LỜI KÊU GỌI CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRONG HAI CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP VÀ CHỐNG MỸ - GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VÀ BÀI HỌC CHO HÔM NAY
Từ Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến năm 1946 đến Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước năm 1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khơi dậy mạnh mẽ tinh thần đại đoàn kết, ý chí kiên cường và niềm tin tất thắng của dân tộc trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đồng thời khẳng định chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Hai lời kêu gọi mang giá trị lịch sử sâu sắc, để lại những bài học ý nghĩa về kiên định mục tiêu độc lập, kết hợp sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc với sức mạnh thời đại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.
Trong lịch sử đấu tranh giải phóng
dân tộc của Việt Nam thế kỷ XX, di sản tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ định hình
qua các công trình lý luận kinh điển mà còn kết tinh đặc sắc trong hệ thống các
văn kiện hiệu triệu có sức lay động cộng hưởng mạnh mẽ giữa ý chí lãnh tụ và
khát vọng quần chúng. “Lời kêu gọi” và “Lời hiệu triệu” của Người không đơn thuần
là những văn bản hành chính hay mệnh lệnh quân sự nhất thời, mà là một bộ phận
hữu cơ trong chiến lược vận động cách mạng, có ý nghĩa định hướng hành động,
góp phần cụ thể hóa đường lối cách mạng, được ban bố vào các thời điểm mang
tính bước ngoặt của vận mệnh quốc gia.
Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của
mình, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần ra lời kêu gọi, lời
hiệu triệu đồng bào, chiến sĩ tham gia công cuộc giải phóng dân tộc, kháng chiến
chống xâm lược và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ngay từ năm 1930, Người đã có “Lời
kêu gọi” gửi đến nông dân, công nhân, binh lính, thanh niên, học sinh, anh chị
em bị áp bức bóc lột. Trước Cách mạng tháng Tám 1945, Người gửi “Lời hiệu triệu
đoàn kết tất cả các bậc phụ lão” (6/1941), “Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa” (8/1945)[1]...
Cách mạng tháng Tám thành công, Người có “Lời kêu gọi quốc dân” (5/9/1945), “Lời
kêu gọi đồng bào Nam Bộ” (29/10/1945), “Lời kêu gọi thanh niên Nam Bộ” (30/10/1945),
“Lời kêu gọi kiều bào Việt Nam ở Pháp” (5/11/1945)[2]…
Phát động cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp tái xâm lược trên phạm vi cả nước,
Người ra “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” (19/12/1946) và thường xuyên có lời
kêu gọi, lời hiệu triệu cho đến ngày thắng lợi.
Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ,
cứu nước (1954 - 1975), Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục gửi lời kêu gọi đến đồng
bào, chiến sĩ… Có thể kể đến “Lời kêu gọi sau khi Hội nghị Giơnevơ thành công”
(22/7/1954), “Lời kêu gọi nhân dịp kỷ niệm Cách mạng tháng Tám và ngày Quốc
khánh” (1/9/1954), “Lời kêu gọi nhân ngày Thủ đô giải phóng” (10/10/1954), “Lời
kêu gọi nhân dịp kỷ niệm ngày kháng chiến toàn quốc” (19/12/1954)[3]…
Đặc biệt, khi cuộc kháng chiến bước vào thời điểm ác liệt ở cả hai miền Nam - Bắc,
“Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước” của Chủ tịch Hồ Chí Minh - được Đài
Phát thanh Tiếng nói Việt Nam truyền đi sáng 17/7/1966 - đã lập tức trở thành bản
hiệu triệu động viên toàn quân, toàn dân “kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ lịch sử
vẻ vang của dân tộc ta là đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”[4].
1. Lời kêu gọi Toàn quốc kháng
chiến thể hiện thiện chí hòa bình song hành với quyết tâm bảo vệ độc lập tự
do; nêu cao tinh thần “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước,
nhất định không chịu làm nô lệ”.
