image banner

HƯỚNG TỚI BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI KHOÁ XVI VÀ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2026 -2031
Cách đây tròn 80 năm, ngày 06/01/1946, cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam đã được tổ chức thắng lợi, bầu ra Quốc hội khóa I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Sự kiện này không chỉ đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong tiến trình xây dựng Nhà nước dân chủ nhân dân ở Việt Nam, mà còn là biểu tượng sinh động của ý chí độc lập, tự do và khát vọng làm chủ đất nước của nhân dân Việt Nam sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945.
 

SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN VỀ TỔ CHỨC, BỘ MÁY CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1946 - 1954

 

TS. Lê Quang Chắn

Phó Viện trưởng Viện Sử học

 

          Cách đây tròn 80 năm, ngày 06/01/1946, cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam đã được tổ chức thắng lợi, bầu ra Quốc hội khóa I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Sự kiện này không chỉ đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong tiến trình xây dựng Nhà nước dân chủ nhân dân ở Việt Nam, mà còn là biểu tượng sinh động của ý chí độc lập, tự do và khát vọng làm chủ đất nước của nhân dân Việt Nam sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945.

          Trong bối cảnh đất nước vừa giành được độc lập, đồng thời phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thách thức, đặc biệt là cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946-1954), Quốc hội khóa I đã từng bước được xây dựng và phát triển cả về tổ chức và bộ máy hoạt động. Từ những thiết chế ban đầu còn giản lược, phù hợp với điều kiện của một nhà nước mới ra đời, Quốc hội đã dần được củng cố, kiện toàn, bảo đảm thực hiện vai trò là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân và cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Quá trình phát triển đó gắn liền với yêu cầu của sự nghiệp “kháng chiến, kiến quốc”, góp phần huy động và tổ chức sức mạnh toàn dân tộc trên các mặt trận chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội và ngoại giao, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đi đến thắng lợi.

1. Bối cảnh lịch sử và sự ra đời của Quốc hội Việt Nam

Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, ngày 02/9/1945, tại vườn hoa Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố với quốc dân và thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ra đời. Một kỷ nguyên mới trong lịch sử tiến hoá của dân tộc Việt Nam đã được mở ra - Kỷ nguyên Độc lập - Tự do. Ngay sau khi mới thành lập, chính quyền cách mạng của nhân dân Việt Nam phải đối phó với một tình thế hết sức hiểm nghèo, “thù trong, giặc ngoài” cùng nhiều vấn đề về nội trị và đối ngoại.

Để chấn hưng đất nước non trẻ, một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để củng cố và tăng cường chính quyền là phải thực hiện quyền dân chủ cho quần chúng, phải triển khai ngay hoạt động của Quốc hội để quy định Hiến pháp, bầu Chính phủ chính thức. Ngày 03/9/1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái 18 tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giầu, nghèo, tôn giáo, dòng giống...”[1]. Chính phủ lâm thời đã thể hiện rõ quyết tâm của mình thông qua việc ban hành một loạt chính sách, tạo khung pháp lý và chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho sự kiện đặc biệt quan trọng này.

Ngày 08/9/1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà đã ra Sắc lệnh số 14-SL về cuộc Tổng tuyển cử để bầu Quốc hội. Bản Sắc lệnh ghi rõ: “Chiểu theo Nghị quyết của Quốc dân đại biểu Đại hội họp ngày 16, 17/8/1945, tại Khu giải phóng, ấn định rằng nước Việt Nam sẽ theo chính thể dân chủ cộng hoà, và Chính phủ nhân dân toàn quốc sẽ do một Quốc dân đại hội bầu theo lối phổ thông đầu phiếu cử lên. Xét rằng nhân dân Việt Nam do Quốc dân đại hội thay mặt là quyền lực tối vao để ấn định cho nước Việt Nam một Hiến pháp dân chủ Cộng hoà[2]. Cùng với đó, Chính phủ lâm thời còn ra một loạt sắc lệnh để xúc tiến công việc chuẩn bị cụ thể cho việc Tổng tuyển cử[3]. Tuy nhiên, sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động đã cản trở việc tổ chức Tổng tuyển cử, khi chúng “kêu gọi tẩy chay Tổng tuyển cử vì rằng trình độ dân trí của ta còn thấp kém (!), trên 90% dân số mù chữ nên không đủ năng lực thực hiện quyền công dân của mình, rằng cần tập trung chống Pháp xâm lược không nên mất thì giờ vào bầu cử…”[4].

