Nhân dịp kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026), việc nhìn lại chuyến thăm đảo Cô Tô ngày 9/5/1961, gần ngày sinh nhật Người càng cho thấy ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đại sâu sắc của sự kiện này. Đây không đơn thuần là một hoạt động thăm hỏi, động viên nhân dân vùng biển đảo, mà còn là một dấu mốc chính trị đặc biệt, thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với hệ thống đảo tiền tiêu trên vùng biển Đông Bắc của Tổ quốc. Hơn sáu thập niên đã trôi qua, song những lời căn dặn của Người dành cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân Cô Tô vẫn giữ nguyên giá trị định hướng, tiếp tục soi sáng nhiệm vụ xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, củng cố quốc phòng - an ninh và kiên quyết bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam trong bối cảnh mới.
Trong lịch sử hiện đại Việt Nam, hiếm có vị lãnh
tụ nào dành sự quan tâm sâu sắc và toàn diện đối với biển, đảo như Chủ tịch Hồ
Chí Minh. Từ rất sớm, Người đã nhìn thấy vị trí chiến lược đặc biệt của biển đảo
không chỉ đối với quốc phòng, an ninh mà còn đối với sinh kế, tương lai phát
triển và không gian sinh tồn lâu dài của dân tộc. Trong tư duy của Người, biển
không phải “vùng ven” của đất nước mà là một phần máu thịt của Tổ quốc, nơi kết
nối giữa chủ quyền, kinh tế, văn hóa và vận mệnh quốc gia. Với Chủ tịch Hồ Chí
Minh, giữ biển đảo không chỉ là nhiệm vụ quân sự mà trước hết là giữ lấy không
gian sinh tồn và tương lai phát triển lâu dài của dân tộc.
1. Chuyến thăm lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đảo
Cô Tô năm 1961
Năm 1961,
Cô Tô - Thanh Lân bước vào thực hiện nhiệm vụ kế hoạch 5 năm đã đề ra. Trong khí thế lao động xã hội chủ nghĩa,
nhân dân Cô Tô - Thanh Lân đã vinh dự được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh ra thăm
(ngày 9/5/1961).
Chủ tịch Hồ Chí Minh ra thăm đảo Cô Tô giữa
lúc đồng bào đang tích cực chuẩn bị cho vụ cá sắp tới và đang hăng hái làm thủy
lợi chuẩn bị cho vụ mùa. Người tới thăm hợp tác xã nông nghiệp của người
Hoa trên đảo. Nói chuyện trước hơn 2.000
đồng bào, cán bộ, bộ đội trên khu đồi sim đang mùa hoa nở, Người dặn dò mọi người
trên đảo những công việc cụ thể cần làm tốt để các đảo thiết thực góp phần vào
sự nghiệp chung xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện hòa
bình, thống nhất nước nhà.
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm đảo Cô Tô ngày 9/5/1961 (Nguồn: Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Cô Tô)
Nhận được tin Bác đến thăm đảo Cô Tô, Ủy
ban hành chính tỉnh Hải Ninh, Ủy ban hành chính huyện Cẩm Phả (nay là huyện Vân
Đồn), trực tiếp là Ủy ban hành chính xã Cô Tô cùng một số đơn vị quân đội đóng
trên đảo và các dân tộc sinh sống ở quần đảo Cô Tô đã tổ chức mít tinh đón Bác.
Đảng bộ và nhân dân xã đảo Cô Tô dưới sự chỉ đạo của ông Voòng Xi - Bí thư đảng
ủy và ông Tắc Quang - Chủ tịch Ủy ban đã triển khai phát quang khu bãi cát, làm
chòi canh gác, giao cho lực lượng dân quân xã thường trực. Do lịch trình của
Bác hết sức bí mật, không biết chính xác Bác sẽ ra thăm đảo lúc nào nên Trung đội
dân quân đã triển khai nhiệm vụ bảo vệ mục tiêu từ hai ngày trước, túc trực
canh gác không cho người và trâu bò vào trong khu vực đã được đánh dấu ranh giới
bằng vạch vôi và những lá cờ đuôi nheo. Các gia đình, các cơ quan đơn vị đóng
trên đảo đều nô nức chuẩn bị đón Bác. Các cháu học sinh trên địa bàn được nhà
trường tổ chức thành đội ngũ đón Bác. Tại xã Thanh Lân, ông Lường Mũi Nàm - Chủ
tịch Ủy ban đã thay mặt Ủy ban hành chính xã thông báo tin Bác ra thăm tới từng
gia đình. Hợp tác xã ngư nghiệp Bắc Vàn Thầu và Hợp tác xã ngư nghiệp Tiến Vọt
huy động tất cả các tàu thuyền đánh cá nghỉ, tập trung sang Cô Tô đón Bác. Học
sinh hai trường Bắc Vàn Thầu và trường Chiến Thắng, mỗi em được trang bị một lá
cờ đuôi nheo để vẫy chào Bác.