Trong tiến trình lịch sử, dân tộc Việt Nam phải tiến hành
nhiều cuộc kháng chiến chống ngoại xâm để bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất
và toàn vẹn lãnh thổ. Trải qua nhiều khổ đau, mất mát do chiến tranh, Việt Nam
luôn thể hiện tinh thần hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình, đoàn kết hữu nghị với
các nước trên thế giới. Thiện chí đó thể hiện rất rõ qua nhiều nỗ lực của Chủ tịch
Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ sau Cách mạng tháng Tám
1945 đến cuối năm 1946.
Ngày 20 tháng 10 năm 1945, trong bối
cảnh dã tâm tái chiếm Đông Dương của thực dân Pháp đã ngày càng bộc lộ rõ, đồng
thời cuộc kháng chiến chống xâm lược ở Nam Bộ đã bùng nổ gần một tháng, Chủ tịch
Hồ Chí Minh vẫn thể hiện nhất quán quan điểm phân biệt giữa chủ nghĩa thực dân
và nhân dân Pháp. Trong “Thư gửi những người Pháp ở Đông Dương”[5],
Người khẳng định nhân dân Việt Nam không nuôi dưỡng thái độ thù hằn đối với dân
tộc Pháp, trái lại còn ghi nhận những đóng góp của nước Pháp đối với các giá trị
phổ quát của nhân loại như tự do, bình đẳng, bác ái cũng như những thành tựu về
văn hóa, khoa học và văn minh. Từ lập trường đó, Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng cuộc
đấu tranh của nhân dân Việt Nam không nhằm chống lại nước Pháp hay những người
Pháp yêu chuộng công lý, mà hướng trực tiếp vào chế độ thống trị thực dân đang
áp đặt tại Đông Dương. Người đồng thời khẳng định truyền thống hòa bình và tinh
thần tôn trọng quyền tự do của các dân tộc khác của nhân dân Việt Nam, qua đó
làm rõ bản chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến: chiến đấu vì độc lập dân tộc,
chống ách đô hộ thực dân, chứ không phải chống lại nhân dân Pháp. Quan điểm này
phản ánh tư duy chính trị sắc bén, nhân văn và nhất quán của Hồ Chí Minh trong
việc kết hợp đấu tranh giải phóng dân tộc với chủ trương hòa hiếu, tranh thủ sự
đồng tình của dư luận tiến bộ quốc tế, kể cả từ chính nhân dân Pháp.
Bước sang năm 1946, trong bối cảnh
quan hệ Việt Nam – Pháp ngày càng căng thẳng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn kiên trì theo đuổi giải pháp hòa bình nhằm tránh
một cuộc xung đột vũ trang quy mô lớn. Việc ký kết Hiệp định Sơ bộ ngày
6/3/1946 và Tạm ước ngày 14/9/1946 thể hiện sách lược hòa hoãn, thương lượng
linh hoạt của Việt Nam nhằm bảo vệ những lợi ích căn bản của dân tộc, tránh
cùng lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù, tranh thủ thời gian củng cố lực lượng
và chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho cuộc đấu tranh lâu dài bảo vệ nền độc lập.
Ngay sau khi Hiệp định Sơ bộ được ký kết, ngày 11/3/1946, Hồ Chí Minh đã kêu gọi
nhân dân và chính phủ các nước, đặc biệt là nhân dân Pháp, ủng hộ việc thực hiện
nghiêm chỉnh các cam kết đã thỏa thuận, coi đó là điều kiện để xây dựng quan hệ
hòa hảo giữa hai dân tộc và góp phần bảo vệ hòa bình thế giới. Trong cuộc gặp với
tướng Leclerc ngày 18/3/1946 tại Hà Nội, Người tiếp tục bày tỏ mong muốn thiết
lập quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Pháp trên tinh thần cùng có lợi, hướng tới
hạnh phúc của nhân dân hai nước và sự ổn định quốc tế. Đáng chú ý, ngay cả khi
các hành động quân sự của thực dân Pháp liên tiếp làm gia tăng nguy cơ chiến
tranh, đặc biệt sau sự kiện Hải Phòng tháng 11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn
kiên trì theo đuổi con đường đàm phán và hòa giải. Cho đến ngày 7 tháng 12 năm 1946
(hơn nửa tháng sau khi thực dân Pháp gây hấn ở Hải Phòng), Chủ tịch Hồ Chí Minh
vẫn kiên trì: “Tôi yêu Tổ quốc và đồng bào tôi, tôi cũng yêu nước Pháp và nhân
dân Pháp. Vì vậy, tôi thiết tha kêu gọi Quốc hội và Chính phủ Pháp nghĩ đến quyền
lợi chung tối cao của hai dân tộc Pháp - Việt… để cùng Chính phủ Việt Nam thi
hành tạm ước, để xây đắp sự cộng tác Pháp - Việt thân thiện và lâu dài”[6].
