh đi học ở nước ngoài cũng được quan tâm từ rất sớm. Tháng 11-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Hoa Kỳ đề nghị về việc đưa thanh niên sang Mỹ học tập. Chương trình hoạt động của Chính phủ năm 1946 cũng đã đưa ra nhiệm vụ chuẩn bị giúp học sinh đi học nước ngoài. Quan điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc đào tạo nhân tài cho đất nước, cũng như trong xây dựng, phát triển nền giáo dục của Việt Nam trong các giai đoạn tiếp theo.

    Thành quả của chiến dịch xóa nạn mù chữ, diệt “giặc dốt” và bước đầu xây dựng hệ thống giáo dục quốc dân với các cấp từ phổ thông đến đại học đã thể hiện vị trí, vai trò của giáo dục đối với công cuộc xây dựng, củng cố và bảo vệ vững chắc chính quyền nhân dân, bảo vệ thành quả của Cách mạng tháng Tám. Thắng lợi này đã tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân mở mang về văn hóa, tri thức, tham gia quản lí nhà nước và phát huy quyền làm chủ của mình. Những thành tựu đạt được cũng góp phần quan trọng vào việc chuẩn bị cho cuộc kháng chiến và kiến quốc đang đến gần và đặc biệt là đã đặt những viên gạch đầu tiên, kiến tạo nền móng vững chắc cho sự phát triển của hệ thống giáo dục quốc dân ở tất cả các cấp, bậc học trong các giai đoạn tiếp theo.

    3. Kế thừa và phát huy thành tựu của Cách mạng tháng Tám nhằm xây dựng và phát triển giáo dục trong kỷ nguyên mới

    Tiếp nối những kết quả đạt được, ngành giáo dục Việt Nam đã có những bước phát triển quan trọng dựa trên cơ sở, nền tảng đã được tạo dựng thành công sau Cách mạng tháng Tám năm 1945.

    Trong kháng chiến chống Pháp, giáo dục tiếp tục được duy trì và phát triển đã tham gia vào việc động viên sức người, sức của của nhân dân vào sự nghiệp kháng chiến, góp phần vào cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện. Các cấp, các ngành mở nhiều loại trường, lớp để đào tạo cán bộ, công nhân, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật. Trong kháng chiến chống Mỹ, thực hiện thống nhất đất nước, mặc dù tình hình có nhiều biến chuyển phức tạp, nhất là từ năm 1964, cả nước lâm vào tình trạng có chiến tranh, song sự nghiệp giáo dục miền Bắc vẫn đạt nhiều thành tựu cả về quy mô, nội dung, phương pháp và xây dựng đội ngũ giáo viên. Quy mô giáo dục không những không giảm đi mà còn mở rộng hơn so với trước và đạt được những thành tựu quan trọng cả về chất và lượng. Ở miền Nam, nền giáo dục cách mạng ở vùng giải phóng, chống chế độ giáo dục thực dân mới của Mỹ ở các vùng đô thị còn bị kìm kẹp đã góp phần vào cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân vùng tạm chiếm. Bằng những thành quả đạt được, ngành giáo dục đã có những đóng góp không nhỏ trong việc thực hiện mục tiêu đánh thắng giặc Mỹ trên các mặt trận trong đó có mặt trận văn hóa - giáo dục.

    Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, đất nước thống nhất, cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, việc thống nhất hai hệ thống giáo dục (miền Bắc 10 năm, miền Nam 12 năm) thành một hệ thống giáo dục thống nhất trong cả nước, cải tạo hệ thống giáo dục thực dân ở miền Nam, xây dựng sự nghiệp giáo dục theo phương hướng xã hội chủ nghĩa là một đòi hỏi bức thiết, cải cách giáo dục trở thành một yêu cầu khách quan. Chính sách cải cách giáo dục đề ra năm 1979 và các chủ trương, chính sách của Đảng đã có tác dụng to lớn đối với việc xây dựng và phát triển giáo dục vào cuối những năm 70, đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX. Chỉ sau một thời gian ngắn, hệ thống giáo dục đã được xây dựng tương đối hoàn chỉnh, thống nhất từ mầm non đến sau đại học. Nền giáo dục ở miền Nam đã được xây dựng và phát triển trở thành một bộ phận của nền giáo dục thống nhất trong cả nước thống nhất từ mầm non đến sau đại học.