Nhờ những chính sách nhân nhượng cần thiết, vừa mềm dẻo, vừa cứng rắn, kiên quyết, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ lâm thời đã “làm thất bại âm mưu của quân Tưởng muốn tiêu diệt chính quyền nhân dân, bảo đảm cho nhân dân ta tập trung sức kháng chiến chống xâm lược của thực dân Pháp ở miền Nam. Chính quyền nhân dân không những được giữ vững mà còn được củng cố về mọi mặt”[5]. Do đó, Chính phủ lâm thời đã tập hợp được sự đoàn kết, ủng hộ của nhân dân, hạn chế tối đa sự chống phá của kẻ thù, tổ chức cuộc Tổng tuyển cử trên cả nước.

Ngày 06/01/1946, Tổng tuyển cử diễn ra trong không khí phấn khởi của toàn dân. Báo Quốc hội (số đặc biệt ngày 06/01/1946) đã trân trọng in ở trang đầu ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh và cả bút tích lời kêu gọi của Người: “Khuyên đồng bào nam nữ 18 tuổi trở lên hôm nay tất cả đều đi bỏ phiếu, để bầu những người đại biểu xứng đáng vào Quốc hội đầu tiên của nước ta”. Đáp lại lời kêu gọi thiêng liêng của Tổ quốc, bằng cả ý chí sắt đá của một dân tộc quyết tâm bảo vệ nền độc lập tự do vừa giành được, dù ở cả ba miền, các thế lực phản động, thù địch luôn chống phá quyết liệt, đặc biệt ở miền Nam, nhân dân phải đi bỏ phiếu dưới bom đạn của kẻ thù, nhưng cuộc bầu cử vẫn kết thúc thành công. Tổng kết lại, “nhìn chung ở cả 71 tỉnh thành trong cả nước, 89% tổng cử tri đã đi bỏ phiếu, phổ biến là 80%, nhiều nơi đạt 95%. Trừ một số nơi phải bầu bổ sung, còn tuyệt đại đa số các địa phương chỉ bầu một lần. Cả nước đã bầu được 333 đại biểu, trong đó, có 57% số đại biểu thuộc các đảng phái khác nhau, 43% không đảng phái, 87% số đại biểu là công nhân, nông dân, chiến sĩ cách mạng, 10 đại biểu phụ nữ và 34 đại biểu các dân tộc thiểu số”[6].

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc lời tuyên thệ trước Quốc hội tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa I (02/03/1946). Ảnh: TTXVN

Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử tháng 01/1946 đánh dấu mốc phát triển về thể chế dân chủ của nước Việt Nam mới. Sáng ngày 02/03/1946, gần 300 đại biểu Quốc hội đã về họp tại Nhà hát Lớn thành phố Hà Nội. Trong kỳ họp thứ nhất này, Quốc hội đã bầu được Ban Thường trực Quốc hội gồm 15 ủy viên chính thức và 03 ủy viên dự khuyết. Quốc hội đã hội tụ các đại biểu của cả ba miền Bắc, Trung, Nam, thể hiện được ý chí của nhân dân cả nước. Quốc hội đã có đại diện của tất cả thế hệ những người Việt Nam yêu nước đương thời, từ những nhà cách mạng lão thành đã từng bôn ba nơi hải ngoại, tử thách trong nhiều nhà tù đế quốc như: Hồ Chí Minh, Tôn Đức Thắng..., cho đến những đại biểu trẻ tuổi đang tràn đầy nhiệt huyết[7]. Quốc hội đã hội tụ đại biểu của tất cả các ngành, các giới, các giai cấp, tầng lớp xã hội từ công nhân, nông dân, nam giới, nữ giới cho đến những nhà tư sản, công thương gia như Nguyễn Sơn Hà, Trịnh Văn Bô..., những nhân sĩ trí thức và các nhà hoạt động văn hoá nổi tiếng như Nguyên Văn Tố, Hoàng Đạo Thuý, Thái Văn Lung, Huỳnh Tấn Phát, Đặng Thai Mai... Quốc hội cũng hội tụ đại biểu của các thành phần tôn giáo trên đất nước như Thiên chúa giáo (Linh mục Phạm Bá Trực), Phật giáo (Thượng toạ thích Mật Thể), Cao Đài (Chưởng quản Cao Triều Phát)..., của tất cả các thành phần dân tộc, từ đa số đến thiểu số như Mường, Tày, Nùng, Thái, Mèo, Hán, Ba Na, Ka Tu, Ra Đê, Ê Đê, Gia Rai, Khơ Me...; của tất cả những người không đảng phái và các đảng phái chính trị như Đảng Cộng sản, Đảng Dân chủ, những đảng viên Xã hội cùng những người tiến bộ trong các phái chính trị khác (Bồ Xuân Luật, Trương Trung Phụng...),… kể cả sự có mặt của Vĩnh Thuỵ, tức cựu hoàng Bảo Đại và những người vốn là quan lại cao cấp của chế độ cũ như cựu Thượng thư Bùi Bằng Đoàn... Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử “đánh dấu bước trưởng thành của nhà nước cách mạng Việt Nam, mở ra triển vọng của một thời kỳ mới, thời kỳ đất nước ta có một Quốc hội, một Chính phủ thống nhất, một bản Hiến pháp tiến bộ”[8]. Nói về thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử, Hồ Chí Minh khẳng định: Tổng tuyển cử đã chứng tỏ cho toàn thế giới biết rằng, “người Việt Nam không chỉ có khả năng tự trị, mà còn biết tự tổ chức một cách dân chủ nữa”[9].

2. Quốc hội Việt Nam kiện toàn về tổ chức, bộ máy những năm 1946 - 1954

Từ khi ra đời năm 1946 đến năm 1954, Quốc hội từng bước được củng cố và ngày càng phát triển lớn mạnh về tổ chức, thể hiện qua mỗi kỳ họp của Quốc hội. Sau khi Quốc hội được bầu, hai nhiệm vụ quan trọng nhất mà Quốc hội phải thực hiện là bầu Chính phủ chính thức và quy định Hiến pháp. Chuẩn bị cho việc khai mạc kỳ họp đầu tiên của Quốc hội, Hội đồng Chính phủ họp ngày 07/01/1946 đã quyết định: Quốc hội sẽ khai mạc vào ngày 03/3/1946 và lập một Uỷ ban trù bị khai Quốc hội gồm các vị (Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Tường Long, Vũ Đình Hoè, Cù Huy Cận, Dương Đức Hiền). Trong các phiên họp tiếp theo, Hội đồng Chính phủ đã bàn vấn đề thương lượng giữa các đảng phái để tổ chức lại Chính phủ… Ngày 25/01/1946, ông Vũ Đình Hoè thay mặt Ủy ban trù bị khai mạc Quốc hội, báo cáo trước Hội đồng Chính phủ những đề nghị của uỷ ban về những công việc đã trù bị. Trong phiên họp này, căn cứ vào tình hình chính trị cấp bách, Hội đồng đã bàn và quyết định lập Chính phủ chính thức trước khi có Hiến pháp.

Khoảng 2 tháng sau khi tiến hành cuộc Tổng tuyển cử thành công, Quốc hội tiến hành kỳ họp lần thứ nhất, sáng ngày 02/03/1946, gần 300 đại biểu Quốc hội đã về họp tại Nhà hát lớn thành phố Hà Nội[10]. Trong kỳ họp thứ nhất này, Quốc hội đã bầu được Ban Thường trực Quốc hội gồm 15 ủy viên chính thức và 3 ủy viên dự khuyết, cụ thể: Trưởng ban: Nguyễn Văn Tố; Phó trưởng ban: Phạm Văn Đồng, Cung Đình Quỳ; Ủy viên chính thức: Bùi Bằng Đoàn, Nguyễn Văn Chi, Dương Văn Dư, Hoàng Văn Đức, Xuân Thuỷ, Trịnh Quốc Quang, Đàm Quang Thiện, Nguyễn Tấn Gi Trọng, Nguyễn Tri, Lê Thị Xuyến, Hoàng Minh Giám, Dương Đức Hiền; Ủy viên dự khuyết: Nguyễn Văn Luyện, Phạm Bá Trực, Y Ngông Niếkđam. Về sau, Ban thường trực được bổ sung thêm 4 đại biểu Nam Bộ: Tôn Đức Thắng và Dương Bạch Mai làm uỷ viên chính thức; Nguyễn Ngọc Bích và Huỳnh Tấn Phát làm uỷ viên dự khuyết.