Tuy nhiên, một khi “chúng ta càng
nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới”; thì lúc đó ý chí “Thà hy sinh tất cả,
chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” phải biến
thành hành động cụ thể. Từ rất sớm, khi đọc diễn văn tại “Ngày kháng chiến” (được
tổ chức tại Hà Nội ngày 5/11/1945, nhằm biểu thị sự ủng hộ cuộc chiến đấu oanh
liệt của đồng bào Nam Bộ), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Dân Việt Nam
không muốn đổ máu, dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình. Nhưng nếu cần phải hy sinh
mấy triệu chiến sĩ, nếu cần phải kháng chiến bao nhiêu năm để giữ gìn quyền độc
lập của Việt Nam, để cho con cháu Việt Nam khỏi kiếp nô lệ, thì chúng ta vẫn
kiên quyết hy sinh và kháng chiến”[7].
Nói chuyện với đội ngũ ủy viên tuyên truyền các tỉnh Bắc Bộ (15/3/1946), Người
khẳng định: “Chúng ta tuy tạm gác súng để nghỉ ngơi, nhưng lúc nào chúng ta
cũng sẵn sàng và quyết tâm chiến đấu cho giang sơn Tổ quốc”[8].
Trong bài đăng trên báo Cứu quốc (23/11/1946), Người nêu rõ: “Chính phủ
và nhân dân Việt Nam kiên quyết cộng tác thật thà với người Pháp. Song khi phải
giữ chủ quyền của Tổ quốc, cần hy sinh thì cũng phải kiên quyết hy sinh”[9].
Đầu tháng 12 năm 1946, Người gửi Lời kêu gọi đến Liên hợp quốc: “Chúng tôi trịnh
trọng tuyên bố rằng nhân dân chúng tôi thành thật mong muốn hoà bình. Nhưng
nhân dân chúng tôi cũng kiên quyết chiến đấu đến cùng, để bảo vệ những quyền
thiêng liêng nhất: toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc và độc lập cho đất nước”[10].
Khi mọi nỗ lực hòa bình và giải pháp
ngoại giao nhằm ngăn chặn chiến tranh đều không đạt kết quả, “Lời kêu gọi Toàn
quốc kháng chiến” ngày 19/12/1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chính thức phát động
cuộc kháng chiến trên phạm vi cả nước, thể hiện quyết tâm của dân tộc Việt Nam
đứng lên bảo vệ nền độc lập, chủ quyền và thành quả cách mạng. Văn kiện không
chỉ xác định quyết tâm bảo vệ nền độc lập, chủ quyền dân tộc bằng mọi giá mà
còn khẳng định tinh thần đoàn kết và ý chí chiến đấu của toàn thể nhân dân Việt
Nam trước cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp. Lời kêu gọi thể hiện rõ
quan điểm “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định
không chịu làm nô lệ”, qua đó huy động sức mạnh của toàn dân tộc cho cuộc kháng
chiến lâu dài. Đồng thời, văn kiện cũng phản ánh niềm tin vững chắc của Chủ tịch
Hồ Chí Minh vào thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp kháng chiến, khi khẳng định rằng
dù phải trải qua nhiều gian khổ, với ý chí kiên cường và tinh thần hy sinh vì độc
lập dân tộc, nhân dân Việt Nam nhất định sẽ giành thắng lợi.
2. Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước là biểu
tượng chí khí sắt đá, quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam anh
hùng; khẳng định chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”.
Từ năm 1965, cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước bước vào giai đoạn phát triển mới với những biến chuyển quan trọng
trên cả hai miền Nam - Bắc. Trước những thất bại của chiến lược “chiến tranh đặc
biệt”, Hoa Kỳ chuyển sang thực hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ”, trực tiếp
đưa quân viễn chinh Mỹ và quân đồng minh tham chiến tại miền Nam, đồng thời mở
rộng chiến tranh bằng cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc chủ yếu bằng không
quân và hải quân. Mục tiêu của Mỹ là làm suy giảm tiềm lực kinh tế, quốc phòng
của miền Bắc, cắt đứt sự chi viện cho chiến trường miền Nam và tạo ưu thế trên
bàn đàm phán. Trong bối cảnh đó, Đảng Lao động Việt Nam và Nhà nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã đề ra chủ
trương chuyển hướng toàn diện các hoạt động của miền Bắc từ thời bình sang thời
chiến, vừa tiếp tục nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa tổ chức cuộc chiến
đấu chống chiến tranh phá hoại của Mỹ, bảo vệ vững chắc hậu phương lớn của cách
mạng cả nước. Chủ trương này thể hiện quyết tâm huy động sức mạnh tổng hợp của
toàn dân tộc nhằm đánh bại sự leo thang chiến tranh của Hoa Kỳ, đồng thời bảo đảm
vai trò chiến lược của miền Bắc đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam và thống
nhất đất nước. Chính trong bối cảnh lịch sử đó, “Lời kêu gọi đồng bào và chiến
sĩ cả nước” ngày 17/7/1966 của Chủ tịch Hồ Chí Minh được công bố. Văn kiện
không chỉ khẳng định ý chí kiên quyết kháng chiến của nhân dân Việt Nam trước sự
leo thang chiến tranh của Mỹ, mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược, niềm tin vào
thắng lợi cuối cùng và quyết tâm bảo vệ độc lập, chủ quyền dân tộc. Đây là một
trong những văn kiện tiêu biểu phản ánh đường lối lãnh đạo kháng chiến của Đảng
và tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn cuộc chiến tranh
chống Mỹ diễn ra quyết liệt nhất.
Tiếp nối tinh thần bất khuất của “Lời
kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” năm 1946, “Lời kêu gọi đồng bào và chiến
sĩ cả nước” ngày 17/7/1966 khẳng định quyết tâm chiến đấu đến thắng lợi
hoàn toàn nhằm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc và tiến tới thống nhất đất
nước. Văn kiện thể hiện nhất quán ý chí độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và
khát vọng thống nhất của nhân dân Việt Nam trong bối cảnh Hoa Kỳ đẩy mạnh chiến
tranh xâm lược. Đồng thời, lời kêu gọi phản ánh nhận thức sâu sắc của Chủ tịch
Hồ Chí Minh và Đảng về tính chất lâu dài, ác liệt của cuộc kháng chiến, đồng thời
khẳng định niềm tin vững chắc vào sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và thắng lợi
cuối cùng. Không chỉ là lời hiệu triệu toàn dân tham gia kháng chiến, văn kiện
còn là sự kết tinh ý chí, bản lĩnh và quyết tâm của dân tộc Việt Nam, góp phần
cổ vũ quân và dân cả nước vượt qua mọi khó khăn, hoàn thành sự nghiệp giải phóng
miền Nam và thống nhất đất nước.
