KỶ NIỆM 100 NĂM NGÀY MẤT CỦA NHÀ YÊU NƯỚC PHAN CHÂU TRINH (24/3/1926 - 24/3/2026)
Phong trào để tang Phan Châu Trinh 100 năm nhìn lại (1926 - 2026)
TS. Trần Thị Phương Hoa
Viện Sử học
Phan Châu Trinh là một chí sĩ đấu tranh cho độc lập và các quyền của dân tộc Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc. Ông sinh ngày 8-8-1872, tại làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Hồi nhỏ, Phan Châu Trinh học chữ Hán và học võ với cha. Năm 1900, sau khi cha mất được 3 năm ông dự thi Hương trường Thừa Thiên và đỗ Cử Nhân. Năm 1901 thi Hội đỗ Phó bảng, cùng khoa với Ngô Đức Kế đỗ Tiến sĩ và Nguyễn Sinh Sắc, thân phụ Nguyễn Ái Quốc cũng đỗ Phó bảng. Được bổ làm Thừa biện trong Bộ Lễ nhưng ông sớm từ quan vì cuộc sống quan trường không thoả tư tưởng yêu nước, chí hướng thoát vòng nô lệ vẫn nung nấu trong lòng ông. Năm 1904, Phan Châu Trinh gặp gỡ Phan Bội Châu và sau đó cùng Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp đi ngao du từ Quảng Nam ra Bắc để kết thân đồng chí. Mùa xuân năm 1906, Phan Châu Trinh ra Bắc, qua thăm đồn Đề Thám. Sau đó ông sang Hồng Kông, Quảng Đông, nơi ông gặp gỡ với Phan Bội Châu. Mặc dù hai nhà chí sĩ không chung đường lối cách mạng nhưng họ cảm phục nhau về tinh thần và ý chí.
Tháng 5-1906, Phan Châu Trinh chia tay Phan Bội Châu về nước, cũng là lần cuối cùng hai người gặp nhau. Về Việt Nam, Phan Châu Trinh sử dụng chữ Hán để trao đổi thư từ với Toàn quyền Pháp Paul Beau, yêu cầu cải thiện kinh tế, cho người dân tự do phát triển giáo dục và công thương nghiệp. Năm 1908 phong trào chống sưu thuế dấy lên ở Trung Kỳ. Bị coi là thành viên tích cực trong phong trào, Phan Châu Trinh bị bắt và bị đày ra nhà tù Côn Đảo. Tháng 6-1910, nhờ sự can thiệp của Hội nhân quyền Pháp, ông được ân xá và trả tự do nhưng bị quản thúc tại Mỹ Tho. Trong bối cảnh bị giam lỏng, ông xin sang Pháp với chủ ý tranh thủ Hội nhân quyền Pháp để đòi chính quyền Pháp ở Đông Dương cải cách chính trị. Tháng 3-1911 ông sang Pháp cùng con trai là Phan Châu Dật, khi đó 14 tuổi. Ông lưu trú ở Pháp đến tháng 6- 1925 mới trở về Việt Nam.
Sau khi về nước, mặc dù sức khoẻ không tốt, ông vẫn tham gia hai cuộc diễn thuyết gây tiếng vang rộng rãi là Quân trị chủ nghĩa và Dân trị chủ nghĩa; Đạo đức và Luân lý Đông Tây, có ảnh hưởng rất lớn đến thanh niên Nam Kỳ. Vào hồi 9 giờ 30 phút tối ngày 24-3-1926, do trọng bệnh, Phan Châu Trinh qua đời tại nhà số 54 Pellerin, Sài Gòn (nay là đường Pasteur), để lại niềm tiếc thương cho nhân dân cả nước.
Nhiều tờ nhật báo trên cả nước đã trang trọng đưa tin ông qua đời. Đám tang của ông được tổ chức tại Sài Gòn ngày 4 tháng 4 năm 1926 đã trở thành một sự kiện xã hội và chính trị đặc biệt, thu hút sự tham gia đông đảo nhân dân Nam Kỳ và người dân cả nước, tạo nên một hiệu ứng như một phong trào.
Từ những ngày trước lễ tang, người dân Sài Gòn và các tỉnh lân cận đã đổ về đường Pellerin, nơi quàn thi hài Phan Châu Trinh để viếng cụ. Đến ngày đưa tang, đoàn người đông nghịt, kéo dài qua nhiều con đường của thành phố. Từ nhà tang lễ, đoàn đưa tang đi thẳng theo đường Pellerin, qua đại lộ Norodom, ngang qua trường Paul Blanchy, rồi tiếp tục qua đường Tân Định trước khi tiến về nghĩa địa Tân Sơn Nhất. Dọc theo lộ trình ấy, hai bên đường người tiễn đưa chật như nêm. Khi đoàn tang đi qua, người dân bỏ mũ cúi đầu, tạo nên một khung cảnh trang nghiêm và trật tự hiếm thấy.
Trong đám tang, Huỳnh Thúc Kháng, đại diện Trung Kỳ đã đọc bài điếu văn xúc động trước linh cữu Phan Châu Trinh, nhấn mạnh hơn hai mươi năm hoạt động đầy gian khổ của nhà chí sĩ: từ tù đày, lưu vong cho đến những nỗ lực không ngừng nhằm khai mở dân trí và thúc đẩy cải cách xã hội Việt Nam. Theo ông, Phan Châu Trinh là người đã bước những bước đầu tiên trên con đường cải cách chính trị và cổ vũ tinh thần dân quyền trong xã hội Việt Nam.
