image banner

QUAN ĐIỂM “DÂN LÀ GỐC” VÀ VIỆC PHÁT HUY VAI TRÒ LÀM CHỦ CỦA NHÂN DÂN TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức rõ vai trò và sức mạnh của nhân dân: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” và từ nhận thức đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành thắng lợi sự nghiệp đấu tranh giành độc lập và giải phóng dân tộc. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Đảng tiếp tục xác định: “Quán triệt sâu sắc quan điểm “Dân là gốc”, “Nhân dân là chủ thể, là trung tâm” và từ quan điểm “Dân là gốc”, Đảng thực hiện chủ trương “lấy Dân làm gốc”, xác định toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ nguyện vọng và lợi ích chính đáng của nhân dân; dựa vào nhân dân, phát huy vai trò làm chủ, tinh thần trách nhiệm, sức sáng tạo và mọi nguồn lực của nhân dân; huy động sức mạnh toàn dân thực hiện thành công công cuộc đổi mới, xây dựng nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.  
 

1. Đặt vấn đề

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức rõ vai trò và sức mạnh của nhân dân: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” và từ nhận thức đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành thắng lợi sự nghiệp đấu tranh giành độc lập và giải phóng dân tộc.

Bước vào kỷ nguyên mới của đất nước, Đảng tiếp tục: “Quán triệt sâu sắc quan điểm “Dân là gốc”, “Nhân dân là chủ thể, là trung tâm” của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ quan điểm “Dân là gốc” của nước, Đảng chủ trương “lấy Dân làm gốc”, xác định toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ nguyện vọng và lợi ích chính đáng của Nhân dân; phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, huy động mọi tiềm lực của Nhân dân thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đồng bộ và toàn diện đất nước.

2. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Bài viết tiếp cận hệ thống quan điểm xuyên suốt của Đảng về vai trò, vị trí của Nhân dân từ khi Đảng lãnh đạo sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc đến Đại hội XIV hiện nay; đồng thời, tiếp cận theo quá trình phát triển cũng như nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam, nhất là trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Bài viết sử dụng phương pháp lịch sử và logic; đồng thời kết hợp với các phương pháp liên ngành khác để so sánh và phân tích vấn đề.

3. Kết quả và thảo luận

3.1. Quan điểm “Dân là gốc” và chủ trương “lấy Dân làm gốc” của Đảng

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức được vai trò to lớn của Nhân dân, coi “Dân là gốc của nước”, là cơ sở của mọi thắng lợi. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” (Hồ Chí Minh toàn tập, 2011b: 453). Do vậy, theo Người, muốn cách mạng thành công, phải phát huy sức mạnh của Nhân dân thông qua việc tập hợp, đoàn kết Nhân dân dưới ngọn cờ của Đảng: “Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta. Đoàn kết chặt chẽ, thì chúng ta nhất định có thể khắc phục mọi khó khăn, phát triển mọi thuận lợi và làm trọn nhiệm vụ nhân dân giao phó cho chúng ta” (Hồ Chí Minh toàn tập, 2011a: 145).

Từ kinh nghiệm lãnh đạo thành công cuộc đấu tranh giành độc lập và giải phóng dân tộc, đem lại hòa bình, thống nhất Tổ quốc, năm 1986, tại Đại hội lần thứ VI - Đại hội mở đầu công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Đảng khẳng định: “Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2007a: 362). Đại hội lần thứ VIII của Đảng khẳng định vai trò của nhân dân: “Chính những ý kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân là nguồn gốc hình thành đường lối đổi mới của Đảng. Cũng do nhân dân hưởng ứng đường lối đổi mới, dũng cảm phấn đấu, vượt qua biết bao khó khăn, thử thách mà công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu hôm nay” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2007b: 360). Năm 2006, sau 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Đại hội lần thứ X của Đảng tiếp tục khẳng định: “Đại đoàn kết toàn dân tộc phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội. Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc”; Đảng xác định cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”, gắn với phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Đến năm 2016, công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, Đại hội lần thứ XII của Đảng đã đúc kết: “Đổi mới phải luôn luôn quán triệt quan điểm “dân là gốc”, vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò làm chủ, tinh thần trách nhiệm, sức sáng tạo và mọi nguồn lực của nhân dân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016: 69). Năm 2021, tại Đại hội lần thứ XIII, Đảng khẳng định đặt Nhân dân ở vị trí trung tâm, là chủ thể trong chiến lược phát triển đất nước, phải khơi thông những nguồn lực và sự sáng tạo của nhân dân, tạo sự chuyển động tích cực của nhân dân: “Mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu, củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”. Đại hội đã bổ sung phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, “phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021: 96).