Vào khoảng 8 giờ sáng ngày 9/5/1961, chiếc
trực thăng chở Bác Hồ từ từ đáp xuống đúng vị trí đã được đánh dấu và canh
phòng, Bác bước xuống cầu thang máy bay trong tiếng hoan hô vang dội của 2.000
người đủ già, trẻ, gái, trai, cán bộ, bộ đội, công an… Bác đi bắt tay các đồng
chí lãnh đạo tỉnh, huyện, xã, các đồng chí lãnh đạo các đơn vị lực lượng vũ
trang trên đảo. Bác ân cần thăm hỏi các cụ già, các em nhỏ. Nhiều người vô cùng
xúc động và vinh dự được Bác bắt tay, thăm hỏi. Giây phút ấy có lẽ là phút giây
vinh dự, hạnh phúc, tự hào nhất trong cuộc đời họ. Vì thế nhiều người mãi sau
này vẫn còn nhớ như in buổi sáng hôm ấy, như ông Mần Phoóng (tức ông Nguyễn Văn
Phương) đảo Thanh Lân, ông Voòng Tống được Bác trực tiếp bắt tay. Bác thân mật
hỏi chuyện chị Cảnh Khoằn, một người phụ nữ gốc Hoa; Bác ôm hôn các chiến sỹ
thi đua, Bác trồng cây lưu niệm trên đảo Cô Tô; Bác chia kẹo cho các cháu học
sinh, thiếu niên, nhi đồng….
Sau đó, Bác nói chuyện với đồng bào, cán bộ
và chiến sĩ trên đảo. Trong giờ phút thiêng liêng đầy tình cảm thân mật, cán bộ,
chiến sĩ, đồng chí, đồng bào trên đảo được tận mắt nhìn thấy Bác trong bộ quần
áo Kaki, chân đi đôi dép cao su giản dị, Bác nói:
“Trong
thời kỳ kháng chiến đồng bào ta đã hăng hái giúp đỡ cán bộ và bộ đội. Từ khi
hòa bình lập lại, đồng bào đã đoàn kết chặt chẽ, khắc phục khó khăn, thi đua
sản xuất thực hiện tiết kiệm. Nhờ vậy mà đời sống đã tiến bộ hơn trước, đồng
bào đã tổ chức các hợp tác xã để làm ăn cho vui vẻ và tiến bộ. Như thế là
tốt. Để tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc, các hợp tác xã cần phải ra sức
thực hiện các việc sau đây:
- Thủy lợi tốt, phân
bón nhiều, chọn giống tốt, cày sâu bừa kỹ, cấy dày đúng mức, v.v… Nói tóm lại
ta quen gọi là “kỹ thuật liên hoàn”, anh em Trung Quốc gọi là “biện pháp 8
chữ”.
- Phải ra sức chǎn
nuôi, vì chǎn nuôi vừa là một nguồn lợi lớn, lại là một kho phân nhiều.
- Cần đẩy mạnh nghề
đánh cá, nghề làm muối, nuôi dưỡng và bảo vệ các thứ hải sâm, trân châu,
v.v.. Để làm tốt những nghề đó, thì cần phải cải tiến kỹ thuật, cải tiến lưới,
thuyền.
- Cần trồng nhiều cây
ǎn quả, cây lấy gỗ, cây ngǎn gió. Trồng cây sẽ đưa lại cho nhân dân một nguồn lợi
to, lại làm cho xứ sở ta thêm tươi đẹp.