Quang cảnh buổi khai mạc kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá I, ngày 02/03/1946. Ảnh: Tư liệu TTXVN

Ban Thường trực Quốc hội có quyền hạn: 1. Góp ý kiến với Chính phủ; 2. Phê bình Chính phủ và khi Chính phủ đi ngược lại quyền lợi quốc dân, thì có quyền hiệu triệu quốc dân; 3. Triệu tập Quốc hội trong những trường hợp sau này: a, Khi chính phủ yêu cầu; b, Khi quá nửa số đại biểu yêu cầu; c, Khi quá nửa ủy viên thường trực xét thấy cần phải triệu tập; 4. Khi tuyên chiến hay đình chiến, bắt buộc phải được hỏi ý kiến; 5. Khi ký hiệp ước với nước ngoài phải triệu tập Quốc hội để chuẩn y[11]. Để giúp Ban Thường trực Quốc hội thực thi nhiệm vụ, Chính phủ đã điều động một số cán bộ, nhân viên sang phục vụ Ban Thường trực, trước hết là phục vụ Trưởng ban trong mọi hoạt động liên lạc với Chính phủ và làm những công việc do Văn phòng đảm nhiệm như: in, phát tài liệu, giao thông liên lạc, tổ chức công tác tài chính, sắp xếp nơi ăn ở cho các đại biểu Quốc hội, tổ chức hội nghị cho Ban Thường trực Quốc hội[12]… Đây là những cán bộ được tuyển chọn từ các cơ quan Trung ương và đều là những người có phẩm chất cách mạng, tư cách đạo đức tốt, tận tâm, tận lực thực hiện nhiệm vụ được giao, giúp Ban Thường trực giải quyết các công việc theo nhiệm vụ, quyền hạn.

Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thực sự là một kỳ họp lịch sử, diễn ra ngắn nhất và khẩn trương nên Quốc hội không thể bàn bạc những vấn đề lớn về quốc sách. Quốc hội chỉ tập trung vào một điểm quan trọng và quyết định nhất là thành lập cho được Chính phủ liên hiệp kháng chiến và một số cơ quan quan trọng khác của Quốc hội và Nhà nước là: Ban thường trực Quốc hội, cố vấn đoàn, Kháng chiến uỷ viên hội. Việc thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến, một cơ quan quyền lực điều hành cả chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội, kể cả tổng động viên nhân lực và tài lực quốc gia đã đáp ứng được đòi hỏi bức thiết tình hình lúc bấy giờ. Đây là một bước hoàn thiện và củng cố bộ máy nhà nước ở Trung ương, bảo đảm cho Chính phủ đủ uy tín, hiệu lực để tổ chức nhân dân kháng chiến, kiến quốc, thực hiện mọi chức năng, nhiệm vụ đối nội và đối ngoại, trước mắt là đàm phán thực hiện sách lược tạm hoà hoãn với Pháp, tiếp tục củng cố chính quyền cách mạng, bồi bổ thực lực, chuẩn bị lực lượng để chiến đấu bảo vệ tổ quốc khi tình thế bắt buộc quân và dân ta phải kháng chiến trong cả nước.

