TỪ KẾ HOẠCH CỦA NGUYỄN CHÍCH ĐẾN SỰ CHUYỂN BIẾN VỀ MẶT THẾ TRẬN CỦA NGHĨA QUÂN LAM SƠN
Từ một cuộc khởi nghĩa khởi phát ở vùng núi rừng Thanh Hóa trong thế tương quan lực lượng còn nhiều bất lợi, nghĩa quân Lam Sơn từng bước tìm kiếm phương thức phá thế bao vây, mở rộng địa bàn hoạt động và tạo dựng thế trận mới. Trong quá trình đó, kế hoạch của Nguyễn Chích về việc chuyển hướng hoạt động vào Nghệ An đã trở thành một quyết định quân sự có ý nghĩa đặc biệt, góp phần tạo ra bước ngoặt trong cục diện chiến tranh. Từ sự thay đổi địa bàn chiến lược đến quá trình xây dựng lực lượng, mở rộng vùng kiểm soát và tiến tới chủ động tiến công, nghĩa quân Lam Sơn từng bước chuyển từ thế phòng ngự, cầm cự sang thế chủ động và phát triển lực lượng. Đây không chỉ là sự thay đổi về không gian hoạt động mà còn phản ánh bước trưởng thành quan trọng về tư duy chiến lược, nghệ thuật tổ chức và xây dựng thế trận của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.
Kế hoạch tiến vào Nghệ An của Nguyễn Chích từ lâu đã được xem là một quyết sách quan trọng, mở ra bước chuyển của nghĩa quân Lam Sơn từ những năm tháng khó khăn ở Thanh Hóa sang một giai đoạn phát triển mới. Tuy nhiên, một lựa chọn chiến lược đúng đắn chỉ mở ra khả năng thay đổi cục diện, còn biến khả năng ấy thành hiện thực lại phụ thuộc vào những diễn biến cụ thể trên chiến trường.
Trước khi tiến vào Nghệ An, nghĩa quân Lam Sơn đã đánh chiếm đồn Đa Căng, và từ sau trận đánh này, diễn biến chiến trường bắt đầu có những thay đổi rõ rệt. Nghĩa quân Lam Sơn đã giành những thắng lợi liên tiếp ở Bồ Đằng, Trà Lân và sau đó là Khả Lưu, Bồ Ải. Sự chuyển biến nhanh chóng của chiến trường sau đó khiến vai trò của trận Đa Căng cần được nhìn nhận kỹ hơn. Nếu kế hoạch của Nguyễn Chích đã mở ra một hướng đi mới, liệu Đa Căng có phải là điểm khởi đầu khiến hướng đi ấy thực sự làm thay đổi thế trận?
1. Từ thế bị động ở Thanh Hóa đến sự hình thành chiến lược tiến vào Nghệ An
Đất có thể là nơi dung thân, nhưng chưa hẳn đã là nơi dụng võ; có thể giúp một đạo quân tồn tại, nhưng chưa chắc có thể giúp đạo quân ấy lớn mạnh. Chính vì thế, binh pháp Tôn Tử có câu: “Địa hình là điều kiện hỗ trợ cho việc dùng binh. Phán đoán tình hình, liệu địch mà khắc chế để giành lấy thắng lợi; khảo sát địa hình lợi hại, tính toán xa gần, ấy là đạo của bậc thượng tướng” (夫地形者,兵之助也。料敵制勝,計險阨遠近,上將之道也). Với
nghĩa quân Lam Sơn, miền núi Thanh Hóa từng là nơi dựa vào để tồn tại, nhưng
khi cuộc chiến kéo dài, chính không gian ấy lại ngày càng bộc lộ những giới hạn
đối với sự phát triển của lực lượng.
Tháng 6 năm Hưng
Khánh thứ nhất (1407), cha con Hồ Quý Ly, Hồ Hán Thương bị quân Minh bắt sống,
nhà Hồ cáo chung đất nước rơi vào đêm trường nô lệ. Giữa lúc ấy, tinh thần nồng
nàn yêu nước của nhân dân Đại Việt lại có dịp bùng cháy lên thành nhiều cuộc khởi
nghĩa, nhưng đều bị quân Minh dìm trong biển máu.