    Bước vào thời kì đổi mới, để khắc phục những khó khăn và đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra từ Đại hội Đảng lần thứ VI (12-1986), sự nghiệp giáo dục Việt Nam cũng bước vào một giai đoạn phát triển mới nhằm thực hiện đổi mới theo hướng đồng bộ, toàn diện và sâu sắc. Giáo dục được khẳng định là có vai trò, vị trí quan trọng hàng đầu. Thực hiện chủ trương của Đảng, nhiều chính sách và biện pháp phát triển giáo dục đã được ban hành. Hệ thống giáo dục quốc dân hoàn chỉnh và thống nhất trong cả nước với các cấp học từ mầm non đến đại học và giáo dục thường xuyên, các loại hình trường lớp công lập, bán công, dân lập và tư thục; các hoạt động giáo dục được thực hiện theo nhiều phương thức dài hạn, ngắn hạn, tập trung, không tập trung, đào tạo, bồi dưỡng, chính quy, không chính quy, giáo dục thường xuyên…

    Hệ thống cơ sở vật chất, trường lớp, đội ngũ giáo viên có những bước phát triển vượt bậc, bước đầu đáp ứng được quá trình dạy học và giáo dục. Quy mô phát triển giáo dục liên tục tăng qua các năm. Giáo dục mẫu giáo và phổ thông ở các cấp, bậc học góp phần nâng cao mặt bằng dân trí, văn hoá, thể hiện sự chăm lo phát triển cho thế hệ trẻ, thế hệ tương lai của đất nước, đồng thời là nền tảng, cơ sở để đào tạo nguồn lực con người, nguồn lực lao động cho đất nước. Không chỉ dừng lại ở việc tăng quy mô, chất lượng các cấp học mầm non và phổ thông, giáo dục còn có sự phát triển sâu rộng ở các cấp học cao hơn trong hệ thống giáo dục quốc dân như giáo dục cao đẳng, đại học, trung cấp, dạy nghề - những cấp học trực tiếp đào tạo lực lượng lao động ở các trình độ khác nhau cho đất nước. Các trường đại học và cao đẳng được thành lập và sắp xếp có hệ thống ở hầu hết các khu dân cư lớn, ở các vùng, các địa phương trong cả nước, trong đó một số trường trọng điểm được Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư nhiều hơn trước, hệ thống cơ sở vật chất, trường học được nâng cấp, cải thiện đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu. Với sự mở rộng không ngừng về quy mô và nâng cao về chất lượng, giáo dục đại học, cao đẳng đã cung cấp nguồn lao động chất lượng cao cho sự phát triển trên mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước. Ngoài đào tạo trong nước, Việt Nam còn mở rộng hợp tác giáo dục với hơn 100 nước, vùng lãnh thổ, với các tổ chức quốc tế, gửi sinh viên đi học tập ở nước ngoài và tiếp nhận lưu học sinh của một số nước đào tạo tại các trường ở Việt Nam.

    Cùng với sự tăng lên về quy mô so với thời kỳ trước cả về số trường, lớp, giáo viên, học sinh, chất lượng giáo dục cũng có nhiều biến chuyển, góp phần quan trọng vào việc ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Chất lượng giáo dục phổ thông có chuyển biến bước đầu về chất lượng toàn diện và được thế giới đánh giá cao. Cả nước đã hoàn thành mục tiêu xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục trung học cơ sở và đang đẩy mạnh thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi và phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi; một số địa phương đang thực hiện phổ cập giáo dục trung học. Giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp đã đạt được chất lượng trong một số lĩnh vực. Các trường trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề không ngừng nâng cao tay nghề của người lao động. Giáo dục đại học từng bước vươn lên, đào tạo được một đội ngũ đông đảo cán bộ khoa học kỹ thuật đã và đang công tác, có những đóng góp quan trọng trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế, xã hội. Các chính sách thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục về cơ bản được đảm bảo cho người dân.