Năm 2026, tại Đại hội đại biểu lần thứ XIV, Đảng một lần nữa khẳng định: “Quán triệt sâu sắc quan điểm “Dân là gốc”, Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của Nhân dân; lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2026).

Vai trò và quyền làm chủ của Nhân dân cũng đã được cụ thể hóa tại Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”. “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”; Hiến pháp quy định rõ: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”. Về vai trò của Đảng, Hiến pháp quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình” (Hiến pháp nước CHXHCNVN, 2014: 7-8).

Nội dung “quyền làm chủ của Nhân dân” được Đảng xác định phải được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đó là quyền và nghĩa vụ tham gia ý kiến vào quá trình hoạch định đường lối, chính sách, quyết định những vấn đề lớn và quan trọng của đất nước; tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, giám sát và phản biện xã hội; phát huy tinh thần lao động sáng tạo trong sản xuất, các phong trào thi đua yêu nước; thực hiện dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, nhất là dân chủ ở cơ sở. Phát huy quyền làm chủ của Nhân dân gắn với việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng của khối liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích; bảo đảm công bằng, bình đẳng giữa các dân tộc, giai cấp, tầng lớp xã hội và mỗi người dân trong tiếp cận cơ hội và thụ hưởng thành quả phát triển; nêu cao ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân, cộng đồng với quốc gia - dân tộc.

Phát huy quyền làm chủ của Nhân dân được Đảng xác định là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, từ Đảng, Nhà nước đến Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể xã hội. Để Nhân dân thực hiện quyền làm chủ, Đảng chủ trương xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách về quyền làm chủ của Nhân dân, thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; thực hiện nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về các quyết định của mình. Cấp ủy, tổ chức đảng, các tổ chức trong hệ thống chính trị, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức nêu gương thực hành dân chủ, tuân thủ pháp luật, trách nhiệm, đạo đức xã hội. Phát huy dân chủ phải đi đôi với tăng cường trách nhiệm, trật tự, kỷ cương xã hội; tăng cường đồng thuận xã hội gắn với đề cao ý thức trách nhiệm của công dân; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm quyền làm chủ của Nhân dân, lợi dụng dân chủ chống phá Đảng, Nhà nước, làm mất ổn định chính trị - xã hội, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xâm phạm quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, năm 2021, Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã đề ra cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội làm nòng cốt để nhân dân làm chủ”. Tiếp đó, ngày 24-11-2023, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII ra Nghị quyết số 43-NQ/TW “Về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”, trong đó nêu rõ: “Đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức hoạt động để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực sự là liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện đại diện cho ý chí, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2023).

Năm 2026, tại Đại hội lần thứ XIV, Đảng tiếp tục khẳng định: “Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, phát huy vai trò nòng cốt chính trị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp trong phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, tập hợp, phát huy mọi nguồn lực, năng lực sáng tạo của Nhân dân và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2026).

Ðường lối, chủ trương của Ðảng về vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc cũng được thể chế hóa bằng các chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã hiến định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Hiến pháp nước CHXHCNVN, 2014: 11).

3.2. Phát huy vai trò làm chủ của Nhân dân trong kỷ nguyên mới của đất nước 

Đến nay, sau 40 năm thực hiện công cuộc Đổi mới, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam được nâng lên, là nền tảng quan trọng để đất nước vươn mình trong kỷ nguyên mới. Kinh tế, xã hội có bước phát triển toàn diện, vượt bậc; đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân được nâng cao. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố, tăng cường.

Năm 2025, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội được tổ chức, sắp xếp lại, bảo đảm hoạt động thống nhất, hiệu quả, phát huy sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Quyền làm chủ của Nhân dân đã được phát huy đầy đủ hơn; quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân được chăm lo, bảo vệ. Dân chủ cơ sở, dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện được đẩy mạnh, chất lượng giám sát, phản biện xã hội được nâng cao.

