Bài viết “Tây Bắc trong tư duy chiến lược của Hồ Chí Minh” tập trung làm rõ tư tưởng, tình cảm và sự quan tâm sâu sắc của Hồ Chí Minh đối với vùng đất và đồng bào các dân tộc Tây Bắc trong tiến trình cách mạng Việt Nam. Với vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, quân sự và quốc phòng, Tây Bắc luôn được Người xem là “phên dậu” của Tổ quốc, giữ vai trò trọng yếu trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ đất nước. Bài viết phân tích tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, chính sách dân tộc bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc anh em, đồng thời làm rõ sự quan tâm của Người đối với đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào Tây Bắc thông qua các bài nói, bài viết, thư gửi và những lần trực tiếp lên thăm các tỉnh như: Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Hòa Bình... Người luôn căn dặn cán bộ và nhân dân phải đoàn kết, tăng gia sản xuất, phát triển giáo dục, giữ gìn vệ sinh, bảo vệ rừng, xóa bỏ hủ tục và xây dựng đời sống mới. Qua đó, bài viết khẳng định tư tưởng và tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với Tây Bắc là di sản quý báu, có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với công cuộc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia hiện nay.
1. Tây Bắc - vùng đất chiến lược của quốc gia
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, Tây Bắc
luôn giữ vị trí đặc biệt quan trọng về chính trị, quân sự và văn hóa. Đây là
vùng thượng du rộng lớn ở phía tây bắc Bắc Kỳ, tiếp giáp với tỉnh Vân Nam
(Trung Quốc) ở phía Bắc và nước Lào ở phía Tây, đồng thời là nơi nối liền vùng
trung du với khu vực biên giới Tây Bắc của Tổ quốc. Với địa hình núi cao, rừng
sâu hiểm trở, Tây Bắc từ lâu được xem là “phên
dậu” của quốc gia, nơi “ngăn chẹn đường
xung yếu ở dọc biên thùy”.
Từ thời phong kiến, nhiều nhà chính trị,
quân sự đã nhận thức rõ vai trò của vùng đất này. Khi viết về Hưng Hóa, sử gia
Lê Quý Đôn từng nhận định đây là vùng đất “che
giữ cho các trấn, như giậu như phên”,
giữ vai trò then chốt đối với an ninh biên cương quốc gia. Tây Bắc cũng là địa
bàn sinh tụ lâu đời của nhiều cộng đồng dân tộc như: Thái, Mông, Dao, Mường… tạo
nên không gian văn hóa đa dạng và giàu bản sắc.
Trong các cuộc kháng chiến chống ngoại
xâm, nhân dân các dân tộc Tây Bắc luôn thể hiện tinh thần yêu nước mạnh mẽ. Cuối
thế kỷ XIX, nơi đây trở thành một trong những trung tâm kháng Pháp tiêu biểu ở
Bắc Kỳ, như các cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Quang Bích, Nguyễn Văn Giáp, Đốc Ngữ…
lãnh đạo. Sau này, truyền thống đấu tranh ấy tiếp tục được phát huy dưới sự
lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tây Bắc
không chỉ là vùng đất chiến lược về quân sự mà còn là địa bàn có ý nghĩa đặc biệt
trong khối đại đoàn kết dân tộc. Người luôn dành cho đồng bào các dân tộc nơi
đây sự quan tâm sâu sắc cả trong tư tưởng lẫn hoạt động thực tiễn.
2. Tây Bắc trong tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh
Trong quá trình tìm đường cứu nước, Hồ
Chí Minh sớm nhận thấy rằng muốn giải phóng dân tộc phải tập hợp được sức mạnh
của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo hay giai tầng
xã hội. Đây là điểm khác biệt căn bản giữa Người với nhiều nhà yêu nước tiền bối
cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ XX.