Trong “Lời
kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước” (17/7/1966), Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã chỉ ra những cơ sở căn bản bảo đảm thắng lợi của cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước, bao gồm tính chính nghĩa của cuộc đấu tranh, sức mạnh của khối đại
đoàn kết toàn dân tộc, truyền thống yêu nước và ý chí đấu tranh kiên cường của
nhân dân Việt Nam, cùng với sự ủng hộ rộng rãi của các nước xã hội chủ nghĩa và
lực lượng tiến bộ trên thế giới. Từ việc phân tích tương quan lực lượng trong bối
cảnh lịch sử cụ thể, Người khẳng định niềm tin vững chắc vào thắng lợi tất yếu
của dân tộc Việt Nam, đồng thời nhấn mạnh triển vọng xây dựng đất nước hòa
bình, độc lập và phát triển sau chiến tranh. Những nhận định đó không chỉ phản
ánh tầm nhìn chiến lược và khả năng đánh giá chính xác tình hình của lãnh tụ Hồ
Chí Minh mà còn góp phần củng cố niềm tin, động viên ý chí chiến đấu của quân
và dân cả nước trong giai đoạn cam go của cuộc kháng chiến.
Đặc biệt, văn kiện đã khẳng định một cách cô đọng và mạnh
mẽ chân lý “Không có
gì quý hơn độc lập, tự do”. Đây không chỉ là sự kết tinh tư
tưởng chính trị của Người mà còn là sự khái quát những giá trị cốt lõi của lịch
sử dân tộc Việt Nam trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước. Tuyên ngôn đó
xác lập độc lập, tự do vừa là mục tiêu tối thượng của cách mạng Việt Nam, vừa
là nền tảng bảo đảm sự tồn tại, phát triển của quốc gia và quyền làm chủ của
nhân dân. Vì vậy, “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã trở thành tư tưởng chỉ
đạo, nguồn động lực tinh thần to lớn và biểu tượng của ý chí đấu tranh kiên cường
của dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cũng như trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Ngày 3 tháng 11 năm 1968, một lần nữa Chủ tịch Hồ Chí
Minh ra “Lời kêu gọi cả nước tiến lên đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. Cùng với việc
tuyên dương chiến công, thành tích của quân dân hai miền Nam - Bắc, Người nhấn
mạnh: “Nhiệm vụ thiêng liêng của toàn dân ta lúc này là phải nâng cao tinh
thần quyết chiến, quyết thắng, quyết tâm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc,
tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc”[11]. Quyết tâm chiến đấu đến cùng và niềm tin vào thắng
lợi còn được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc đến trong những bài thơ chúc Tết từ năm
1967 đến năm 1969. Như vậy, từ “Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước” (17/7/1966)
cho đến “Lời kêu gọi” (3/11/1968) và bài thơ chúc Tết cuối cùng (01/01/1969),
luôn nhất quán “quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam anh hùng” và
niềm tin không lay chuyển về thắng lợi hoàn toàn của sự nghiệp kháng chiến chống
xâm lược.
3. Bài học cho hôm nay
Gần 80 năm và 60 năm đã trôi qua kể từ lúc ban hành, cả
hai Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ghi vào lịch sử như những lời hiệu
triệu có giá trị trường tồn, để lại nhiều bài học quý giá cho công cuộc xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Một
là, nêu cao thiện chí hòa bình và tính chính
nghĩa; kiên quyết, kiên
trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ
quốc.
Trong cả hai Lời kêu gọi, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đều nhấn mạnh: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng”;
“Nhân dân Việt Nam rất yêu chuộng hoà bình, hoà bình thật sự, hoà bình trong độc
lập tự do”. Nhưng một khi kẻ thù xâm lược “lấn tới, quyết tâm cướp nước ta lần
nữa”; “điên cuồng leo thang” chiến tranh…, dứt khoát chúng ta phải cầm vũ khí với
tinh thần: “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định
không chịu làm nô lệ!”, “Kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn”.
Nêu cao thiện chí hòa bình và tính
chính nghĩa luôn là bài học “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong bối cảnh “xung đột,
chiến tranh, chạy đua vũ trang công nghệ cao diễn ra ở nhiều khu vực…, không loại
trừ nguy cơ chiến tranh lớn”; “tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo, trong
đó có Biển Đông tiếp tục diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ xảy ra xung đột” -
như Đại hội Đảng lần thứ XIV đã xác định. Nắm vững bài học đó, Việt Nam sẽ “chủ
động, tích cực đóng góp vào hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển bền vững
trên tinh thần là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm
của cộng đồng quốc tế; tham gia chủ động, có trách nhiệm vào việc giải quyết
các vấn đề chung của khu vực và quốc tế”[12].