- Phải ra sức củng cố
hợp tác xã, làm đúng khẩu hiệu: “cần kiệm xây dựng hợp tác xã”.
- Về vǎn hoá, cần cố gắng
thanh toán nạn mù chữ và đẩy mạnh phong trào bổ túc vǎn hoá trong cán bộ và
nhân dân. Việc vệ sinh phòng bệnh cũng cần tǎng cường. Có sức khoẻ đầy đủ thì
sản xuất mới mạnh mẽ.
- Về trật tự, trị an,
các đồng chí bộ đội, công an, dân quân và cán bộ lâu nay đã làm tròn nhiệm vụ.
Như thế là tốt. Các đồng chí cần tiếp tục cố gắng học tập chính trị, nghiệp vụ
và vǎn hoá, cần đoàn kết chặt chẽ với nhân dân và giúp đỡ nhân dân. Đồng bào
thì cần giúp đỡ các đồng chí ấy làm nhiệm vụ cho thật tốt.
Để làm tốt các việc
trên đây, mỗi người phải nhận thật rõ và làm thật đúng nghĩa vụ người làm
chủ nước nhà. Cán bộ phải chí công vô tư, phải một lòng một dạ phục vụ nhân
dân. Đảng viên và đoàn viên thanh niên lao động phải làm đầu tàu, làm
gương mẫu trong mọi công việc. Hiện nay, trong số hơn 4.000 nhân dân, chỉ có
180 đảng viên và đoàn viên, như thế là quá ít. Cần phải phát triển thêm và
phát triển tốt Đảng và Đoàn.
Dưới
sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, cùng sự đoàn kết cố gắng của nhân
dân, đời sống của đồng bào ta đã cải thiện khá. Thí dụ: Sản lượng cá từ 200 tấn
đã tăng lên đến 700 tấn. Trong mấy tháng đầu năm nay, đồng bào đã vỡ hoang
và trồng được hơn 45 vạn gốc sắn. Trong hơn 600 gia đình thì 200 gia đình đã
làm được nhà mới v.v… Như thế là khá. Nhưng đồng bào phải cố gắng hơn nữa để
làm cho đời sống ấm no, vui tươi hơn nữa.
Hiện nay, Hải Ninh có
tiến bộ về các mặt, cán bộ tỉnh cần phải hướng dẫn và giúp đỡ cho đồng bào
các đảo cũng đều tiến bộ, để đồng bào các đảo góp phần vào xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện hòa bình, thống nhất nước
nhà.
Thủ đô Hà Nội tuy
cách xa các đảo, nhưng Đảng và Chính phủ luôn luôn quan tâm đến đồng bào các
đảo và mong đồng bào đoàn kết cố gắng và tiến bộ”.
Điều đáng chú ý là trong bài nói chuyện ngắn
gọn ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ căn dặn riêng từng lĩnh vực sản xuất hay
đời sống xã hội, mà còn đặt ra một định hướng phát triển tổng thể cho vùng đảo
tiền tiêu. Từ thủy lợi, chăn nuôi, đánh cá, làm muối đến giáo dục, y tế, xây dựng
Đảng, củng cố quốc phòng - an ninh đều được Người nhìn nhận trong mối liên hệ với
nhau. Đó chính là tư duy phát triển toàn diện, kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với
quốc phòng, giữa xây dựng đời sống nhân dân với bảo vệ chủ quyền quốc gia - một
tư duy vượt trước thời đại trong điều kiện đất nước lúc bấy giờ còn vô cùng khó
khăn.