Năm 1920, khi đọc “Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa”
của Lênin, Người đã tìm thấy con đường giải phóng dân tộc gắn với cách mạng vô
sản và đoàn kết quốc tế. Chính từ nhận thức ấy, tư tưởng đại đoàn kết dân tộc từng
bước hình thành và trở thành chiến lược xuyên suốt của cách mạng Việt Nam.
Trong các văn kiện đầu tiên của Đảng,
Người luôn nhấn mạnh việc đoàn kết mọi lực lượng yêu nước, trong đó có đồng bào
các dân tộc thiểu số. Đảng Cộng sản Việt Nam phải “liên lạc với tiểu tư sản,
trí thức, trung nông, thanh niên…” để tạo nên sức mạnh toàn dân tộc.
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám,
trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề
nghị tổ chức tổng tuyển cử theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, mọi công dân đều
có quyền bầu cử và ứng cử “không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dân tộc”.
Tư tưởng bình đẳng dân tộc tiếp tục được
thể hiện trong Hiến pháp năm 1946. Đồng bào các dân tộc thiểu số được bảo đảm
quyền lợi ngang bằng với các dân tộc khác, được hỗ trợ phát triển kinh tế, văn
hóa và có quyền học bằng tiếng mẹ đẻ tại các trường sơ học địa phương: “… những quốc dân
thiểu số được giúp đỡ về mọi phương diện để chóng tiến kịp trình độ chung, được học hành không phải đóng học phí, Ở các trường sơ học địa phương, quốc dân thiểu
số có quyền học bằng tiếng của mình...”.
Ngày 3-12-1945, tại Hội nghị đại biểu
các dân tộc thiểu số Việt Nam tổ chức ở Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:
các dân tộc trong nước đều “như anh em trong một nhà”. Đây không chỉ là lời động
viên chính trị mà còn là quan điểm nhất quán của Người về xây dựng khối đại
đoàn kết toàn dân tộc - nền tảng để bảo vệ độc lập và xây dựng đất nước.
Như vậy, tư tưởng đại đoàn kết dân tộc
của Hồ Chí Minh là quan điểm chiến lược
xuyên suốt của cách mạng Việt Nam. Người luôn đề cao tinh thần bình đẳng, đoàn
kết và tương trợ giữa các dân tộc anh em, xem đó là nền tảng để giành và giữ vững
độc lập dân tộc. Những quan điểm ấy không chỉ thể hiện trong lý luận mà còn được
cụ thể hóa bằng các chủ trương, chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số.
Đây cũng là cơ sở quan trọng trong tư tưởng và tình cảm đặc biệt của Người đối
với vùng Tây Bắc và đồng bào các dân tộc nơi đây.
3. Tây Bắc trong tư duy chiến lược của Hồ Chí Minh
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp, Tây Bắc giữ vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng. Đây là khu vực nối liền
Việt Bắc với Thượng Lào, đồng thời là địa bàn có thể uy hiếp căn cứ địa kháng
chiến của ta. Thực dân Pháp vì vậy đã tìm mọi cách kiểm soát vùng đất này, lập
ra “Xứ Thái tự trị”,
“Xứ Nùng tự trị” (ở Lào Cai), “Xứ Mường tự trị” (ở Hòa Bình) nhằm chia
rẽ các dân tộc, phá hoại khối đoàn kết dân tộc. Trước âm mưu đó, Trung ương Đảng
và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định thành lập Khu Tây Bắc
năm 1952 và mở Chiến dịch Tây Bắc nhằm tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng nhân
dân các dân tộc nơi đây và phá tan âm mưu lập “Xứ tự trị” của thực dân Pháp.
Điều đáng chú ý là trong tư duy quân sự
của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chiến thắng không chỉ đến từ sức mạnh quân sự mà còn
từ lòng dân. Trước khi mở chiến dịch, Người căn dặn cán bộ và chiến sĩ phải thực
hiện đúng chính sách dân tộc, tôn trọng phong tục tập quán, giúp đỡ nhân dân để
“khi mình đến thì đồng bào hoan nghênh, khi đóng quân thì đồng bào vui vẻ giúp
đỡ, khi mình đi thì đồng bào quyến luyến”.