Khoảng 01 năm sau, Quốc hội họp kỳ thứ hai tại Thủ đô Hà Nội (từ ngày 28/10 đến 09/11/1946) với 290 đại biểu[13] về dự họp. Điểm khác biệt so với kỳ họp thứ nhất, lần thứ hai này đại diện các Lãnh sự quán Anh, Mỹ, Trung Hoa, Thuỵ Sĩ, một số nhà đương chức khác, phóng viên báo giới Mỹ, Pháp, Hoa và Việt Nam đã có mặt trong phiên họp khai mạc. Công chúng được quyền vào dự thính kỳ họp và có quyền chất vấn, khen chê Chính phủ. Tại kỳ họp thứ hai, tổ chức của Quốc hội được kiện toàn thêm một bước, Ban Thường trực Quốc hội được bầu tại kỳ họp thứ hai gồm có 18 vị. Trưởng ban: Bùi Bằng Đoàn; Phó trưởng ban: Tôn Đức Thắng, Tôn Quang Phiệt; Ủy viên chính thức: Phạm Bá Trực, Dương Đức Hiền, Cung Đình Quỳ, Hoàng Văn Hoan, Trần Huy Liệu, Nguyễn Văn Luyện, Trần Văn Cung, Dương Văn Dư, Y Ngông Niêkđam, Hoàng Minh Châu, Nguyễn Đình Thi, Lê Thị Xuyến, Ủy viên dự khuyết: Lê Tư Lành, Trần Tấn Thọ, Nguyễn Thị Thục Viên.

Tiếp đó, ngày 11/11/1946, Ban Thường trực Quốc hội đã họp để bầu ra Ban Thường vụ gồm 5 người: Bùi Bằng Đoàn là Trưởng ban, Tôn Đức Thắng và Tôn Quang Phiệt - Phó trưởng ban, Nguyễn Đình Thi - Thư ký, Dương Đức Hiền - Phó Thư ký và lập các tiểu ban: Pháp chế gồm 08 người do Tôn Quang Phiệt làm Trưởng ban, Tài chính kinh tế gồm 06 người do Nguyễn Văn Luyện làm Trưởng ban, và kiến nghị gồm 04 người do Trần Huy Liệu làm Trưởng ban. Quốc hội lại thảo luận về nhiệm vụ của Ban Thường trực Quốc hội và cuối cùng đã nhất trí biểu quyết giao cho Ban Thường trực những nhiệm vụ mới như: 1. Liên lạc với Chính phủ để góp ý kiến và phê bình Chính phủ; 2. Cùng với Chính phủ quyết định sự ban bố và thi hành Hiến pháp; 3. Liên lạc với các đại biểu Quốc hội và triệu tập Quốc hội khi cần thiết; 4. Cùng với Chính phủ quyết định tuyên chiến, đình chiến hoặc ký hiệp ước với nước ngoài[14]

Đây là một kỳ họp dài ngày đầu tiên của Quốc hội khoá I, một kỳ họp sôi nổi, dân chủ thảo luận, có khi gay go[15], song đã đi đến thống nhất với quyết tâm: Tổ quốc trên hết! Đoàn kết, đại đoàn kết! Không phân biệt đảng phái! Thắng lợi của kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá I là thắng lợi của sự đoàn kết đấu tranh, nhân nhượng và hoà giải nhằm tập trung lực lượng để thực hiện kháng chiến và kiến quốc.

 Khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, các ủy viên trong Ban Thường trực một phần ở lại còn được phân đi các địa phương động viên nhân dân kháng chiến. Bùi Bằng Đoàn được phân công cùng với Chính phủ để tiếp tục nhiệm vụ của Ban Thường trực. Các ủy viên liên lạc với Trưởng ban Thường trực bằng điện và thư. Tôn Đức Thắng và linh mục Phạm Bá Trực được mời về cùng Trưởng ban điều hành công việc của Ban.

