image banner

Quan điểm của Đảng đối với người Việt Nam ở nước ngoài

TS. Phạm Thị Hồng Hà

Viện Sử học

 

Trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc luôn được Đảng và Nhà nước xác định là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với mọi thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài (NVNONN) không chỉ là một bộ phận cấu thành của dân tộc Việt Nam, mà còn là nguồn lực quan trọng góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao vị thế quốc gia và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Cộng đồng NVNONN ngày càng gắn bó và hướng về quê hương, thực sự trở thành một bộ phận không tách rời và một nguồn lực quan trọng của cộng đồng dân tộc Việt Nam, đóng góp tích cực cho quá trình xây dựng, phát triển, hội nhập và bảo vệ đất nước. Ngày nay, cộng đồng tiếp tục lớn mạnh cả về lượng và chất lượng. Hiện ước tính có khoảng 6 triệu người Việt Nam đang sinh sống, làm việc tại 130 quốc gia và vùng lãnh thổ. Vai trò, vị thế và uy tín của cộng đồng NVNONN trong xã hội sở tại ngày càng được nâng cao. Đại bộ phận bà con đã có địa vị pháp lý, ổn định cuộc sống, hội nhập sâu rộng vào xã hội sở tại trong tất cả các lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, đến văn hóa, xã hội. Bà con kiều bào đã trực tiếp truyền tải hình ảnh đất nước, con người, văn hoá, ẩm thực, hàng hoá... Việt Nam đến bạn bè quốc tế, là cầu nối hữu nghị quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân Việt Nam với quốc gia và nhân dân sở tại.

Nhận thức rõ vai trò và tiềm năng của cộng đồng NVNONN, Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng bước hoàn thiện hệ thống quan điểm, chủ trương và chính sách nhằm tăng cường sự gắn bó giữa kiều bào với Tổ quốc, đồng thời phát huy nguồn lực của cộng đồng phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Trong hệ thống tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, vấn đề đại đoàn kết dân tộc luôn được xác định là một trong những nguyên tắc chiến lược có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Đại đoàn kết dân tộc không chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp là sự liên kết giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, mà còn bao hàm cả cộng đồng NVNONN - một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc đã đặt nền tảng lý luận cho quan điểm này khi khẳng định rằng mọi người Việt Nam, dù sinh sống ở trong nước hay ở nước ngoài, đều có chung cội nguồn dân tộc và lợi ích quốc gia. Chính vì vậy, việc phát huy vai trò của cộng đồng NVNONN không chỉ là một nhiệm vụ mang tính đối ngoại, mà còn là một bộ phận hữu cơ của chiến lược xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trong giai đoạn sau năm 1954, khi đất nước bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thực hiện chủ trương đoàn kết mọi lực lượng yêu nước, trong đó có cộng đồng Việt kiều, nhằm phục vụ nhiệm vụ cách mạng trong bối cảnh mới. Ngày 23/11/1959, Thủ tướng Chính phủ đã ký Nghị định số 416/TTg thành lập Ban Việt kiều Trung ương, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong công tác đối với kiều bào. Đây là lần đầu tiên một cơ quan chuyên trách của Chính phủ được thành lập để vận động, hỗ trợ và bảo vệ quyền lợi của của người Việt Nam ở nước ngoài. Việc xây dựng “Đề án đón Việt kiều hồi hương” năm 1959 và thành lập Ban Việt kiều Trung ương không chỉ là những quyết sách mang tính hành chính, mà còn phản ánh sự chuyển hóa của tư duy chính trị về vai trò của cộng đồng NVNONN trong chiến lược cách mạng lâu dài[1].

Năm 1960, theo thoả thuận giữa chính phủ Việt Nam và chính phủ Thái Lan, một số Việt kiều ở Thái Lan đã được hồi hương. Từ năm 1962 đến năm 1964, theo thoả thuận giữa chính phủ Việt Nam và chính phủ Pháp và do đấu tranh của Việt kiều ở Tân Đảo khoảng 4.000 đồng bào ở Tân Đảo đã được hồi hương về Hải Phòng. Thống kê chính thức ở Tân Đảo cho thấy đến năm 1963, Việt kiều ở Tân Đảo chỉ còn lại 2.811 người. Riêng ở Tây Âu, Việt kiều tập trung chủ yếu ở Pháp, số Việt kiều ở Pháp trong khoảng thời gian này lên đến khoảng 30.000 người[2].

Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Việt kiều ở các quốc gia và khu vực như Pháp, Tân Đảo – Tân Thế giới, Nam Mỹ, Thái Lan, châu Âu, Bắc Mỹ đã có nhiều hoạt động và cống hiến cho phong trào đấu tranh chống Mỹ và thống nhất đất nước. Kiều bào ta ở Thái Lan, Campuchia, Lào, Pháp đã có đóng góp nhiều sức người, sức của kể cả xương máu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Tại Mỹ và nhiều nước phương Tây, kiều bào đã tích cực tham gia phong trào phản chiến, vận động nhân dân nước sở tại, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta. Nhiều phong trào tổ chức Việt kiều đã ra đời với những hoạt động thiết thực hướng về đất nước[3].

Từ năm 1975 sau ngày đất nước thống nhất, cho đến năm 1986, ở các nước phương Tây, từ năm 1975 trở về sau, số người Việt Nam nhập cư vào các nước: Mỹ, Canada, Tây Đức, Úc, Bỉ, Nhật… ngày càng đông do vượt biên hoặc được nhà nước Việt Nam cho đoàn tụ gia đình, đưa tổng số các cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài lên đến khoảng 1,5 triệu người. Cơ quan Cao uỷ tỵ nạn của Liên Hợp quốc đưa ra con số: từ năm 1975 đến tháng 2/1985 đã có 555.073 thuyền nhân Việt Nam đến các nước tiếp nhận (ở phương Tây). Từ năm 1980 đến năm 1984, tổng số người Việt Nam được xuất cảnh hợp pháp là 73.784 người, cộng với số người việt biên còn tạm trú trong các trại ở Đông Nam Á là 42.000 người, đưa tổng số người Việt Nam di cư ra nước ngoài từ năm 1975 đến năm 1985 ít nhất là 800.000 người[4].

Nhìn chung các cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trước và sau năm 1975 đã có những thay đổi cơ bản, cả về lượng lẫn về chất. Từ một hai trăm ngàn trong một số ít nước đã tăng lên khoảng 1,5 triệu người định cư trên khắp 40 nước 5 châu, kể cả một số nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu. Từ những cộng đồng có tổ chức sinh sống ở nước ngoài chờ ngày hồi hương như Pháp, Tân Đảo, Mỹ, Tây Đức… NVNONN đã tham gia các phong trào Việt kiều yêu nước ủng hộ hai cuộc kháng chiến của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đến 10 năm sau khi đất nước thống nhất, đại đa số vẫn còn gắn bó với quê hương qua những liên hệ gia đình. Tuy phải rời bỏ đất nước do nhiều hoàn cảnh khác nhau, nhưng đại bộ phận Việt kiều một lòng mong muốn đất nước, quê hương nhanh chóng ra khỏi tình cảnh khó khăn về kinh tế, về đời sống, trở nên dân giàu, nước mạnh.

Như vậy, ngay từ giai đoạn đầu của cách mạng và suốt 30 năm chiến tranh cách mạng, cũng như thời kỳ quá độ, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức được rằng cộng đồng NVNONN không chỉ là đối tượng cần vận động, mà còn là một nguồn lực có thể đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

Bước vào thời kỳ đổi mới (từ sau năm 1986), cùng với quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng, nhận thức của Đảng về vai trò của cộng đồng NVNONN tiếp tục được bổ sung và phát triển phù hợp với yêu cầu của tình hình mới. Nếu như trong giai đoạn trước đổi mới, công tác đối với NVNONN chủ yếu mang tính vận động chính trị và hỗ trợ hội nhập, thì từ sau Đại hội VI (1986), Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng bước chuyển sang cách tiếp cận dựa trên nguyên tắc phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trong phát triển đất nước. Văn kiện Đại hội VI lần đầu tiên nhấn mạnh việc tạo điều kiện thuận lợi để kiều bào xây dựng khối đoàn kết cộng đồng và đóng góp ngày càng nhiều hơn cho công cuộc xây dựng Tổ quốc. Tiếp đó, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 29/11/1993 của Bộ Chính trị đã khẳng định: “Người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam”[5]. Đây là cơ sở chính trị quan trọng cho việc hoạch định các chính sách toàn diện nhằm tăng cường mối liên hệ giữa cộng đồng NVNONN với quê hương đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Năm 2004 là năm ghi đậm những chuyển biến cơ bản cả về tư duy và hành động, tạo động lực mới trong công tác đối với NVNONN. Trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 29/11/1993 của Bộ Chính trị cũng như Chỉ thị 55-CT/TW của Ban Bí thư, Ủy ban người Việt Nam ở nước ngoài đã chủ động đề xuất, tham mưu và xây dựng Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị về công tác đối với NVNONN. Nghị quyết số 36-NQ/TW xác định rõ: “Người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam”[6].