Trong Chiến dịch Tây Bắc, Chủ tịch Hồ
Chí Minh còn ban hành “Tám điều mệnh lệnh”,
yêu cầu bộ đội tuyệt đối “không phạm đến một cái kim, sợi chỉ của dân”. Đây là biểu hiện sinh động của tư tưởng “lấy dân làm gốc”, kết hợp
chặt chẽ giữa nhiệm vụ quân sự với công tác dân vận.
Sau thắng lợi của chiến dịch, ngày
28-1-1953, Người ký Sắc lệnh thành lập Khu Tây Bắc nhằm kiện toàn tổ chức chính
quyền ở vùng giải phóng. Trong thư gửi quân và dân Tây Bắc, Người căn dặn đồng
bào phải đoàn kết, tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống và tham gia kháng chiến;
cán bộ phải “hết lòng hết sức chăm lo đến
đời sống của nhân dân”.
Sau thắng lợi của Chiến thắng Điện
Biên Phủ năm 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục quan tâm xây dựng vùng Tây Bắc.
Ngày 29-4-1955, Người ký Sắc lệnh thành lập Khu
tự trị Thái - Mèo nhằm tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc “tự quản lý lấy mọi
công việc của mình, để mau chóng phát triển kinh tế và văn hóa của mình, để thực
hiện các dân tộc bình đẳng về mọi mặt...”, Người còn khẳng định: “Khu tự trị Thái - Mèo của chúng ta ngày nay là
dân chủ, do nhân dân làm chủ. Nó khác hẳn với “xứ Thái tự trị” giả hiệu của địch mà mục đích là để chia rẽ và áp bức
các dân tộc”.
Như vậy, trong tư duy chiến lược của Hồ
Chí Minh, Tây Bắc giữ vị trí đặc biệt quan trọng cả về quân sự, chính trị và
dân tộc. Người luôn gắn nhiệm vụ bảo vệ vùng đất chiến lược này với việc củng cố
khối đại đoàn kết các dân tộc và chăm lo đời sống nhân dân. Tư tưởng “lấy dân
làm gốc” được thể hiện rõ trong chỉ đạo kháng chiến, xây dựng chính quyền và thực
hiện chính sách dân tộc ở Tây Bắc. Đây là cơ sở quan trọng để phát huy sức mạnh
đoàn kết toàn dân, góp phần làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp và xây dựng vùng Tây Bắc ngày càng phát triển.
4. Tình cảm và sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với đồng
bào Tây Bắc
Không chỉ quan tâm trên phương diện
chiến lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn dành cho đồng bào Tây Bắc những tình cảm hết
sức sâu nặng. Dù tuổi cao, công việc bộn bề, Người vẫn nhiều lần trực tiếp lên
thăm các tỉnh Tây Bắc như Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Hòa Bình và gặp gỡ cán bộ tỉnh
Lai Châu.
Năm 1958, trong chuyến thăm tỉnh Lào
Cai, Người căn dặn cán bộ và nhân dân phải đoàn kết giữa các dân tộc, giúp đỡ đồng
bào ít người, tăng gia sản xuất và từng bước xóa bỏ các hủ tục lạc hậu trong cưới
hỏi, ma chay. Lào Cai là tỉnh Tây Bắc
có hơn 20 dân tộc anh em, nên Bác đã căn dặn phải Đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc: đối với đồng bào những dân tộc rất ít người như đồng bào Lô Lô thì các
dân tộc đông người hơn càng phải giúp đỡ về mọi mặt... phải làm cho đồng bào no
cơm, ấm áo. Muốn no cơm, ấm áo, phải tăng gia sản xuất... Giữ gìn trật tự, trị
an tốt thì dân mới an cư lạc nghiệp; Phải Xây dựng thuần phong, mỹ tục: “đám
ma để xác chết trong nhà lâu, mời thầy cúng về cúng mấy ngày rồi mới đem chôn.