Tuy vậy, việc phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong thời gian qua còn một số hạn chế. Việc cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở một số lĩnh vực, địa bàn kết quả còn thấp; nhiều nguồn lực trong nhân dân chưa được phát huy hiệu quả; đời sống của một bộ phận nhân dân còn khó khăn; khoảng cách giữa các vùng miền, khu vực còn lớn. Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” chưa được cụ thể hóa kịp thời; quyền làm chủ của nhân dân có nơi còn bị vi phạm; khối đại đoàn kết toàn dân tộc, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân có lúc, có nơi chưa gắn bó chặt chẽ. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội chưa phát huy hết vai trò trong tập hợp, đoàn kết các tầng lớp nhân dân; chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm đại diện quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân; hoạt động giám sát, phản biện xã hội chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Trong những năm tới, Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, có những mặt gay gắt hơn trước. Tình hình thế giới dự báo sẽ tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, các trung tâm quyền lực có sự điều chỉnh mạnh, vừa cạnh tranh, vừa hợp tác, thỏa hiệp, song cạnh tranh sẽ ngày càng gay gắt hơn. Các thách thức toàn cầu tác động bất lợi đến an ninh và phát triển của các nước. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ và tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Ở trong nước, kinh tế - xã hội phát triển chưa thật sự bền vững; bốn nguy cơ mà Đảng chỉ ra có mặt còn diễn biến phức tạp. Nguy cơ tụt hậu, nhất là về công nghệ; biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh ngày càng gay gắt. Tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trên một số lĩnh vực vẫn còn diễn biến phức tạp, nghiêm trọng. Các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện nhiều thủ đoạn, âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta.

Tình hình đó đòi hỏi chúng ta phải phát huy mạnh mẽ hơn nữa quyền làm chủ của Nhân dân, huy động sức mạnh toàn dân tộc để vượt qua khó khăn, thách thức, hoàn thành mục tiêu mà Đại hội Đảng lần thứ XIV đề ra. Để phát huy vai trò làm chủ của nhân dân nhằm hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Tổ quốc Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, chúng ta cần thực hiện tốt các chủ trương và giải pháp sau:

3.2.1. Về chủ trương, chính sách

Trên cơ sở quan điểm “Dân là gốc”, Đảng cần chỉ đạo thực hiện chủ trương “lấy dân làm gốc”, mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, lấy hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo và làm mục tiêu phấn đấu.

Để phát huy được sức mạnh của Nhân dân, Đảng, Nhà nước tạo mọi điều kiện về pháp lý để Nhân dân làm chủ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Hiện nay, quyền làm chủ của Nhân dân chưa được thể chế hóa đầy đủ, còn thiếu những quy định pháp lý cụ thể. Cần xây dựng cơ chế, chính sách để giải phóng mọi tiềm năng, sức sáng tạo của nhân dân; phát huy vai trò chủ thể của nhân dân tham gia phát triển kinh tế, quản lý xã hội. Xây dựng, hoàn thiện các cơ chế, hình thức phù hợp để nhân dân tham gia ý kiến đối với những vấn đề lớn và quan trọng của đất nước. Phát huy hiệu quả vai trò giám sát, phản biện xã hội và góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền của nhân dân.

Tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội làm nòng cốt để nhân dân làm chủ gắn với phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đảng, Nhà nước cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện các luật và quy định liên quan đến dân chủ cơ sở, cụ thể hóa vai trò “nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội để nhân dân làm chủ”; mối quan hệ phối hợp giữa Quốc hội, Chính phủ với Ban Thường trực Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; giữa các cấp bộ đảng, chính quyền địa phương với Mặt trận Tổ quốc cùng cấp để Nhân dân phát huy vai trò làm chủ trong việc xây dựng Đảng, Nhà nước, giám sát, phản biện xã hội cũng như trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội khác.

Nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn làm rõ những nhân tố tác động đến sự phân hóa, biến động của các giai tầng xã hội; làm rõ nội dung chung để tăng cường đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và nội dung cốt lõi của liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong tình hình mới; xây dựng và phát huy vai trò của các giai tầng xã hội như công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân, cựu chiến binh, cựu công an nhân dân, người cao tuổi; của giới thanh niên, phụ nữ; tăng cường chăm lo đời sống và xây dựng mối quan hệ đoàn kết giữa các dân tộc, giữa các tôn giáo; xây dựng và triển khai chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Tập trung phát triển kinh tế - xã hội, không ngừng cải thiện toàn diện đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân; tổ chức thực hiện tốt các chính sách xã hội, an sinh, giảm nghèo bền vững gắn với các chương trình mục tiêu quốc gia, nhất là đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đối tượng yếu thế trong xã hội. Khuyến khích làm giàu chính đáng; có cơ chế, chính sách bảo đảm sự công bằng, bình đẳng, cơ hội tiếp cận cho mỗi người dân trong quá trình phát triển, đóng góp cho sự phát triển đất nước và thụ hưởng thành quả phát triển. Tiếp tục nâng cao chính sách phúc lợi; Nhà nước, xã hội hỗ trợ, giúp đỡ cho người có hoàn cảnh khó khăn, địa bàn kinh tế - xã hội khó khăn bảo đảm an sinh.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ động nghiên cứu, đề xuất bổ sung, hoàn thiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quyền làm chủ của Nhân dân, về vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc, nhất là các chủ trương, chính sách, pháp luật tạo cơ sở pháp lý trong việc thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, tạo điều kiện để Nhân dân phát huy quyền làm chủ trong điều kiện phát triển mới của đất nước.

3.2.2. Về biện pháp thực hiện

Nâng cao nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng, hệ thống chính trị và Nhân dân về vị trí, tầm quan trọng của việc phát huy vai trò làm chủ của Nhân dân, của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn mới; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, hành động của các cấp ủy, tổ chức đảng và hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang và các tầng lớp nhân dân về việc phát huy vai trò, vị trí và sức mạnh của Nhân dân trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chủ động phát hiện, kiên quyết đấu tranh phòng, chống các âm mưu, hành động chia rẽ Nhân dân với Đảng và Nhà nước, chia rẽ và phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tiếp tục và kiên trì thực hiện công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh. Đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; thực hiện nghiêm trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng và chính quyền các cấp; thực hành và phát huy dân chủ; thực hiện nghiêm chế độ người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp định kỳ tiếp, lắng nghe và giải quyết kịp thời những nguyện vọng, kiến nghị hợp pháp, chính đáng, những vấn đề Nhân dân bức xúc, dư luận xã hội quan tâm.

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước; phát huy mạnh mẽ vai trò của Nhà nước trong xây dựng và thực hiện chính sách phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân do Đảng lãnh đạo. Xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định. Xây dựng, ban hành chính sách, pháp luật phải xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, bảo đảm phát huy quyền làm chủ của Nhân dân và giải quyết hài hòa lợi ích trong xã hội.

Hoàn thiện và thực thi nghiêm quy định về đạo đức công vụ; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín thực sự là “công bộc của dân”; mỗi cán bộ, công chức, viên chức phải thường xuyên rèn luyện và thực hành phong cách “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân”, “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”; sâu sát cơ sở, chủ động tiếp xúc, đối thoại với nhân dân, chân thành lắng nghe tâm tư, kịp thời giải quyết nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Phê phán, xử lý nghiêm minh những cán bộ, công chức, viên chức thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm, quan liêu, hách dịch, cửa quyền, nhũng nhiễu dân.

Cấp ủy và chính quyền các cấp thực hiện tốt cơ chế phối hợp và bảo đảm các điều kiện để Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và các hội quần chúng phản ánh tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân; tuyên truyền, vận động nhân dân đoàn kết, thi đua thực hiện thắng lợi những chủ trương, nhiệm vụ của Nhà nước. Tăng cường phối hợp giữa Mặt trận và chính quyền các cấp trong việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong công tác tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trên cơ sở lắng nghe và kịp thời tổng hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân cả nước đến Đảng, Nhà nước; giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân; ngăn chặn và đẩy lùi có hiệu quả nạn quan liêu, tham nhũng, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, tạo ra sự đồng thuận cao trong đời sống xã hội.  

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cả hệ thống chính trị về vị trí, vai trò của Nhân dân; tầm quan trọng của việc phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuyên truyền, phổ biến để Nhân dân hiểu về quyền làm chủ cũng như vai trò của mình trong việc xây dựng Đảng, Nhà nước, giám sát và phản biện xã hội theo phương châm: “Dân biết, Dân bàn, Dân làm, Dân kiểm tra, Dân giám sát, Dân thụ hưởng”. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác tuyên truyền, tạo lập những “cầu nối số” giữa Đảng, chính quyền với Nhân dân, đa dạng hóa hình thức tuyên truyền, tập hợp Nhân dân.

