1. Đặt vấn đề
Sinh thời, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã nhận thức rõ vai trò và sức mạnh của nhân
dân: “Trong bầu trời không có gì quý bằng
nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” và từ nhận thức đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh và
Đảng đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành
thắng lợi sự nghiệp đấu tranh giành độc lập và giải phóng dân tộc.
Bước vào kỷ nguyên mới của đất nước, Đảng tiếp
tục: “Quán triệt sâu sắc quan điểm “Dân là gốc”, “Nhân dân là chủ thể, là
trung tâm” của sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ quan điểm “Dân là gốc” của nước, Đảng chủ trương
“lấy Dân làm gốc”, xác định toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ nguyện vọng và lợi ích chính đáng của Nhân dân; phát huy
quyền làm chủ của Nhân dân, huy động mọi tiềm lực của Nhân dân thực hiện thắng
lợi công cuộc đổi mới đồng bộ và toàn diện đất nước.
2. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Bài viết tiếp cận hệ thống quan điểm xuyên suốt của Đảng về vai trò, vị
trí của Nhân dân từ khi Đảng lãnh đạo sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc
đến Đại hội XIV hiện nay; đồng thời, tiếp cận theo quá trình phát triển cũng
như nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam, nhất là trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Bài viết sử
dụng phương pháp lịch sử và logic; đồng thời kết hợp với các phương pháp liên
ngành khác để so sánh và phân tích vấn đề.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Quan điểm “Dân là gốc” và chủ trương “lấy Dân làm gốc” của
Đảng
Trong suốt
quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng
sản Việt Nam đã nhận thức được vai trò to lớn của Nhân dân, coi “Dân là gốc của
nước”, là cơ sở của mọi thắng lợi. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Trong
bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng
lực lượng đoàn kết của nhân dân” (Hồ Chí Minh
toàn tập, 2011b: 453). Do vậy, theo Người, muốn cách mạng thành công, phải phát
huy sức mạnh của Nhân dân thông qua việc tập hợp, đoàn kết Nhân dân dưới ngọn
cờ của Đảng: “Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta. Đoàn kết chặt chẽ, thì chúng
ta nhất định có thể khắc phục mọi khó khăn, phát triển mọi thuận lợi và làm
trọn nhiệm vụ nhân dân giao phó cho chúng ta” (Hồ Chí Minh toàn tập,
2011a: 145).
Từ kinh nghiệm lãnh đạo thành công cuộc đấu tranh giành độc lập và giải
phóng dân tộc, đem lại hòa bình, thống nhất Tổ quốc, năm 1986, tại Đại hội lần
thứ VI - Đại hội mở đầu công cuộc đổi mới toàn
diện đất nước, Đảng khẳng định: “Trong toàn
bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”,
xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động” (Đảng Cộng sản Việt
Nam, 2007a: 362). Đại hội lần thứ VIII của Đảng khẳng định vai trò của
nhân dân: “Chính những ý kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân là nguồn
gốc hình thành đường lối đổi mới của Đảng. Cũng do nhân dân hưởng ứng đường lối
đổi mới, dũng cảm phấn đấu, vượt qua biết bao khó khăn, thử thách mà công cuộc
đổi mới đạt được những thành tựu hôm nay” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2007b: 360).
Năm 2006, sau 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Đại hội lần thứ X của
Đảng tiếp tục khẳng định: “Đại đoàn kết toàn dân tộc phải dựa trên cơ sở giải
quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội. Đoàn kết trong
Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân
tộc”; Đảng xác định cơ chế “Đảng lãnh
đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”, gắn với phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Đến năm
2016, công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, Đại
hội lần thứ XII của Đảng đã đúc kết: “Đổi mới phải luôn luôn quán
triệt quan điểm “dân là gốc”, vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát
huy vai trò làm chủ, tinh thần trách nhiệm, sức sáng tạo và mọi nguồn lực của nhân
dân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016: 69). Năm 2021, tại
Đại hội lần thứ XIII, Đảng khẳng định đặt Nhân dân ở vị trí trung tâm, là chủ
thể trong chiến lược phát triển đất nước, phải khơi thông những nguồn lực
và sự sáng tạo của nhân dân, tạo sự chuyển động tích cực của nhân dân: “Mọi chủ
trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi
ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân
dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm
mục tiêu phấn đấu, củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng,
Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”. Đại hội đã
bổ sung phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám
sát, dân thụ hưởng”, “phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, dân chủ
xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân” (Đảng Cộng sản
Việt Nam, 2021: 96).