Thế là hại vệ sinh... Về cưới hỏi:
Có nơi bé tý tẹo đã lấy vợ, lấy chồng,
làm mâm cỗ thật nhiều. Phải bán trâu, bán ruộng để ăn bừa bãi hai ba bữa rồi
sau hai đứa con phải trả nợ mãi không hết. Thế là không tốt. Phải giáo dục để sửa
dần dần các phong tục, tập quán không lành mạnh, phải giải thích để nhân dân tự
nguyện, tự giác bỏ phong tục xấu”.
Tại Yên Bái, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn
mạnh việc đoàn kết giữa các dân tộc, phát triển sản xuất, xây dựng hợp tác xã
và giúp đỡ đồng bào vùng cao ổn định cuộc sống. Người cũng phê phán tình trạng
cưới xin, ma chay linh đình gây lãng phí, làm ảnh hưởng đến đời sống nhân dân. Người nhắc nhở cán bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh
Yên Bái phải tiết kiệm trong tiêu dùng, phải giữ lấy thuần phong mỹ tục của dân
tộc nhưng đồng thời phải bài trừ những hủ tục lạc hậu như ma chay, cưới xin: “lúc đám cưới, mời họ nội, họ ngoại chè chén
linh đình, 2 bữa say sưa bằng thích. Nhưng sau đấy nhà trai, nhà gái phải bán
trâu, bò, thóc, bán ruộng, đi vay nợ. Như thế là không tốt. Mà đã không tốt là
xấu. Đã xấu thì phải sửa. Đám cưới như thế, đám ma cũng thế. Thường thì chôn cất
cũng đủ, nhưng cũng cứ phải chén. Thế rồi cũng bán thóc, bán trâu, bán ruộng”.
Đặc biệt, trong chuyến thăm Sơn La năm
1959, Người dành nhiều thời gian nói chuyện với đồng bào về sản xuất, thủy lợi,
hợp tác xã, bảo vệ rừng, xóa nạn mù chữ và giữ gìn vệ sinh phòng bệnh. Người nhấn
mạnh rừng là vàng, là bạc: “Bác đi qua nhiều nơi thấy rừng bị phá rất nhiều.
Những cây gỗ to, cao chặt để đốt hay để cho nó mục nát, không khác gì đồng bào
tự mình đem tiền bạc của mình bỏ xuống sông… Phải giữ gìn rừng cho tốt. 5 năm,
10 năm nữa, rừng là vàng là bạc, là máy móc cả”. Đây là tư tưởng có giá trị lâu dài đối
với vấn đề bảo vệ tài nguyên và phát triển bền vững ở miền núi hiện nay.
Trong các bài nói chuyện với đồng bào
Tây Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường dùng hình ảnh giản dị, gần gũi để giải
thích về đoàn kết dân tộc. Người ví các dân tộc như một bó đũa: từng chiếc
riêng lẻ có thể bẻ gãy, nhưng khi đoàn kết lại sẽ tạo nên sức mạnh không gì
chia cắt được.
Đối với Hòa Bình, Người nhiều lần trực
tiếp về thăm và luôn quan tâm đến đời sống nhân dân, từ chuyện sản xuất, vệ
sinh, tiết kiệm đến việc xây dựng nếp sống mới: “Đồng bào còn tục lệ ma chay, cưới hỏi ăn uống lu bù. Mình ăn vài bữa
nhưng nhà có con cưới hỏi, có người chết thì mắc nợ phải đi vay. Phải bán trâu
bán ruộng. Thế là xa xỉ. Không tốt!… đồng bào, cán bộ cần chú ý giúp đỡ đồng bào rẻo cao, vì ở đấy làm
ăn khó nhọc hơn, văn hóa cũng phát triển chậm hơn”.