Tiếp tục phát huy tính chủ động, sáng tạo, sức mạnh vật chất, tinh thần của Nhân dân thông qua công tác vận động nhân dân tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội và củng cố mối quan hệ đoàn kết toàn dân tộc; tạo ra cơ chế để mọi người đồng thuận với nhau và đồng thuận với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước trong từng nhiệm vụ, từng giai đoạn phát triển của đất nước; tạo điều kiện để mỗi người dân đều được tôn trọng, có quyền bình đẳng như nhau, cùng tích cực phấn đấu xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho gia đình và xã hội.  

Tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận và các tổ chức đoàn thể theo mô hình tổ chức mới, hướng mạnh về cơ sở, bám sát nhu cầu thiết thực của đoàn viên, hội viên và nhân dân. Phát huy hiệu quả các mô hình tự quản và giám sát ở cơ sở do Mặt trận chủ trì; nâng cao chất lượng hiệp thương dân chủ, sự phối hợp và thống nhất hành động giữa các thành viên tổ chức và các thành viên cá nhân trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; tập hợp, phát huy tối đa vai trò, sự đóng góp của các nhà khoa học, các chuyên gia, các cá nhân tiêu biểu trong các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, các tôn giáo và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Triển khai thực hiện chuyển đổi số đồng bộ trong điều hành, quản lý, vận hành hệ thống cơ sở dữ liệu, ứng dụng công nghệ phục vụ nhân dân.

Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Cán bộ Mặt trận trước hết phải là những người có uy tín, năng lực, biết vận động và tổ chức quần chúng, có lòng nhiệt tình, tinh thần trách nhiệm cao, luôn “gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm với dân. Nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tập trung vào kỹ năng dân vận, kỹ năng chuyển đổi số và kỹ năng giám sát, phản biện chuyên sâu cho đội ngũ cán bộ Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp, nhất là cấp xã đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

4. Kết luận

Bước vào kỷ nguyên mới của đất nước, kế tục truyền thống quý báu của ông cha trong lịch sử và qua việc kinh nghiệm lãnh đạo toàn dân đấu tranh giành độc lập và giải phóng dân tộc, Đảng tiếp tục quán triệt quan điểm “Dân là gốc” của Nước và mọi công việc của Đảng phải “lấy Dân làm gốc”, phải xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng và lợi ích chính đáng của Nhân dân; phát huy quyền làm chủ của Nhân dân nhằm huy động mọi tiềm lực của Nhân dân cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Khẳng định tầm quan trọng của Nhân dân và vai trò, nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong kỷ nguyên mới, Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ rõ: “Trong giai đoạn cách mạng mới, mỗi cấp ủy, chính quyền, cán bộ, đảng viên phải tiếp tục thấm nhuần sâu sắc về vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng của đại đoàn kết toàn dân tộc và công tác Mặt trận; đề cao trách nhiệm đối với hoạt động của Mặt trận, các tổ chức chính trị - xã hội trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc làm nòng cốt để Nhân dân làm chủ”, gắn với phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”… Cấp ủy, chính quyền các cấp tiếp tục quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và phối hợp chặt chẽ, thường xuyên hơn nữa với Mặt trận chân thành, cầu thị, lắng nghe, tận tâm, tận lực giải quyết công việc của dân. Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện chủ trương, chính sách, pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực, phát huy tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc, sức sáng tạo của các giai tầng xã hội, mọi tổ chức và cá nhân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” (Tô Lâm, 2024: 8).

Trước tình hình và yêu cầu mới của đất nước, với quan điểm và sự chỉ đạo đúng đắn của Đảng, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, quyền làm chủ của Nhân dân sẽ được phát huy cao độ, tạo nên sức mạnh vô địch, đưa dân tộc ta vượt qua khó khăn, thách thức, tranh thủ thời cơ, vận hội mới, tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh, thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội” như Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng đã đề ra.


Tài liệu tham khảo: 

1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng. (2023). Nghị quyết số 43-NQ/TW ngày 24-11-2023 “Về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”.