    Tóm lại, hơn 80 năm sau Cách mạng tháng Tám thành công, 50 năm thực hiện thống nhất đất nước và qua 40 năm tiến hành đổi mới toàn diện về mọi mặt, bên cạnh một số mặt hạn chế, tồn tại về tổ chức quản lí giáo dục, về chất lượng, nội dung, phương pháp và chương trình dạy học…, giáo dục đã có những bước phát triển mới cả về quy mô, cơ cấu và chất lượng ở hầu hết các bậc học, cấp học và ngành học, đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng lớn của nhân dân, góp phần thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Những kết quả đạt được là do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, trong đó có sự kế thừa, kết tinh và phát huy thành tựu mà Cách mạng tháng Tám mang lại. Trong mỗi giai đoạn lịch sử, việc xác định mục đích, nhiệm vụ, nguyên tắc, cơ cấu hệ thống giáo dục… có những biến chuyển phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tiễn song đều được phát triển trên cơ sở nền giáo dục quốc dân đã được xây dựng từ buổi đầu thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

    Hiện nay, thời đại kỷ nguyên số và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng như tiến trình chuyển đổi số mạnh mẽ trên toàn cầu là xu thế tất yếu tạo ra thời cơ và thách thức cho sự phát triển của Việt Nam - quốc gia đang tích cực hội nhập toàn diện, sâu rộng với thế giới trên nhiều lĩnh vực. Một trong những nhiệm vụ đặt ra hiện nay là “khơi thông và phát huy tối đa mọi nguồn lực xã hội, phát huy tối đa nguồn lực con người - nhân tố quyết định của sự nghiệp đổi mới. Có cơ chế đột phá thu hút nhân tài trong và ngoài nước; xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực có kiến thức, kỹ năng và tư duy đổi mới, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế số và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”[8]. Ngày 31-12-2024, Chính phủ ban hành Quyết định số 1705/QĐ-TTg phê duyệt chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, trong đó nêu rõ quan điểm phát triển giáo dục và khẳng định mục tiêu tổng quát là: “Phát triển giáo dục Việt Nam hiện đại, kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu văn minh nhân loại, phát triển toàn diện con người Việt Nam, đáp ứng những yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong kỷ nguyên mới, chủ động tham gia và thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và các tiến bộ mới nhất của khoa học và công nghệ; chú trọng giáo dục đạo đức, nhân cách, phát huy tối đa tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, tạo nền tảng cho việc thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, đất nước phồn vinh và hạnh phúc. Phát triển hệ thống giáo dục mở, đảm bảo công bằng và bình đẳng trong tiếp cận giáo dục, phục vụ học tập suốt đời, theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa, hội nhập quốc tế. Đến năm 2030, giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến của khu vực châu Á và đến năm 2045 đạt trình độ tiên tiến của thế giới”[9]. Chương trình chuyển đổi số quốc gia đã xác định 8 lĩnh vực cần ưu tiên chuyển đổi số trước, bao gồm: y tế, giáo dục, tài chính - ngân hàng, nông nghiệp, giao thông vận tải và logistics, năng lượng, tài nguyên và môi trường, sản xuất công nghiệp. Cùng với việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến cho người dân được đẩy mạnh, việc thực hiện chuyển đổi số trong giáo dục có bước phát triển mạnh mẽ, như đăng ký thi tốt nghiệp trung học phổ thông, đăng ký xét tuyển trực tuyến trong giáo dục… Các phần mềm phục vụ công tác giảng dạy, học tập và quản lí giáo dục được đưa vào ứng dụng trong nhà trường. Ngày 22-8-2025, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo xác định giáo dục là quốc sách hàng đầu và là động lực cho sự phát triển bền vững của đất nước. Nghị quyết 71 tạo ra một bước ngoặt quan trọng trong phát triển giáo dục tại Việt Nam, nhằm khắc phục những tồn tại và tạo ra một nền giáo dục chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước.