Năm 2026, tại
Đại hội đại biểu lần thứ XIV, Đảng một lần nữa khẳng định: “Quán
triệt sâu sắc quan điểm “Dân là gốc”, Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của
công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mọi chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi
ích chính đáng, hợp pháp của Nhân dân; lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ
quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân làm
thước đo và mục tiêu phấn đấu” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng,
2026).
Vai trò và quyền làm chủ của Nhân dân cũng đã được cụ thể hóa tại Hiến
pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013: “Nhà nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân,
do Nhân dân, vì Nhân dân”. “Nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực nhà nước
thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với
giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”; Hiến pháp quy định rõ: “Nhà nước bảo
đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và
bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh
phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”. Về vai trò của Đảng, Hiến pháp quy
định: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân,
chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết
định của mình” (Hiến pháp nước CHXHCNVN, 2014: 7-8).
Nội dung
“quyền làm chủ của Nhân dân” được Đảng xác định phải được thực hiện trên tất cả
các lĩnh vực của đời sống xã hội, đó là quyền và nghĩa vụ tham gia ý kiến vào
quá trình hoạch định đường lối, chính sách, quyết định những vấn đề lớn và quan
trọng của đất nước; tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, giám sát và phản
biện xã hội; phát huy tinh thần lao động sáng tạo trong sản xuất, các phong
trào thi đua yêu nước; thực hiện dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, nhất là
dân chủ ở cơ sở. Phát huy quyền làm chủ của Nhân dân gắn với việc xây dựng khối
đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng của khối liên minh giữa giai cấp công
nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo;
giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích; bảo đảm công bằng, bình đẳng giữa các
dân tộc, giai cấp, tầng lớp xã hội và mỗi người dân trong tiếp cận cơ hội và
thụ hưởng thành quả phát triển; nêu cao ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân,
cộng đồng với quốc gia - dân tộc.
Phát huy quyền làm chủ của Nhân dân được Đảng xác định là trách nhiệm của
cả hệ thống chính trị, từ Đảng, Nhà nước đến Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
xã hội. Để Nhân dân thực hiện quyền làm chủ, Đảng chủ trương xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách về quyền làm chủ của Nhân
dân, thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở và phương châm “Dân biết, dân bàn,
dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; thực hiện nguyên tắc Đảng
gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân,
chịu trách nhiệm trước Nhân dân về các quyết định của mình. Cấp ủy, tổ chức
đảng, các tổ chức trong hệ thống chính trị,
cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức nêu gương thực hành dân chủ, tuân thủ
pháp luật, trách nhiệm, đạo đức xã hội. Phát huy dân chủ phải đi đôi với tăng
cường trách nhiệm, trật tự, kỷ cương xã hội; tăng cường đồng thuận xã hội gắn
với đề cao ý thức trách nhiệm của công dân; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm
quyền làm chủ của Nhân dân, lợi dụng dân chủ chống phá Đảng, Nhà nước, làm mất
ổn định chính trị - xã hội, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xâm phạm
quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Đối với Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam, năm 2021, Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã đề ra cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà
nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội làm nòng cốt
để nhân dân làm chủ”. Tiếp đó, ngày
24-11-2023, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII ra
Nghị quyết số 43-NQ/TW “Về tiếp tục
phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta
ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”, trong đó nêu rõ: “Đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức
hoạt động để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực sự là liên minh chính trị, liên
hiệp tự nguyện đại diện cho ý chí, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp,
chính đáng của Nhân dân” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2023).
Năm 2026, tại
Đại hội lần thứ XIV, Đảng tiếp tục khẳng định: “Tiếp tục đổi mới nội
dung, phương thức hoạt động, phát huy vai trò nòng cốt chính trị của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, xã hội
- nghề nghiệp trong phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, tập hợp, phát huy mọi
nguồn lực, năng lực sáng tạo của Nhân dân và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc
trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc” (Ban Chấp hành
Trung ương Đảng, 2026).