Từ năm 1947 đến năm 1953, Quốc hội tiếp tục kiện toàn nhân sự để đáp ứng yêu cầu cuộc kháng chiến. Tháng 5/1947, Tôn Đức Thắng được Chính phủ mời sang giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ[16]. Ban Thường trực Quốc hội đã bỏ phiếu bằng cách gửi thư bầu linh mục Phạm Bá Trực làm Phó Trưởng ban cùng Bùi Bằng Đoàn điều hành công việc của Ban. Thời gian ở và làm việc tại xã Minh Thanh, Ban Thường trực Quốc hội đã thường xuyên tham gia các phiên họp của Hội đồng Chính phủ, đề ra các chủ trương, chính sách để thực hiện nhiệm vụ kháng chiến trên tất cả các mặt trận quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Năm 1948, Bùi Bằng Đoàn ốm phải đi chữa bệnh. Tôn Đức Thắng giữ chức Quyền Trưởng ban Thường trực Quốc hội. Tháng 02/1950, Ban Thường trực họp đã bầu bổ sung, 03 Ủy viên dự khuyết đã được bầu làm ủy viên chính thức của Ban Thường trực Quốc hội là Nguyễn Thị Thục Viên, Lê Tư Lành và Trần Tấn Thọ thay cho Nguyễn Văn Luyện và Hoàng Minh Châu từ trần, Cung Đình Quỳ theo Pháp. Ban Thường trực đã bầu ra một Ban Thường vụ mới gồm có: Bùi Bằng Đoàn, Tôn Đức Thắng, Tôn Quang Phiệt, Phạm Bá Trực, Dương Đức Hiền và Trần Huy Liệu thay mặt Ban Thường trực để giải quyết công việc hằng ngày cũng như liên lạc với Chính phủ.

Quốc hội họp kỳ họp thứ ba tại Việt Bắc (từ ngày 01 đến ngày 04/12/1953). Tổng số đại biểu về dự kỳ họp là 166 người, trong đó Bắc Bộ có 94 đại biểu, Trung Bộ có 62 đại biểu, Nam Bộ 10 đại biểu. Kỳ họp lần thứ ba diễn ra trong hoàn cảnh chiến tranh, các đại biểu Quốc hội phải vượt qua nhiều khó khăn mới về được Việt Bắc để họp. Điểm đặc biệt, Đoàn đại biểu Quốc hội Nam Bộ và Liên Khu V đã không quản ngại hy sinh, gian khổ để ra Việt Bắc họp. Điều đó thể hiện được uy tín và vai trò quan trọng và sức mạnh đoàn kết, thống nhất của Quốc hội. Tại kỳ họp thứ ba này, không đề cập đến sự thay đổi, kiện toàn tổ chức, Quốc hội tập trung giải quyết những vấn đề quan trọng cho sự nghiệp kiến quốc của đất nước.

Như vậy, cùng với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tổ chức, bộ máy Quốc hội Việt Nam ngày càng hoàn thiện và phát triển, đáp ứng yêu cầu lập hiến và lập pháp của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Do hoàn cảnh chiến tranh, chiến trường bị chia cắt, công tác kháng chiến trên mọi mặt trận rất khẩn trương cho nên Quốc hội không có điều kiện để họp định kỳ như trong thời bình nên tổ chức bộ máy Nhà nước Việt Nam giai đoạn này là “Quyền lực tập trung vào Chính phủ[18].

*

*     *

Suốt 80 năm qua, kể từ Quốc hội khóa I được bầu ra năm 1946, Quốc hội Việt Nam đã trải qua 15 nhiệm kỳ hoạt động. Trong bất cứ hoàn cảnh nào của lịch sử, Quốc hội luôn có những đóng góp quan trọng vào sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc, xứng đáng là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và là nơi kết tinh trí tuệ, ý chí, khát vọng của toàn dân tộc.

Bước vào giai đoạn phát triển mới của đất nước, cùng với những thành tựu đã đạt được qua các nhiệm kỳ, Quốc hội Việt Nam tiếp tục đứng trước những yêu cầu và kỳ vọng ngày càng cao của nhân dân và của sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước. Trong bối cảnh đó, việc chuẩn bị cho cuộc bầu cử Quốc hội khóa XVI không chỉ là sự tiếp nối truyền thống 80 năm hình thành và phát triển của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, mà còn mở ra một chặng đường mới trong quá trình đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Quốc hội, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong thời kỳ mới.

 

CHÚ THÍCH:


[1] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.7.

[2] Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Văn phòng Quốc hội, Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946  - 1960, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 31.