2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng. (2026). Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Truy cập ngày 03-03-2026, https://baochinhphu.vn/van-kien-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiv-cua-dang-102260206213400242.htm.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2007a). Văn kiện Đảng toàn tập. Tập 47. Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2007b). Văn kiện Đảng toàn tập. Tập 55. Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật.

5. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Hà Nội: Văn phòng Trung ương Đảng.

6. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập 1. Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật.

7. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (2014). Hà Nội: Nxb. Hà Nội.

8. Hồ Chí Minh toàn tập. Tập 9. (2011a). Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia.

9. Hồ Chí Minh toàn tập. Tập 10. (2011b). Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia.

10. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. (2024). Phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hà Nội, ngày 17-10-2024. Tạp chí Mặt trận. Số 254, tháng 10-2024: tr.8.

Avatar: Bác Hồ bắt tay thăm hỏi các cụ già khi về thăm Pác Bó (Xuân Tân Sửu 1961). Nguồn: https://lsvn.vn/bai-2-bai-hoc-lay-dan-lam-goc-trong-hoat-dong-cua-quoc-hoi-va-hoi-dong-nhan-dan-a149021.html, truy cập 22-10-2026.

 

Bài đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 6-2026.

PGS.TS. Nguyễn Văn Nhật, Viện Sử học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; TS. Đinh Văn Trọng, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng.
Tin nổi bật
  • Bộ sách gồm 10 tập, Viện Sử học dịch, Nxb KHXH xuất bản.
    23/04/2013
  • Đại Nam nhất thống chí đời Tự Đức là bộ sách địa lý học Việt Nam đầy đủ nhất dưới thời phong kiến. Đại Nam nhất thống chí theo bộ Đại Thanh nhất thống chí của Trung Quốc mà chia ra các mục như: phương vi, phân dã, kiến trí, duyên cách, phủ huyện, hình thế, khí hậu, phong tục, thành trì, học hiệu, hộ khẩu, điền phú, sơn xuyên, quan tấn, dịch trạm, thị lập, tứ miếu, tự quán, phân việt, thổ sản, v.v... Ngoài ra, Đại Nam nhất thống chí còn có quyển chép riêng về Cao Miên (Campuchia), Xiêm La, Miến Điện, Nam Chưởng, Vạn Tượng.
    22/04/2013
  • Trong tập sách này, các tác giả không chỉ trình bày các sự kiện về quân sự, chính trị mà còn nêu lên nhiều sự kiện khác thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại....
    27/09/2012
  • "Việt Nam những sự kiện lịch sử (Từ khởi thủy đến 1858)" là cuốn sách ghi lại các sự kiện lịch sử nước nhà từ khởi thủy đến khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược vào giữa thế kỷ XIX.
    27/09/2012
  • Đại Nam liệt truyện là một bộ sách có quy mô khá đồ sộ trong kho tàng thư tịch cổ viết bằng chữ Hán của Việt Nam, do cơ quan làm sử chính thức của nhà Nguyễn là Quốc sử quán biên soạn vào giữa thế kỷ XIX.
    24/09/2012
  • Lịch triều hiến chương loại chí là bộ bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam. Có nghĩa là Phép tắc các triều đại chép theo thể phân loại do Phan Huy Chú soạn trong 10 năm (1809-1819).
    23/09/2012
  • Là bộ sử có giá trị to lớn và quan trọng bậc nhất trong nền sử học Việt Nam thời kỳ cổ trung đại. Bộ chính sử do Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê biên soạn.
    22/09/2012
  • Cuốn sách Cổ luật Việt Nam gốm 2 bộ Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ. Quốc triều hình luật (còn gọi là bộ luật Hồng Đức) và Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là bộ luật Gia Long) là hai bộ cổ luật duy nhất còn lại cho đến nay của các triều đại phong kiến Việt Nam; là những di sản quý giá có giá trị tham khảo về nhiều mặt cho chúng ta ngày nay.
    19/09/2012
  • Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ là một bộ sách được biên soạn dưới triều Nguyễn theo thể loại Hội điển. Thể loại này được đặt ra nhằm ghi chép lại các điển pháp, quy chuẩn và các dữ kiện liên quan đến tổ chức và hoạt động của một triều đại, một Nhà nước.
    19/09/2012
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1