Việc xác định NVNONN là “nguồn lực” thể hiện bước phát triển quan trọng trong tư duy của Đảng, chuyển từ cách tiếp cận coi kiều bào là đối tượng cần vận động sang cách tiếp cận phát huy nguồn lực kiều bào như một yếu tố nội sinh của phát triển quốc gia. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, trọng tâm chính sách vẫn đặt vào việc tạo điều kiện để kiều bào ổn định cuộc sống ở nước sở tại và duy trì mối liên hệ với quê hương.

Sau hơn 10 năm triển khai, trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông hiện đại, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 19/5/2015 nhằm tiếp tục đẩy mạnh công tác đối với NVNONN trong tình hình mới. Chỉ thị nhấn mạnh: “Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị và của toàn dân”[7]; đồng thời nêu rõ: “Vai trò của cộng đồng NVNONN ngày càng nâng cao, thực sự là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là cầu nối quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam với các nước trên thế giới”[8]. Điều này cho thấy công tác NVNONN đã được nâng lên thành một nhiệm vụ mang tính chiến lược của toàn bộ hệ thống chính trị trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng. So với Nghị quyết 36-NQ/TW, Chỉ thị 45-CT/TW đã chuyển trọng tâm sang nâng cao hiệu quả công tác vận động, phát huy vai trò của NVNONN trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, Bộ Chính trị tiếp tục ban hành Kết luận số 12-KL/TW ngày 12/8/2021, trong đó nhấn mạnh: “Tăng cường công tác đại đoàn kết dân tộc, hỗ trợ người Việt Nam ở nước ngoài ổn định cuộc sống, phát huy nguồn lực trí thức, doanh nhân người Việt Nam ở nước ngoài đóng góp cho phát triển đất nước”[9]. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong Kết luận số 12-KL/TW, là “tiếp tục nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm trong việc thực hiện có hiệu quả chủ trương đại đoàn kết toàn dân tộc”, từ đó “phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, khuyến khích và tạo điều kiện để đồng bào người Việt Nam ở nước ngoài đóng góp tích cực cho sự nghiệp  xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, thể hiện quyết tâm của Đảng và Nhà nước, nhằm tạo những bước tiến lớn trong công tác về người Việt Nam ở nước ngoài, đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp phát triển đất nước. Nhiều chủ trương, đường lối về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài đã được thể chế hoá thông qua các chính sách pháp luật trong nhiều lĩnh vực như quốc tịch, xuất cảnh, nhập cảnh, đất đai, nhà ở, đầu tư, kinh doanh, lao động..., nhằm hỗ trợ, chăm lo cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, đồng thời phát huy tinh thần yêu nước và nguồn lực của đồng bào ta ở nước ngoài cho sự nghiệp xây dựng quê hương, đất nước.

Như vậy, sự phát triển trong tư duy của Đảng đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là thể hiện sự nhất quán về khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam. Trong đó NVNONN là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Đây là sự kế thừa tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phản ánh tầm nhìn chiến lược của Đảng trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng. Việc tiếp tục hoàn thiện chủ trương, chính sách đối với NVNONN không chỉ góp phần phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, mà còn có ý nghĩa thiết thực trong việc tăng cường đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay, phát huy vai trò của cộng đồng NVNONN gắn với thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 35-NQ/TW sẽ góp phần quan trọng vào việc bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh và đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững.



[1] Vũ Hồng Nam, Ủy ban nhà nước về người việt nam ở nước ngoài: 55 năm- trên đà phát triển và hướng tới tương lai. Nguồn: https://scov.gov.vn/cong-tac-ve-nvnonn/ky-niem-55-nam-cong-tac-ve-nvnonn/uy-ban-nha-nuoc-ve-nguoi-viet-nam-o-nuoc-ngoai-55-nam-tren-da-phat-trien-va-huong-toi-tuong-lai.html

[2] Báo cáo tình hình và công tác Việt kiều trong thời gian mấy năm gần đây, Tài liệu Lưu tại Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, tr. 4.