Năm 1967, khi gặp đoàn cán bộ Lai Châu
tại Hà Nội, Người hỏi rất cụ thể về đời sống đồng bào, phong tục tập quán, giáo
dục, sản xuất, hợp tác xã và tình hình đoàn kết giữa các dân tộc. Người căn dặn
cán bộ phải “nâng cao ý thức phục vụ nhân
dân”, không được quan liêu, tham ô, lãng phí: “Cán
bộ từ trên xuống dưới là phải đoàn kết với nhau, thương yêu giúp đỡ nhau. Phải
nâng cao ý thức phục vụ nhân dân được tốt hơn nữa, không được bắt nhân dân phục
vụ mình, hết sức tránh tham ô, lãng phí, liên hoan chè chén… Phải lãnh đạo sản
xuất tốt, làm cho đời sống của đồng bào các dân tộc được no ấm, được học hành.
Nếu để đời sống đồng bào các dân tộc thiếu hụt, không được học hành là thiếu
sót lớn, là không tốt… Bác gửi lời
hỏi thăm tới cán bộ, đảng viên, các cụ, các cháu thiếu niên nhi đồng và đồng
bào các dân tộc Lai Châu”.
Những lời căn dặn ấy cho thấy tư tưởng
của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với Tây Bắc không phải là những quan điểm chung
chung mà gắn chặt với đời sống cụ thể của nhân dân: từ cái ăn, cái mặc, việc học
hành đến vệ sinh, tập quán và sản xuất. Như vậy, tình cảm và sự quan tâm của Hồ Chí Minh đối với đồng bào Tây Bắc được thể hiện
sâu sắc, chân thành và gắn liền với đời sống thực tiễn của nhân dân. Người
không chỉ quan tâm đến phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục mà còn chú trọng
xây dựng khối đoàn kết dân tộc, giữ gìn nếp sống văn minh và nâng cao đời sống
vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc. Những lời căn dặn giản dị nhưng
sâu sắc của Người đã thể hiện tư tưởng nhân văn, gần dân, vì dân và đến nay vẫn
còn nguyên giá trị đối với sự phát triển bền vững vùng Tây Bắc.
5. Giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về Tây Bắc trong bối cảnh hiện nay
Ngày nay, Tây Bắc tiếp tục giữ vị trí
chiến lược đặc biệt quan trọng đối với quốc phòng, an ninh, kinh tế và đối ngoại
của đất nước. Đây là khu vực giàu tiềm năng về tài nguyên, văn hóa, du lịch và
kinh tế cửa khẩu, đồng thời cũng là địa bàn trọng yếu về bảo vệ chủ quyền biên
giới quốc gia.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và
phát triển kinh tế thị trường, những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Tây Bắc
vẫn giữ nguyên giá trị thời sự. Đó là quan điểm phát triển toàn diện vùng dân tộc
thiểu số; chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào; củng cố khối đại
đoàn kết dân tộc; xây dựng đội ngũ cán bộ gần dân, hiểu dân và tôn trọng phong
tục tập quán của nhân dân.
Đặc biệt, tư tưởng “đoàn kết các dân tộc
như anh em một nhà” tiếp tục là nền tảng quan trọng để xây dựng khối đại đoàn kết
toàn dân tộc trong giai đoạn hiện nay. Đồng thời, những lời căn dặn của Người về
bảo vệ rừng, xóa đói giảm nghèo, phát triển giáo dục, giữ gìn vệ sinh, chống
lãng phí và bài trừ hủ tục vẫn còn nguyên ý nghĩa đối với công cuộc phát triển
bền vững vùng Tây Bắc hôm nay.
Có thể khẳng định rằng, tư tưởng và
tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với Tây Bắc là một di sản quý báu của
cách mạng Việt Nam. Đó không chỉ là tư duy chiến lược về bảo vệ biên cương Tổ
quốc mà còn là tư tưởng nhân văn sâu sắc, luôn hướng tới mục tiêu chăm lo đời sống
nhân dân, xây dựng khối đoàn kết dân tộc bền vững và phát triển đất nước phồn
vinh.