Nhà báo Trần Huy Liệu, với bút danh Nam Kiều đã tường thuật chi tiết về đám tang, thể hiện những cảm xúc đan xen của người chứng kiến sự kiện. Trước hết là nỗi thương tiếc đối với một bậc chí sĩ đã chịu nhiều gian khổ, luôn giữ vững tinh thần kiên trung và bất khuất vì dân tộc. Đồng thời, với nhạy cảm của một nhà cách mạng, Trần Huy Liệu cũng bày tỏ niềm vui và hy vọng, khi thấy quốc dân đã biết đồng lòng tưởng nhớ và trân trọng người hy sinh vì nghĩa lớn. Hàng vạn người Việt Nam cùng tham gia đám tang, ai cũng để tang và bày tỏ sự kính trọng như đối với một người thân trong gia đình.
Tuy nhiên, Trần Huy Liệu không giấu được nỗi lo lắng trước tương lai của phong trào yêu nước. Theo ông, tinh thần thanh niên lúc bấy giờ tuy bộc lộ mạnh mẽ qua sự tham gia đông đảo trong đám tang, nhưng vẫn còn thiếu tổ chức và phương hướng rõ ràng. Ông viết rằng: “Thanh niên bây giờ đứng lên một cách đông đảo, nhưng điều cần thiết là phải có tổ chức, phải có người lãnh đạo, phải có chương trình hành động”.
Điều nổi bật nhất của đám tang vẫn là bầu không khí trang nghiêm, trật tự và đầy cảm xúc. Không ai bảo ai, mọi người đều tự giác bày tỏ lòng kính trọng đối với người đã khuất. Khi đoàn người tiến về nghĩa địa Tân Sơn Nhất, hai bên đường vẫn đông kín người đứng tiễn đưa, ai nấy đều bỏ nón cúi đầu. Hình ảnh hàng vạn người cùng đi trong một đám tang đã khiến nhiều người đương thời nhận ra rằng đó không chỉ là tang lễ của một cá nhân, mà còn là biểu hiện của sự thức tỉnh tinh thần quốc dân trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ.
Không chỉ dừng lại ở Sài Gòn, tang lễ Phan Châu Trinh năm 1926 đã nhanh chóng trở thành một phong trào để tang lan rộng trên phạm vi toàn quốc. Sau khi tin về cái chết của ông được truyền đi, nhiều địa phương ở cả Nam Kỳ, Trung Kỳ và Bắc Kỳ đã tổ chức các buổi truy điệu và lễ tưởng niệm. Đặc biệt, phong trào này nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ trong giới học sinh, sinh viên và tầng lớp trí thức trẻ. Ở nhiều trường học, học sinh đồng loạt đeo băng tang, tổ chức lễ truy điệu và tham gia các cuộc tuần hành tưởng niệm. Tại một số nơi, học sinh còn bãi khóa để bày tỏ lòng thương tiếc và kính trọng đối với nhà chí sĩ.
Phong trào để tang Phan Châu Trinh vì thế đã trở thành một biểu hiện nổi bật của sự thức tỉnh ý thức dân tộc trong xã hội Việt Nam dưới chế độ thuộc địa. Qua những hoạt động tưởng niệm ấy, người dân không chỉ bày tỏ nỗi tiếc thương trước sự ra đi của một nhà yêu nước lớn, mà còn thể hiện sự ngưỡng mộ, trân trọng đối với lòng yêu nước, ý chí kiên trung và tinh thần cải cách của Phan Châu Trinh. Nhiều người đương thời nhận thấy rằng đám tang của ông không chỉ là một tang lễ cá nhân mà còn mang ý nghĩa của một cuộc biểu lộ tình cảm quốc dân, nơi hàng vạn người cùng bày tỏ sự đồng cảm và lòng kính trọng đối với một chí sĩ đã hi sinh cả cuộc đời cho dân tộc.
Tuy nhiên, theo nhận xét của Trần Huy Liệu, phong trào này tuy rộng lớn nhưng vẫn mang tính tự phát, chưa có tổ chức lãnh đạo thống nhất và chưa có một chương trình hành động rõ ràng. Ông cho rằng sự bộc lộ mạnh mẽ của tinh thần yêu nước, đặc biệt trong giới thanh niên và học sinh, là một dấu hiệu đáng mừng, nhưng đồng thời cũng đặt ra câu hỏi về con đường phát triển tiếp theo của phong trào. Ngay trong bài tường thuật về lễ tang trên Đông Pháp thời báo, Trần Huy Liệu nhận xét, “càng vui mừng bao nhiêu thì lại càng lo sợ bấy nhiêu”, bởi trong thâm tâm ông hiểu rằng tinh thần yêu nước nếu không được tổ chức và định hướng đúng đắn thì khó có thể trở thành một lực lượng chính trị hiệu quả.
Nhìn vào tiến trình lịch sử, phong trào để tang Phan Châu Trinh năm 1926 có thể được xem như một bước chuyển quan trọng trong sự hình thành của phong trào quần chúng yêu nước ở Việt Nam. Sức mạnh của tinh thần dân tộc được bộc lộ trong sự kiện này về sau đã được tổ chức và định hướng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, trở thành một nguồn động lực quan trọng dẫn tới thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Ảnh Avatar - nguồn: https://vienphanchautrinh.org/phan-chau-trinh/