Hai
là, khơi dậy
và củng cố tinh thần kiên quyết hy sinh vì Tổ quốc của toàn dân, xây dựng khối
đại đoàn kết toàn dân - nguồn sức mạnh vô địch làm nên thắng lợi vĩ đại trong
kháng chiến, kiến quốc.
Phát động Toàn quốc kháng chiến chống
Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi “đồng bào toàn quốc”; “bất kỳ đàn ông, đàn
bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc…, đứng
lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc” với tinh thần “Thà hy sinh tất cả, chứ
nhất định không chịu mất nước”. Khơi dậy “quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”,
Chủ tịch Hồ Chí Minh động viên “toàn dân và toàn quân đoàn kết một lòng, triệu
người như một, không sợ hy sinh gian khổ, kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi
hoàn toàn”. Xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân - đó là cội
nguồn làm nên mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong bất cứ thời đại nào.
“Dân là gốc” - quan điểm đó đã được
Đảng Cộng sản Việt Nam quán triệt và vận dụng với chủ trương: “Phát huy mạnh mẽ
vai trò chủ thể của nhân dân, sức mạnh của nhân dân và khối đại đoàn kết toàn
dân tộc”; “Thực hiện nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ
nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về các
quyết định của mình”[13].
Ba là, kết
hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, vừa phát huy nội lực vừa tranh thủ sự
ủng hộ của bạn bè quốc tế
Trong kháng chiến chống Pháp và chống
Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn chăm lo tăng cường
đoàn kết quốc tế; đồng thời xác định ngoại giao là một lĩnh vực hoạt động, một
mũi tiến công có tầm quan trọng đặc biệt, liên quan mật thiết với các lĩnh vực
quân sự, chính trị. Trước khi ra “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến”
(19/12/1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có bài “Gửi đồng bào Việt Nam, người Pháp
và người thế giới” (23/11/1946); có “Lời kêu gọi gửi Quốc hội và Chính phủ
Pháp” (7/12/1946), “Lời kêu gọi Liên hợp quốc”…, nhằm tranh thủ sự ủng hộ của cộng
đồng quốc tế. 20 năm sau, trong “Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước”
(17/7/1966), Chủ tịch Hồ Chí Minh tỏ lòng “cảm ơn sự ủng hộ và giúp đỡ hết lòng
của nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa, của nhân dân tiến bộ trên thế giới, kể
cả nhân dân Mỹ”…
Quán triệt bài học về đối ngoại
trong thời đại ngày nay, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương: “Thực hiện nhất
quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác
và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; phát triển đối ngoại
trong kỷ nguyên mới, tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất
nước. Chủ động, tích cực đóng góp vào hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển
bền vững trên tinh thần là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có
trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; tham gia chủ động, có trách nhiệm vào việc
giải quyết các vấn đề chung của khu vực và quốc tế”[14].
Bốn
là, kiến tạo và không ngừng bồi đắp niềm tin tất
thắng
Hai Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở hai hoàn cảnh
khác nhau đều thể hiện rõ niềm lạc quan, tin tưởng vào thắng lợi hoàn toàn của
cuộc kháng chiến: “Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết
hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!”; “Chúng ta có chính nghĩa, có sức
mạnh đoàn kết của toàn dân từ Bắc đến Nam, có truyền thống đấu tranh bất khuất,
lại có sự đồng tình ủng hộ rộng lớn của các nước xã hội chủ nghĩa anh em và
nhân dân tiến bộ cả thế giới, chúng ta nhất định thắng!”. Trước lúc đi xa, Người
vẫn gửi lại đồng bào, đồng chí lời nhắn nhủ: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể
sẽ kéo dài mấy năm nữa. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người…
Dù khó khǎn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi”[15].