* *
*
Tây Bắc là vùng đất có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng trong
lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Trong tư tưởng và hoạt động thực
tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tây Bắc không chỉ là “phên dậu” nơi biên cương
Tổ quốc mà còn là địa bàn có ý nghĩa đặc biệt trong việc củng cố khối đại đoàn
kết các dân tộc Việt Nam. Từ tư tưởng bình đẳng dân tộc, đoàn kết các dân tộc
anh em đến những chủ trương, chính sách cụ thể đối với vùng đồng bào dân tộc
thiểu số, Người luôn nhất quán quan điểm “lấy dân làm gốc”, chăm lo toàn diện
đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Tư duy chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với Tây Bắc được
thể hiện sâu sắc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp cũng như trong quá
trình xây dựng chính quyền và phát triển vùng Tây Bắc sau hòa bình lập lại.
Người luôn gắn nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biên giới với phát triển kinh tế, văn
hóa, giáo dục và nâng cao đời sống của đồng bào các dân tộc. Những chuyến thăm,
những lời căn dặn giản dị mà sâu sắc của Người đối với nhân dân các tỉnh Lào
Cai, Yên Bái, Sơn La, Hòa Bình, Lai Châu… đã thể hiện rõ tình cảm gần gũi, chân
thành và tư tưởng nhân văn sâu sắc của một vị lãnh tụ luôn hết lòng vì nhân
dân.
Ngày nay, trong bối cảnh hội nhập và phát triển đất nước, tư tưởng
của Hồ Chí Minh về Tây Bắc vẫn giữ nguyên giá trị lý luận và thực tiễn. Đó là
cơ sở quan trọng để tiếp tục xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát
triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, bảo tồn bản sắc văn hóa,
bảo vệ tài nguyên môi trường và giữ vững chủ quyền biên giới quốc gia. Tư tưởng
và tình cảm của Người đối với Tây Bắc mãi là di sản tinh thần quý báu, soi sáng
cho sự nghiệp xây dựng và phát triển bền vững vùng Tây Bắc trong thời kỳ mới.
Một số hình ảnh về Chủ tịch Hồ Chí Minh
với nhân dân Tây Bắc
Bác Hồ nói chuyện nhân dân các dân tộc tỉnh Yên Bái 25-9-1958
(Nguồn: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Yên Bái, tập I (1930-1975),
Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Yên Bái, 1996)

Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh lưu niệm với đại biểu nữ thanh, thiếu niên tỉnh Lào Cai, ngày 24-9-1958 (Nguồn: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lào Cai (1947-2007), Nxb Chính trị quốc gia, 2010)
Chủ tịch Hồ Chí Minh trên lễ đài kỷ niệm lần thứ 5 ngày thành lập
Khu tự trị Tây Bắc tại Thuận Châu (Sơn La) (Nguồn: Những bài viết và nói của Hồ Chủ tịch với các dân tộc Tây Bắc, Ban Tuyên giáo Khu Tây Bắc xuất bản, 1970)

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với đại biểu phụ nữ các dân tộc trong dịp Người lên thăm Tây Bắc tháng 5-1959 (Nguồn: Những bài viết và nói của Hồ Chủ tịch với các dân tộc Tây Bắc, Ban Tuyên giáo Khu Tây Bắc xuất bản, 1970)

Bác Hồ về thăm nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình ngày 17-8-1962
(Nguồn: Địa chí Hòa Bình, Nxb Chính trị quốc gia, 2005)

Bác Hồ với đoàn cán bộ Lai Châu (3-1967)
(Nguồn: Bác Hồ với các dân tộc Lai Châu, Ban nghiên cứu
Lịch sử Đảng Lai Châu xuất bản năm 1984)

Bút tích của Hồ Chủ tịch "Bài nói chuyện trong cuộc mít tinh kỷ niệm 5 năm thành lập khu tự trị Tây Bắc" (Nguồn: Những bài viết và nói của Hồ Chủ tịch với các dân tộc Tây Bắc, Ban Tuyên giáo Khu Tây Bắc xuất bản, 1970)