    Đứng trước thời cơ và thách thức đặt ra, giáo dục cần phát huy vai trò, vị trí quan trọng hàng đầu, tích cực khắc phục những hạn chế, tồn tại nhằm thực hiện các nhiệm vụ đặt ra và phục vụ yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Để thực hiện được điều này, ngành giáo dục cần tiến hành đồng bộ nhiều chính sách, biện pháp phù hợp, hiệu quả trong đó có việc đúc rút kinh nghiệm, kế thừa nền tảng đã được tạo dựng từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, tiếp tục cải cách về thể chế, cách thức tổ chức quản lí, xây dựng cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân, về xây dựng chương trình, nội dung, phương pháp dạy học, phát triển đội ngũ giáo viên, phát triển quy mô giáo dục, đảm bảo công bằng trong giáo dục, tăng cường hợp tác và hội nhập quốc tế.

*

    Như vậy, Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc, đồng thời cũng là bước ngoặt quan trọng, mở ra một trang sử mới trong lịch sử phát triển giáo dục Việt Nam, chính thức chấm dứt nền giáo dục thực dân phong kiến, khai sinh nền giáo dục quốc dân mới của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Vấn đề nâng cao dân trí, xây dựng nền giáo dục quốc dân trở thành một bộ phận gắn bó với sự nghiệp cách mạng. Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, cùng với nhiệm vụ đặt ra trong từng giai đoạn lịch sử, giáo dục Việt Nam đã thu được những kết quả đáng tự hào góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Nền giáo dục quốc dân được tạo dựng trong năm đầu sau khi Cách mạng tháng Tám thành công đã đặt cơ sở, nền tảng quan trọng, vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và phát triển giáo dục trong các giai đoạn tiếp theo. Kế thừa và phát huy những thành quả của Cách mạng tháng Tám, trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, ngành giáo dục với vai trò, vị trí quan trọng hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước cần tiếp tục đúc rút kinh nghiệm, tận dụng thời cơ, vượt qua những khó khăn, thách thức và khắc phục những điểm còn hạn chế để phục vụ đắc lực, hiệu quả cho sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Với những ý nghĩa to lớn đó, Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một dấu mốc quan trọng mở ra kỷ nguyên mới của nền giáo dục Việt Nam.



[1] Tại phiên họp này, Chính phủ đã thảo luận và tán thành 6 vấn đề cấp bách nhất do Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra là: 1 Phát động một phong trào tăng gia sản xuất để cứu đói, mở ngay cuộc lạc quyên gạo để giúp đỡ người nghèo; 2. Mở chiến dịch chống nạn mù chữ; 3. Tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu, soạn thảo Hiến pháp dân chủ; 4. Mở chiến dịch giáo dục cần, kiệm, liêm, chính để bài trừ những thói hư tật xấu của chế độ thực dân để lại; 5. Bỏ ngay thuế thân, thuế chợ, thuế đò, tuyệt đối cấm hút thuốc phiện; 6. Ra tuyên bố tự do tín ngưỡng và đoàn kết lương giáo.

[2] Sắc lệnh số 17/SL thành lập Nha Bình dân học vụ, quy định về nhiệm vụ của Nha chăm lo việc học cho nhân dân, trực thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục. Nhiệm vụ thanh toán nạn mù chữ được đặt lên hàng đầu, đồng thời tiếng Việt Nam được quyết định dùng làm chuyển ngữ cho nền giáo dục và cho mọi công văn giấy tờ; Sắc lệnh số 19/SL, quy định trong 6 tháng, làng nào, thị trấn nào cũng phải có lớp học bình dân, ít nhất là 30 người theo học; Sắc lệnh số 20/SL, cưỡng bách việc học chữ Quốc ngữ cho mọi lứa tuổi hạn trong 10 năm tất cả mọi người Việt Nam từ 8 tuổi trở lên phải biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ.