[3] Sắc lệnh số 34-SL ngày 20/9/1945, thành lập Uỷ ban dự thảo Hiến pháp gồm có: Hồ Chí Minh, Vĩnh Thụy, Đặng Thai Mai, Vũ Trọng Khánh, Lê Văn Hiến, Nguyễn Lương Bằng, Đặng Xuân Khu. Sắc lệnh số 39-SL ngày 26/9/1945 về thành lập Ủy ban dự thảo thể lệ cuộc Tổng tuyển cử gồm 9 người, trong đó có đại diện của các ngành, các giới. Sắc lệnh số 51-SL ngày 17/10/1945 quy định thể lệ cuộc Tổng tuyển cử phải được tiến hành theo lối phổ thông đầu phiếu bầu cử trực tiếp và bí mật. Sắc lệnh số 71 ngày 02/12/1945 bổ khuyết Điều 11 chương V của Sắc lệnh số 51 nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người ứng cử: Vì hoàn cảnh giao thông khó khăn, người ứng cử có thể gửi ngay đơn cho Ủy ban nhân dân nơi mình cư chú và yêu cầu Ủy ban ấy điện cho Ủy ban nhân dân nơi mình xin ứng cử, đơn và giấy chứng thực đủ điều kiện sẽ do Ủy ban nhân dân nơi mình cư trú chuyển sau cho Ủy ban nhân dân nơi mình ứng cử.

[4] Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Văn phòng Quốc hội, Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946  - 1960, Sđd, tr. 33.

[5] Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr. 129.

[6] Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Văn phòng Quốc hội, Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946  - 1960, Sđd, tr. 52.

[7] Người trẻ tuổi nhất là Nguyễn Đình Thi 22 tuổi.

[8] Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Văn phòng Quốc hội, Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946  - 1960, Sđd, tr.54.

[9] Hồ Chí Minh, Trả lời phỏng vấn: Xung quanh cuộc Tổng tuyển cử, Bản dịch báo La republique, số 1, ngày 23/-12/1945, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, tr.1.

[10] Một số đại biểu Nam Bộ và Nam Trung Bộ đã lên đường song chưa đến kịp, còn phần nữa vì bận công việc kháng chiến nên không ra họp được.

[11] Biên bản Khóa họp thứ Nhất Quốc hội Khóa I, ngày 02/03/1946, Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Quốc hội, hồ sơ số 03, tờ 20.

[12] Theo giấy khai lý lịch của nhân viên phục vụ Ban Thường trực Quốc hội ngày 20/6/1947, số cán bộ, công chức đầu tiên phục vụ Ban Thường trực Quốc hội gồm các ông: Trần Văn Xoang (tức Trần Thanh Tú); Hoàng Việt Sinh (tức Trịnh Hoàng); Phạm Văn Tâm và bà Trịnh Thị Phúc - Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, phông Quốc hội, Hồ sơ số 276.

[13] Một số đại biểu ở cực Nam Trung Bộ và Nam Bộ vì công việc kháng chiến không ra được.

[14] Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Văn phòng Quốc hội, Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946  - 1960, Sđd, tr.110-111.

[15] Do tình thế đặc biệt của nước ta lúc này, quá trình Tổng tuyển cử cũng như việc triệu tập Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa I đã diễn ra khá gay go và phức tạp. Sau khi Quốc hội chấp nhận mở rộng thêm 70 ghế đại biểu Quốc hội không qua sự tuyển chọn của nhân dân, thành phần của Quốc hội gồm: Đảng Cộng sản, Đảng Dân chủ, Việt Quốc và Việt Cách, đồng thời thành phần đại biểu không đảng phái cũng nhiều. Vì thế, các đại biểu của Quốc hội không phải đại diện cho một đảng mà là đại diện cho nhiều đảng có chính kiến khác nhau, trong đó, có một số đảng đối lập. Việt Cách do Nguyễn Hải Thần nắm giữ và Việt Quốc do Vũ Hồng Khanh cầm đầu là những đảng phái đối lập quyết liệt. Họ tìm mọi cách để chống phá cách mạng, chống Đảng Cộng sản, chống lại độc lập, tự do của nhân dân... Hoạt động trong bối cảnh đó, Đảng và Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà do Chủ tịch Hồ chí Minh đứng đầu đã dựa vào sức mạnh đoàn kết của toàn dân và toàn Đảng, nắm vững ngọn cờ dân tộc, nêu cao khẩu hiệu “Dân tộc trên hết”, “Tổ quốc trên hết”, giữ vững nguyên tắc cách mạng, nhân nhượng và thoả hiệp đúng, linh hoạt và khéo léo, buộc đại biểu của các đảng phái đối lập phải thoả hiệp, hoà giải, “đồng tình” và “hợp tác”.