Ðường lối,
chủ trương của Ðảng về vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
trong việc phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, xây dựng khối đại đoàn kết toàn
dân tộc cũng được thể chế hóa bằng các chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hiến pháp nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã hiến định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính
trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính
đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực
hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham
gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc” (Hiến
pháp nước CHXHCNVN, 2014: 11).
3.2. Phát huy
vai trò làm chủ của Nhân dân trong kỷ nguyên mới của đất nước
Đến nay, sau
40 năm thực hiện công cuộc Đổi mới, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế
của Việt Nam được nâng lên, là nền tảng quan trọng để đất nước vươn mình trong
kỷ nguyên mới. Kinh tế,
xã hội có bước phát triển toàn diện, vượt bậc; đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân được nâng cao. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố, tăng cường.
Năm 2025, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội được
tổ chức, sắp xếp lại, bảo đảm hoạt động thống nhất, hiệu quả, phát huy sức mạnh
của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Quyền làm chủ của Nhân dân đã
được phát huy đầy đủ hơn; quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân
được chăm lo, bảo vệ. Dân chủ cơ sở, dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện được
đẩy mạnh, chất lượng giám sát, phản biện xã hội được nâng cao.
Tuy
vậy, việc phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong thời gian qua còn một số
hạn chế. Việc cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các chủ
trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế - xã
hội, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở một số lĩnh vực, địa
bàn kết quả còn thấp; nhiều nguồn lực trong nhân dân chưa được phát huy hiệu
quả; đời sống của một bộ phận nhân dân còn khó khăn; khoảng cách giữa các vùng
miền, khu vực còn lớn. Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước
quản lý, Nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân
kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” chưa được cụ thể hóa
kịp thời; quyền làm chủ
của nhân dân có nơi còn bị vi phạm; khối
đại đoàn kết toàn dân tộc, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân có lúc, có nơi chưa gắn bó chặt
chẽ. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức
chính trị - xã hội chưa phát huy hết vai trò trong tập hợp, đoàn kết các tầng
lớp nhân dân; chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm đại diện quyền, lợi ích hợp
pháp, chính đáng của người dân; hoạt động giám sát, phản biện xã hội chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Trong những
năm tới, Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, có những mặt gay gắt hơn trước. Tình hình thế giới dự báo sẽ
tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường. Cạnh tranh chiến lược giữa các
nước lớn, các trung tâm quyền lực có sự điều chỉnh mạnh, vừa cạnh tranh, vừa
hợp tác, thỏa hiệp, song cạnh tranh sẽ ngày càng gay gắt hơn. Các thách thức
toàn cầu tác động bất lợi đến an ninh và phát triển của các nước. Cuộc cách
mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ và tác động sâu sắc đến mọi lĩnh
vực đời sống xã hội. Ở trong nước, kinh tế - xã hội phát triển chưa thật sự bền
vững; bốn nguy cơ mà Đảng chỉ ra có mặt còn diễn biến phức tạp. Nguy cơ tụt
hậu, nhất là về công nghệ; biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh ngày càng gay
gắt. Tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trên một số lĩnh vực vẫn còn diễn biến phức
tạp, nghiêm trọng. Các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện nhiều thủ đoạn, âm
mưu chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta.
Tình hình đó đòi hỏi chúng ta phải phát huy mạnh mẽ hơn nữa quyền làm chủ của Nhân dân, huy động sức
mạnh toàn dân tộc để vượt qua khó khăn, thách thức, hoàn thành mục tiêu mà Đại
hội Đảng lần thứ XIV đề ra. Để phát huy vai trò làm chủ của nhân dân nhằm hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Tổ quốc
Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, chúng ta cần thực hiện tốt
các chủ trương và giải pháp sau:
3.2.1. Về chủ
trương, chính sách
Trên cơ sở quan điểm “Dân là gốc”, Đảng cần
chỉ đạo thực hiện chủ trương “lấy dân làm gốc”, mọi chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng và lợi
ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, lấy hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân
dân làm thước đo và làm mục tiêu phấn đấu.