[3] Cao Xuân Thấn (Chủ nhiệm), Đề tài: Thực trạng và một số giải pháp nhằm thu hút đầu tư của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, Đề tài của Ủy ban Người Việt Nam ở nước ngoài, Hà Nội, 2002, tr. 10.

[4] Báo cáo tình hình và công tác Việt kiều trong thời gian mấy năm gần đây, Tài liệu Lưu tại Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, tr. 5-6.

[5] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 08-NQ/TW về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, 29/11/1993.

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004, tr. 8.

[7] Bộ Chính trị, Chỉ thị số 45-CT/TW về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới, 19/5/2015.

[8] https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/chi-thi-so-45-cttw-ngay-1952015-cua-bo-chinh-tri-ve-viec-tiep-tuc-day-manh-thuc-hien-nghi-quyet-so-36-nqtw-cua-bo-chinh-168

[9] Bộ Chính trị, Kết luận số 12-KL/TW về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới, 12/8/2021.

Ảnh Avatar: Thủ tướng Phạm Minh Chính gặp gỡ các cán bộ, nhân viên Đại sứ quán Việt Nam và đông đảo bà con kiều bào đang sinh sống, học tập và làm việc tại Liên bang Nga. Ảnh: VGP/Nhật Bắc. 

  • Bộ sách gồm 10 tập, Viện Sử học dịch, Nxb KHXH xuất bản.
    23/04/2013
  • Đại Nam nhất thống chí đời Tự Đức là bộ sách địa lý học Việt Nam đầy đủ nhất dưới thời phong kiến. Đại Nam nhất thống chí theo bộ Đại Thanh nhất thống chí của Trung Quốc mà chia ra các mục như: phương vi, phân dã, kiến trí, duyên cách, phủ huyện, hình thế, khí hậu, phong tục, thành trì, học hiệu, hộ khẩu, điền phú, sơn xuyên, quan tấn, dịch trạm, thị lập, tứ miếu, tự quán, phân việt, thổ sản, v.v... Ngoài ra, Đại Nam nhất thống chí còn có quyển chép riêng về Cao Miên (Campuchia), Xiêm La, Miến Điện, Nam Chưởng, Vạn Tượng.
    22/04/2013
  • Trong tập sách này, các tác giả không chỉ trình bày các sự kiện về quân sự, chính trị mà còn nêu lên nhiều sự kiện khác thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại....
    27/09/2012
  • "Việt Nam những sự kiện lịch sử (Từ khởi thủy đến 1858)" là cuốn sách ghi lại các sự kiện lịch sử nước nhà từ khởi thủy đến khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược vào giữa thế kỷ XIX.
    27/09/2012
  • Đại Nam liệt truyện là một bộ sách có quy mô khá đồ sộ trong kho tàng thư tịch cổ viết bằng chữ Hán của Việt Nam, do cơ quan làm sử chính thức của nhà Nguyễn là Quốc sử quán biên soạn vào giữa thế kỷ XIX.
    24/09/2012
  • Lịch triều hiến chương loại chí là bộ bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam. Có nghĩa là Phép tắc các triều đại chép theo thể phân loại do Phan Huy Chú soạn trong 10 năm (1809-1819).
    23/09/2012
  • Là bộ sử có giá trị to lớn và quan trọng bậc nhất trong nền sử học Việt Nam thời kỳ cổ trung đại. Bộ chính sử do Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê biên soạn.
    22/09/2012
  • Cuốn sách Cổ luật Việt Nam gốm 2 bộ Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ. Quốc triều hình luật (còn gọi là bộ luật Hồng Đức) và Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là bộ luật Gia Long) là hai bộ cổ luật duy nhất còn lại cho đến nay của các triều đại phong kiến Việt Nam; là những di sản quý giá có giá trị tham khảo về nhiều mặt cho chúng ta ngày nay.
    19/09/2012
  • Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ là một bộ sách được biên soạn dưới triều Nguyễn theo thể loại Hội điển. Thể loại này được đặt ra nhằm ghi chép lại các điển pháp, quy chuẩn và các dữ kiện liên quan đến tổ chức và hoạt động của một triều đại, một Nhà nước.
    19/09/2012
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1