Bài nói chuyện của Bác với đồng bào, cán bộ,
chiến sĩ đảo Cô Tô rất ngắn gọn, cụ thể nhưng hàm chứa trong đó tư tưởng lớn về
sự kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, kinh tế
với văn hoá, “ích chung” cho quốc kế dân sinh mà lại “lợi riêng” cho sự phát
triển của mỗi địa phương, đơn vị. Những lời chỉ dạy của Người là ngọn đuốc soi
đường và là nguồn cổ vũ, động viên tinh thần to lớn đối với Đảng bộ và đồng bào
các dân tộc tỉnh Hải Ninh nói chung, nhân dân Cô Tô nói riêng trong công cuộc đấu
tranh bảo vệ nền độc lập, chủ quyền không chỉ trong những chặng đường lịch sử
đã qua mà còn định hướng thúc đẩy việc thực hiện các nhiệm vụ công tác, đẩy mạnh
toàn diện công cuộc đổi mới, phát triển biển, đảo Tổ quốc cho hôm nay và mai
sau. Sau khi dự lễ mít tinh và nói chuyện với đồng bào trên đảo, Bác đến thăm một
số hợp tác xã sản xuất trên đảo. Đi qua khu vực ruộng trồng khoai (nay là khu vực
Dốc Khoai), Bác muốn xem năng suất, chất lượng giống khoai bà con trồng trên đảo,
đồng chí Hoàng Chính - Bí thư tỉnh ủy Hải Ninh đã bới một bụi khoai dưới ruộng
cho Bác xem. Bác xem rồi nói với mọi người: “Khoai rất nhiều củ nhưng vì thiếu
phân và thiếu nước nên củ nhỏ”. Tiếp đó Bác đến thăm cánh đồng muối thuộc thôn
Nam Hải (nay là khu 1, thị trấn Cô Tô). Sau khi thăm đồng muối, Bác về nghỉ
trưa tại trụ sở Ủy ban hành chính xã Cô Tô (hiện nay là Nhà trưng bày lưu niệm
Chủ tịch Hồ Chí Minh).
Bài nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh
còn là lời căn dặn, nhắc nhở đối với Đảng bộ, chính quyền tỉnh Hải Ninh trong
việc tăng cường công tác xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận và các tổ chức
đoàn thể, lực lượng vũ trang trên địa bàn Cô Tô - Thanh Lân, tích cực phát triển
kinh tế, văn hóa, xã hội, để đồng bào các đảo yên tâm sản xuất, góp phần vào
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiếp tục sự nghiệp giải phóng miền
Nam, thống nhất đất nước.
Đây là sự kiện lịch sử trọng đại của cấp ủy,
chính quyền, quân và dân Cô Tô - Thanh Lân nói riêng, tỉnh Hải Ninh nói chung.
2. Tượng Bác Hồ trên đảo Cô Tô và thông điệp
về chủ quyền biển đảo
Từ sự quan tâm và tình cảm đặc biệt của Chủ
tịch Hồ Chí Minh, tháng 11/1962, thể theo nguyện vọng của Đảng bộ, chính quyền
và nhân dân trong tỉnh, đặc biệt hai xã Cô Tô - Thanh Lân, Ủy ban hành chính tỉnh
Hải Ninh đã xin phép Chủ tịch Hồ Chí Minh được dựng tượng Người trên đảo Cô Tô.
Đề đạt này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng ý (tượng được xây dựng và khánh thành vào năm 1968). Đây cũng là nơi duy nhất trên cả nước
được phép dựng tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh từ khi Người còn sống.
Sự kiện ấy mang ý nghĩa đặc biệt không chỉ đối với nhân dân huyện đảo mà còn
trong lịch sử văn hóa, chính trị Việt Nam hiện đại. Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng
ý cho dựng tượng của mình tại một hòn đảo xa đất liền cho thấy trong suy nghĩ của
Người, biển đảo luôn là phần lãnh thổ thiêng liêng, không thể tách rời của quốc
gia dân tộc. Bức tượng không chỉ là biểu tượng tình cảm của nhân dân đối với
lãnh tụ, mà còn là một “cột mốc tinh thần” khẳng định chủ quyền Việt Nam nơi
tuyến đầu Đông Bắc.
Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng ý cho dựng
tượng của Người tại Cô Tô mang nhiều ý nghĩa.