Để phát huy được sức mạnh của Nhân dân, Đảng, Nhà nước tạo mọi điều kiện về pháp lý để Nhân dân làm chủ
trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Hiện nay, quyền làm chủ của Nhân
dân chưa được thể chế hóa đầy đủ, còn thiếu những quy định pháp lý cụ thể. Cần
xây dựng cơ chế, chính sách để giải phóng mọi tiềm năng, sức sáng tạo của nhân
dân; phát huy vai trò chủ thể của nhân dân tham gia phát triển kinh tế, quản lý
xã hội. Xây dựng, hoàn thiện các cơ chế, hình thức phù hợp để nhân dân tham gia
ý kiến đối với những vấn đề lớn và quan
trọng của đất nước. Phát huy hiệu quả vai trò giám sát, phản biện xã hội và góp
ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền của nhân dân.
Tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc và các
tổ chức chính trị - xã hội làm nòng cốt để nhân dân làm chủ gắn với phương châm “Dân biết, dân bàn, dân
làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đảng, Nhà nước cần tiếp tục bổ
sung, hoàn thiện các luật và quy định liên quan đến dân chủ cơ sở, cụ thể hóa
vai trò “nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã
hội để nhân dân làm chủ”; mối quan hệ phối hợp giữa Quốc hội, Chính phủ với Ban
Thường trực Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; giữa các cấp bộ đảng, chính quyền địa
phương với Mặt trận Tổ quốc cùng cấp để Nhân dân phát huy vai trò làm chủ trong
việc xây dựng Đảng, Nhà nước, giám sát, phản biện xã hội cũng như trong các
lĩnh vực kinh tế, xã hội khác.
Nghiên cứu lý
luận, tổng kết thực tiễn làm rõ những nhân tố tác động đến sự phân hóa, biến
động của các giai tầng xã hội; làm rõ nội
dung chung để tăng cường đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh đại đoàn
kết toàn dân tộc và nội dung cốt lõi của liên minh giai cấp công nhân với giai
cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong tình hình mới; xây dựng và phát huy
vai trò của các giai tầng xã hội như công nhân, nông dân, trí thức,
doanh nhân, cựu chiến binh, cựu công an nhân dân, người cao tuổi; của
giới thanh niên, phụ nữ; tăng cường chăm lo đời sống và xây dựng mối
quan hệ đoàn kết giữa các dân tộc, giữa các tôn giáo; xây dựng và
triển khai chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc đến năm 2030, tầm nhìn đến năm
2045.
Tập trung
phát triển kinh tế - xã hội, không ngừng cải thiện toàn diện đời sống vật chất
và tinh thần của Nhân dân; tổ chức thực hiện tốt
các chính sách xã hội, an sinh, giảm nghèo bền vững gắn với các chương trình
mục tiêu quốc gia, nhất là đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế
- xã hội đặc biệt khó khăn, đối tượng yếu thế trong xã hội. Khuyến khích làm
giàu chính đáng; có cơ chế, chính sách bảo đảm sự công bằng, bình đẳng, cơ hội
tiếp cận cho mỗi người dân trong quá trình phát triển, đóng góp cho sự phát
triển đất nước và thụ hưởng thành quả phát triển. Tiếp tục nâng cao chính sách
phúc lợi; Nhà nước, xã hội hỗ trợ, giúp đỡ cho người có hoàn cảnh khó khăn, địa
bàn kinh tế - xã hội khó khăn bảo đảm an sinh.
Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam chủ động nghiên cứu, đề xuất
bổ sung, hoàn thiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quyền làm chủ của Nhân dân, về vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc, nhất là các chủ trương, chính sách, pháp
luật tạo cơ sở pháp lý trong việc thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, tạo điều kiện để Nhân dân
phát huy quyền làm chủ trong điều kiện phát triển mới
của đất nước.
3.2.2. Về
biện pháp thực hiện
Nâng cao nhận
thức của các cấp ủy, tổ chức đảng, hệ thống chính trị và Nhân dân về vị trí,
tầm quan trọng của việc phát huy vai trò làm chủ của Nhân dân, của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn mới; tạo
sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, hành động của các cấp ủy, tổ chức đảng
và hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, cán bộ,
chiến sĩ lực lượng vũ trang và các tầng lớp nhân dân về việc phát huy vai trò,
vị trí và sức mạnh của Nhân dân trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc. Chủ động phát hiện, kiên quyết đấu tranh phòng, chống các âm mưu, hành
động chia rẽ Nhân dân với Đảng và Nhà nước, chia rẽ và phá hoại khối đại đoàn
kết toàn dân tộc.