[16] Tại phiên họp ngày 30/4/1947, Hội đồng Chính phủ đã thông qua đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh cử cụ Tôn Đức Thắng, một cán bộ đảng lão thành có uy tín lớn giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ từ tháng 5/1947 đến tháng 11/1947.

[17] Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Văn phòng Quốc hội, Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946  - 1960, Sđd, tr.123.

Avatar - mẫu tranh cổ động được sử dụng chính thức trong các hoạt động tuyên truyền bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 kể từ ngày 12/11/2025 nguồn: https://bvhttdl.gov.vn/phe-duyet-mau-tranh-co-dong-de-su-dung-chinh-thuc-trong-cac-hoat-dong-tuyen-truyen-bau-cu-dai-bieu-quoc-hoi-va-hdnd-cac-cap-20251112112755124.htm

 

  • Bộ sách gồm 10 tập, Viện Sử học dịch, Nxb KHXH xuất bản.
    23/04/2013
  • Đại Nam nhất thống chí đời Tự Đức là bộ sách địa lý học Việt Nam đầy đủ nhất dưới thời phong kiến. Đại Nam nhất thống chí theo bộ Đại Thanh nhất thống chí của Trung Quốc mà chia ra các mục như: phương vi, phân dã, kiến trí, duyên cách, phủ huyện, hình thế, khí hậu, phong tục, thành trì, học hiệu, hộ khẩu, điền phú, sơn xuyên, quan tấn, dịch trạm, thị lập, tứ miếu, tự quán, phân việt, thổ sản, v.v... Ngoài ra, Đại Nam nhất thống chí còn có quyển chép riêng về Cao Miên (Campuchia), Xiêm La, Miến Điện, Nam Chưởng, Vạn Tượng.
    22/04/2013
  • Trong tập sách này, các tác giả không chỉ trình bày các sự kiện về quân sự, chính trị mà còn nêu lên nhiều sự kiện khác thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại....
    27/09/2012
  • "Việt Nam những sự kiện lịch sử (Từ khởi thủy đến 1858)" là cuốn sách ghi lại các sự kiện lịch sử nước nhà từ khởi thủy đến khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược vào giữa thế kỷ XIX.
    27/09/2012
  • Đại Nam liệt truyện là một bộ sách có quy mô khá đồ sộ trong kho tàng thư tịch cổ viết bằng chữ Hán của Việt Nam, do cơ quan làm sử chính thức của nhà Nguyễn là Quốc sử quán biên soạn vào giữa thế kỷ XIX.
    24/09/2012
  • Lịch triều hiến chương loại chí là bộ bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam. Có nghĩa là Phép tắc các triều đại chép theo thể phân loại do Phan Huy Chú soạn trong 10 năm (1809-1819).
    23/09/2012
  • Là bộ sử có giá trị to lớn và quan trọng bậc nhất trong nền sử học Việt Nam thời kỳ cổ trung đại. Bộ chính sử do Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê biên soạn.
    22/09/2012
  • Cuốn sách Cổ luật Việt Nam gốm 2 bộ Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ. Quốc triều hình luật (còn gọi là bộ luật Hồng Đức) và Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là bộ luật Gia Long) là hai bộ cổ luật duy nhất còn lại cho đến nay của các triều đại phong kiến Việt Nam; là những di sản quý giá có giá trị tham khảo về nhiều mặt cho chúng ta ngày nay.
    19/09/2012
  • Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ là một bộ sách được biên soạn dưới triều Nguyễn theo thể loại Hội điển. Thể loại này được đặt ra nhằm ghi chép lại các điển pháp, quy chuẩn và các dữ kiện liên quan đến tổ chức và hoạt động của một triều đại, một Nhà nước.
    19/09/2012
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1