Kiên định niềm tin vào sự nghiệp
cách mạng là động lực thúc đẩy toàn quân, toàn dân vượt qua khó khăn, gian khổ
làm nên thắng lợi quyết định của công cuộc kháng chiến. Bài học đó cần được kế
thừa và phát huy hiệu quả trong kỷ nguyên mới của dân tộc, vì một nước Việt Nam
hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước
đi lên chủ nghĩa xã hội.
“Lời kêu gọi” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong
hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ không chỉ dừng lại ở vai
trò của những văn kiện chính trị hay lời hiệu triệu quốc dân, mà xét về bản chất,
đây là sự kết tinh của tư duy chiến lược bậc thầy và triết lý nhân sinh cao đẹp
của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX. Các văn kiện này đã thể hiện sự thống nhất
giữa hai giá trị cốt lõi: vừa khẳng định thiện chí hòa bình, tinh thần nhân văn
của một dân tộc yêu chuộng công lý, vừa xác lập ý chí tự chủ quyết liệt, sẵn
sàng hy sinh tất cả để bảo vệ độc lập, tự do - giá trị thiêng liêng và tối thượng
của mọi quốc gia dân tộc.
Sức sống trường tồn của hai Lời kêu
gọi nằm ở việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa sức mạnh nội tại và xu thế
thời đại. Bằng cách đặt con người và khối đại đoàn kết toàn dân vào vị trí
trung tâm của động lực cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chuyển hóa những chân
lý giản dị như “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” thành sức mạnh để chiến thắng
những đối thủ có ưu thế vượt trội về quân sự. Những giá trị đó góp phần củng cố
sức mạnh tinh thần, đồng thời cần được xem xét trong mối quan hệ với đường lối
lãnh đạo, tổ chức lực lượng, điều kiện lịch sử và sự ủng hộ quốc tế để lý giải
đầy đủ thắng lợi của hai cuộc kháng chiến.
Trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước
đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới với nhiều cơ hội và thách thức đan xen,
những bài học rút ra từ di sản văn kiện trên vẫn vẹn nguyên giá trị thời sự. Việc
kế thừa thiện chí hòa bình gắn liền với tinh thần cảnh giác cách mạng, phát huy
sức mạnh nội lực của nhân dân kết hợp với đa phương hóa quan hệ đối ngoại là
chìa khóa để Việt Nam định vị vị thế chiến lược trên trường quốc tế. Đó không
chỉ là sự tiếp nối về mặt lịch sử, mà còn là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ
Chí Minh để kiến tạo một quốc gia hòa bình, tự cường và phát triển bền vững.
Chú thích:
[1] Hồ
Chí Minh, Toàn tập, Tập 3, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội,
2011, tr. 20-22, 232, 595.
[2] Hồ
Chí Minh, Toàn tập, Tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội,
2011, tr. 10, 89, 90, 100.
[3] Hồ
Chí Minh, Toàn tập, Tập 9, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.
1, 35, 79, 182.
[4] Hồ
Chí Minh, Toàn tập, tập 15, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011,
tr. 130-133.
[5] Hồ
Chí Minh, Toàn tập, tập 4, sđd, tr. 75-77.
[6] Hồ
Chí Minh, Toàn tập, tập 4, sđd, tr. 231, 238, 519.
[7] Báo
Cứu quốc số 85 ngày 7/11/1945.
[8] Báo
Cứu quốc số 188 ngày 16/3/1946
[9] Báo
Cứu quốc số 414 ngày 23/11/1946.
[10] Hồ
Chí Minh, Toàn tập, tập 4, sđd, tr. 522.
[11] Hồ
Chí Minh, Toàn tập, tập 15, sđd., 511-513. Đây cũng là văn bản có tiêu đề “Lời
kêu gọi” cuối cùng của Bác trong Hồ Chí Minh - Toàn tập.
[13] Đảng
Cộng sản Việt Nam - Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XIV, tlđd.
[14] Đảng
Cộng sản Việt Nam, Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XIV, tlđd.
[15] Hồ
Chí Minh, Toàn tập, tập 15, sđd, tr. 612-613.