Tiếp tục và
kiên trì thực hiện công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thực
sự trong sạch, vững mạnh. Đẩy mạnh công tác đấu
tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán
bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự
diễn biến”, “tự chuyển hóa”; thực hiện nghiêm trách nhiệm nêu gương của cán bộ,
đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng và chính quyền các cấp;
thực hành và phát huy dân chủ; thực hiện nghiêm chế độ người đứng đầu cấp ủy,
chính quyền các cấp định kỳ tiếp, lắng nghe và giải quyết kịp thời những nguyện
vọng, kiến nghị hợp pháp, chính đáng, những vấn đề Nhân dân bức xúc, dư luận xã
hội quan tâm.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt
động của Nhà nước; phát huy mạnh mẽ vai trò của
Nhà nước trong xây dựng và thực hiện chính sách phát huy quyền làm chủ của Nhân
dân. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân do Đảng lãnh đạo.
Xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi,
công khai, minh bạch, ổn định. Xây dựng, ban hành chính sách, pháp luật phải
xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng
của Nhân dân, bảo đảm phát huy quyền làm chủ của Nhân dân và giải quyết hài hòa
lợi ích trong xã hội.
Hoàn thiện và thực thi nghiêm quy định về
đạo đức công vụ; xây dựng đội ngũ cán bộ,
công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín thực sự là “công bộc của
dân”; mỗi cán bộ, công chức, viên chức phải thường xuyên rèn luyện và thực hành
phong cách “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân”,
“nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”; sâu sát cơ sở, chủ động tiếp xúc,
đối thoại với nhân dân, chân thành lắng nghe tâm tư, kịp thời giải quyết nguyện
vọng hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Phê
phán, xử lý nghiêm minh những cán bộ, công chức, viên chức thờ ơ, vô cảm,
thiếu trách nhiệm, quan liêu, hách dịch, cửa quyền, nhũng nhiễu dân.
Cấp ủy và
chính quyền các cấp thực hiện tốt cơ chế phối hợp và bảo đảm các điều kiện để Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính
trị - xã hội và các hội quần chúng phản ánh tâm tư, nguyện vọng của các tầng
lớp nhân dân; tuyên truyền, vận động nhân dân đoàn kết, thi đua thực hiện thắng
lợi những chủ trương, nhiệm vụ của Nhà nước. Tăng cường phối hợp giữa
Mặt trận và chính quyền các cấp trong việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân
trong công tác tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trên cơ sở lắng
nghe và kịp thời tổng hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân cả nước đến Đảng, Nhà
nước; giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp,
chính đáng của công dân; ngăn chặn và đẩy lùi có hiệu quả nạn quan liêu, tham
nhũng, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, tạo ra sự đồng thuận
cao trong đời sống xã hội.
Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức
của cả hệ thống chính trị về vị trí, vai trò của
Nhân dân; tầm quan trọng của việc phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong
công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuyên truyền, phổ biến để Nhân dân
hiểu về quyền làm chủ cũng như vai trò của mình trong việc xây dựng Đảng, Nhà
nước, giám sát và phản biện xã hội theo phương châm: “Dân biết, Dân bàn, Dân
làm, Dân kiểm tra, Dân giám sát, Dân thụ hưởng”. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ
thông tin, chuyển đổi số trong công tác tuyên truyền, tạo lập những “cầu nối
số” giữa Đảng, chính quyền với Nhân dân, đa dạng hóa hình thức tuyên truyền,
tập hợp Nhân dân.
Tiếp tục phát
huy tính chủ động, sáng tạo, sức mạnh vật chất, tinh thần của Nhân dân thông qua công tác vận động nhân dân tích cực tham gia các
phong trào thi đua yêu nước, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế -
xã hội và củng cố mối quan hệ đoàn kết toàn dân tộc; tạo ra cơ chế để mọi người
đồng thuận với nhau và đồng thuận với chủ trương, đường lối, chính sách của
Đảng và Nhà nước trong từng nhiệm vụ, từng giai đoạn phát triển của đất nước;
tạo điều kiện để mỗi người dân đều được tôn trọng, có quyền bình đẳng như nhau,
cùng tích cực phấn đấu xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho gia đình và xã
hội.
Tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận và các
tổ chức đoàn thể theo mô
hình tổ chức mới, hướng mạnh về cơ sở, bám sát nhu
cầu thiết thực của đoàn viên, hội viên và nhân dân. Phát huy hiệu quả các mô
hình tự quản và giám sát ở cơ sở do Mặt trận chủ trì; nâng cao chất lượng hiệp
thương dân chủ, sự phối hợp và thống nhất hành động giữa các thành viên tổ chức
và các thành viên cá nhân trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; tập hợp, phát huy
tối đa vai trò, sự đóng góp của các nhà khoa học, các chuyên gia, các cá nhân
tiêu biểu trong các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, các tôn giáo và cộng đồng
người Việt Nam ở nước ngoài. Triển khai thực hiện chuyển đổi số đồng bộ trong
điều hành, quản lý, vận hành hệ thống cơ sở dữ liệu, ứng dụng công nghệ phục vụ
nhân dân.
Tăng cường
đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các
cấp đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Cán bộ Mặt trận trước hết phải là những người có uy tín,
năng lực, biết vận động và tổ chức quần chúng, có lòng nhiệt tình, tinh thần
trách nhiệm cao, luôn “gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm với dân. Nghe
dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”. Chú trọng đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ tập trung vào kỹ năng dân vận, kỹ năng chuyển đổi số và
kỹ năng giám sát, phản biện chuyên sâu cho đội ngũ cán bộ Mặt trận Tổ quốc và
các tổ chức chính trị - xã hội các cấp, nhất là cấp xã đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
trong tình hình mới.
4. Kết luận
Bước vào kỷ nguyên mới của đất nước, kế tục
truyền thống quý báu của ông cha trong lịch sử và qua việc kinh nghiệm lãnh đạo
toàn dân đấu tranh giành độc lập và giải phóng dân tộc, Đảng tiếp tục quán
triệt quan điểm “Dân là gốc” của Nước và mọi công việc của Đảng phải “lấy Dân
làm gốc”, phải xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng và lợi ích chính đáng của Nhân
dân; phát huy quyền làm chủ của Nhân dân nhằm huy động mọi tiềm lực của Nhân
dân cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Khẳng định
tầm quan trọng của Nhân dân và vai trò, nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam trong việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong kỷ nguyên
mới, Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ rõ: “Trong giai đoạn cách mạng mới, mỗi cấp ủy,
chính quyền, cán bộ, đảng viên phải tiếp tục thấm nhuần sâu sắc về vị trí, ý
nghĩa, tầm quan trọng của đại đoàn kết toàn dân tộc và công tác Mặt trận; đề
cao trách nhiệm đối với hoạt động của Mặt trận, các tổ chức chính trị - xã hội
trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc làm nòng cốt để
Nhân dân làm chủ”, gắn với phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm
tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”… Cấp ủy, chính quyền các cấp tiếp tục quan tâm
lãnh đạo, chỉ đạo và phối hợp chặt chẽ, thường xuyên hơn nữa với Mặt trận chân
thành, cầu thị, lắng nghe, tận tâm, tận lực giải quyết công việc của dân. Tiếp
tục bổ sung, hoàn thiện chủ trương, chính sách, pháp luật nhằm huy động mọi
nguồn lực, phát huy tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc, sức sáng tạo của
các giai tầng xã hội, mọi tổ chức và cá nhân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” (Tô Lâm, 2024: 8).
Trước tình hình và yêu cầu mới của đất nước, với quan điểm và sự chỉ đạo
đúng đắn của Đảng, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, quyền làm chủ của
Nhân dân sẽ được phát huy cao độ, tạo nên sức mạnh vô địch, đưa dân tộc ta vượt
qua khó khăn, thách thức, tranh thủ thời cơ, vận hội mới, tự chủ chiến lược, tự
cường, tự tin, tiến mạnh, thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành
nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện
thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một
nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh
phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội” như Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của
Đảng đã đề ra.