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009, tập 4, tr.32.

[4] Báo Sự thật, Số 53, ngày 13-9-1946.

[5]Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Phông Bộ Giáo dục, Hồ sơ 146, tr.3.

[6] Báo Cứu quốc 6-3-1946. Dẫn theo: Đỗ Thị Nguyệt Quang (1996), Quá trình xây dựng và phát triển nền giáo dục Việt Nam mới từ tháng 9 - 1945 đến tháng 7-1945, Luận án PTSKH Lịch sử: 5.03.15, Hà Nội, tr.32.

[7] Lê Mậu Hãn, Hồ Chí Minh khởi đầu việc xây dựng nền giáo dục quốc dân Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 385, 2008, tr.7.

[8] Tô Lâm, “Chuyển đổi số - động lực quan trọng phát triển lực lượng sản xuất, hoàn thiện quan hệ sản xuất đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 2/9/2024.

[9] Quyết định số 1705/QĐ-TTg Phê duyệt chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, ngày 31/12/2024.


TS. Nguyễn Thúy Quỳnh, Viện Sử học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Tin nổi bật
  • Bộ sách gồm 10 tập, Viện Sử học dịch, Nxb KHXH xuất bản.
    23/04/2013
  • Đại Nam nhất thống chí đời Tự Đức là bộ sách địa lý học Việt Nam đầy đủ nhất dưới thời phong kiến. Đại Nam nhất thống chí theo bộ Đại Thanh nhất thống chí của Trung Quốc mà chia ra các mục như: phương vi, phân dã, kiến trí, duyên cách, phủ huyện, hình thế, khí hậu, phong tục, thành trì, học hiệu, hộ khẩu, điền phú, sơn xuyên, quan tấn, dịch trạm, thị lập, tứ miếu, tự quán, phân việt, thổ sản, v.v... Ngoài ra, Đại Nam nhất thống chí còn có quyển chép riêng về Cao Miên (Campuchia), Xiêm La, Miến Điện, Nam Chưởng, Vạn Tượng.
    22/04/2013
  • Trong tập sách này, các tác giả không chỉ trình bày các sự kiện về quân sự, chính trị mà còn nêu lên nhiều sự kiện khác thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại....
    27/09/2012
  • "Việt Nam những sự kiện lịch sử (Từ khởi thủy đến 1858)" là cuốn sách ghi lại các sự kiện lịch sử nước nhà từ khởi thủy đến khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược vào giữa thế kỷ XIX.
    27/09/2012
  • Đại Nam liệt truyện là một bộ sách có quy mô khá đồ sộ trong kho tàng thư tịch cổ viết bằng chữ Hán của Việt Nam, do cơ quan làm sử chính thức của nhà Nguyễn là Quốc sử quán biên soạn vào giữa thế kỷ XIX.
    24/09/2012
  • Lịch triều hiến chương loại chí là bộ bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam. Có nghĩa là Phép tắc các triều đại chép theo thể phân loại do Phan Huy Chú soạn trong 10 năm (1809-1819).
    23/09/2012
  • Là bộ sử có giá trị to lớn và quan trọng bậc nhất trong nền sử học Việt Nam thời kỳ cổ trung đại. Bộ chính sử do Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê biên soạn.
    22/09/2012
  • Cuốn sách Cổ luật Việt Nam gốm 2 bộ Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ. Quốc triều hình luật (còn gọi là bộ luật Hồng Đức) và Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là bộ luật Gia Long) là hai bộ cổ luật duy nhất còn lại cho đến nay của các triều đại phong kiến Việt Nam; là những di sản quý giá có giá trị tham khảo về nhiều mặt cho chúng ta ngày nay.
    19/09/2012
  • Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ là một bộ sách được biên soạn dưới triều Nguyễn theo thể loại Hội điển. Thể loại này được đặt ra nhằm ghi chép lại các điển pháp, quy chuẩn và các dữ kiện liên quan đến tổ chức và hoạt động của một triều đại, một Nhà nước.
    19/09/2012
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1