Thứ nhất, đó là sự khẳng định về chủ quyền biển đảo,
chủ quyền quốc gia của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cô Tô là vị trí tiền tiêu có ý
nghĩa chính trị, quân sự đặc biệt quan trọng của đất nước,
giữ vai trò quan trọng trong thế trận phòng thủ - tấn công trên vùng biển Đông
Bắc. Là một người am hiểu sâu sắc về lịch sử và văn hóa truyền thống hàng ngàn
năm của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh biết rõ trong tiến trình phát triển của
dân tộc Việt Nam, nhiều dấu mốc lịch sử hết sức quan trọng gắn liền với vị trí,
vai trò các vùng biển đảo của Tổ quốc. Tượng đài của Người đặt trên đảo tiền
tiêu là hồn thiêng sông núi, dấu mốc lịch sử, khẳng định chủ quyền thiêng
liêng, bất khả xâm phạm của Việt Nam trên Biển Đông.
Thứ hai, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Người về
vai trò, vị thế của biển, đảo trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Trong
suốt chiều dài lịch sử, từ các triều đại phong kiến đến thời đại Hồ Chí Minh đã
đề ra các quyết sách, chủ trương quan trọng về biển, đảo và triển khai trên thực
tế công cuộc khai thác, xác lập chủ quyền, bảo vệ lợi ích, biên cương của Tổ quốc.
Sinh thời, Người đã chỉ rõ: “Đồng bằng là nhà, mà biển là cửa. Giữ nhà mà không
giữ cửa có được không?... Nếu mình không lo bảo vệ miền biển, thì đánh cá, làm
muối cũng không yên. Cho nên một nhiệm vụ quan trọng của đồng bào miền biển là
phải bảo vệ bờ biển. Đồng bào miền biển là người canh cửa cho Tổ quốc”. Tượng
Bác Hồ mãi mãi nhắc nhở các thế hệ người Việt Nam về vai trò, vị thế của biển,
đảo trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
Thứ ba, thể hiện sự quan tâm của Người đối với
vùng đất và con người Cô Tô - Thanh Lân. Bức tượng Người như một hiện thân hằng
ngày động viên, khích lệ tinh thần đoàn kết, hăng say lao động sản xuất, thi
đua yêu nước, chiến đấu, anh dũng hy sinh bảo vệ vùng trời, vùng biển của quân
và dân Cô Tô - Thanh Lân, phát huy tinh thần độc lập, tự chủ trong kháng chiến,
bảo vệ và xây dựng đời sống mới. Sự quan tâm này thể hiện hết sức sâu sắc trong
bài nói chuyện của Người đối với nhân dân Cô Tô ngày 9/5/1961.
*
Có thể thấy rằng, trong bối cảnh vấn đề chủ
quyền biển đảo tiếp tục đặt ra nhiều yêu cầu mới, những lời căn dặn của Chủ tịch
Hồ Chí Minh đối với quân và dân Cô Tô càng cho thấy giá trị trường tồn. Từ một
huyện đảo còn nhiều khó khăn đầu thập niên 1960, Cô Tô hôm nay đã có những đổi
thay mạnh mẽ về hạ tầng, kinh tế biển, du lịch, đời sống dân cư và thế trận quốc
phòng - an ninh. Nhưng vượt lên trên tất cả những đổi thay ấy, điều còn được
lưu giữ bền vững nhất chính là tinh thần bám biển, giữ đảo và ý thức chủ quyền
đã được hun đúc qua nhiều thế hệ dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh.
Chuyến thăm đảo Cô Tô năm 1961 là một dấu ấn
đặc biệt trong cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh và trong lịch sử
vùng biển đảo Đông Bắc của Tổ quốc. Từ chuyến đi ấy, những lời căn dặn giản dị
mà sâu sắc của Người đã trở thành phương hướng hành động, nguồn động viên tinh
thần to lớn đối với nhiều thế hệ quân và dân nơi đảo tiền tiêu.
Hơn sáu mươi năm đã trôi qua, giữa biển trời
Đông Bắc, tượng Bác Hồ trên đảo Cô Tô vẫn hướng mặt ra biển lớn như một biểu tượng
thiêng liêng của ý chí độc lập, chủ quyền và khát vọng trường tồn của dân tộc
Việt Nam. Trong dòng chảy lịch sử hôm nay, hình ảnh ấy không chỉ nhắc nhớ về
tình cảm sâu nặng của Người đối với biển đảo quê hương, mà còn nhắc mỗi người
Việt Nam về trách nhiệm giữ gìn từng tấc biển, từng hòn đảo thiêng liêng của Tổ
quốc.