Trong bối cảnh ấy, Lê Lợi đã lựa chọn đất
Lam Sơn làm nơi tập hợp lực lượng. Trước khi chính thức khởi binh, ông đã chú
trọng chiêu tập hào kiệt, thu nạp những người lưu tán, gây dựng lực lượng và tạo
dựng cơ sở xã hội cho một cuộc đấu tranh lâu dài. Hội thề Lũng Nhai năm 1416 có
thể xem là một bước chuyển quan trọng trong quá trình tập hợp những nhân vật
nòng cốt của phong trào. Tuy nhiên, Lương Nhữ Hốt - một viên quan người
Việt phục vụ cho nhà Minh, thông qua tìm hiểu đã biết được Lê Lợi là người có
chí lớn, bèn báo cho thượng cấp. Quân Minh liền bố trí do thám, nắm bắt tình
hình nghĩa quân và chuẩn bị cho một cuộc tấn công phủ đầu. Đến đầu năm 1418, khi sự chuẩn bị không còn có thể tiếp tục trong trạng
thái bí mật, Lê Lợi tự xưng Bình Định vương, dựng cờ khởi nghĩa tại Lam Sơn.
Lựa chọn Lam Sơn làm nơi dựng cờ khởi nghĩa là một quyết định phù hợp với
yêu cầu tập hợp và bảo toàn lực lượng buổi đầu, nhưng một địa bàn thích hợp để
khởi sự chưa hẳn đã là một không gian đủ sức nâng đỡ một cuộc chiến lâu dài. Giới
hạn ấy trước hết thể hiện trong tương quan địa chiến lược giữa Lam Sơn với hệ
thống kiểm soát quân sự của nhà Minh. Chỉ cách Tây Đô khoảng 20 km theo đường
chim bay, Lam Sơn nằm quá gần một trong những căn cứ quân sự quan trọng của đối
phương ở phía nam. Nghĩa quân vì thế có thể dựa vào địa thế miền thượng du
Thanh Hóa để ẩn náu, cơ động và bảo toàn lực lượng, nhưng lại khó tạo được một
hậu phương đủ rộng và ổn định để tích lũy nhân lực, vật lực và mở rộng quyền kiểm
soát. Mỗi khi lực lượng phát triển hoặc hoạt động quân sự gia tăng, nguy cơ bị
quân Minh phát hiện, truy kích và bao vây cũng theo đó tăng lên. Trong tương
quan ấy, những thắng lợi trên chiến trường tuy có thể giúp nghĩa quân vượt qua
từng thời điểm nguy cấp, nhưng chưa đủ để làm thay đổi căn bản thế trận.
Trong bối cảnh đó,
đề xuất tiến vào Nghệ An của Nguyễn Chích đã mở ra một hướng giải quyết mới cho
thế trận của nghĩa quân Lam Sơn. Ông nói: “Nghệ An là nơi hiểm yếu: đất rộng
người đông, tôi đã từng qua lại nên rất thông thuộc đất ấy. Nay hãy trước
hết thu lấy Trà Long, chiếm giữ cho được Nghệ An để làm đất đứng chân rồi dựa vào sức người và
của cải đất ấy mà quay ra đánh Đông Đô thì có thể tính xong việc dẹp yên thiên
hạ”. Giá trị của đề xuất này không chỉ nằm ở sự thay đổi hướng tiến
quân, mà trước hết ở việc xác lập một không gian chiến lược mới, từ đó giải quyết
đồng thời yêu cầu về đất đứng chân, nguồn lực duy trì chiến tranh và bàn đạp để
tiếp tục mở rộng cuộc tiến công.
Như vậy, từ năm 1418 đến trước cuộc tiến quân vào Nghệ An năm 1424, vấn đề lớn nhất mà nghĩa quân Lam Sơn từng bước phải giải quyết chính là sự bất đối xứng giữa khả năng tồn tại và khả năng phát triển. Miền núi Thanh Hóa đã giúp cuộc khởi nghĩa vượt qua những năm tháng nguy hiểm nhất, nhưng để đi xa hơn, nghĩa quân cần một địa bàn có thể chuyển những thắng lợi quân sự riêng lẻ thành ưu thế về nhân lực, vật lực và quyền kiểm soát không gian.
2. Trận Đa Căng và những điều kiện tạo nên sự chuyển biến thế trận
Sau đề xuất của
Nguyễn Chích, Cương mục cho biết: “Vương khen là phải. Liền đó kéo quân ra phía nam, đánh úp đồn Đa Căng”. Đánh giá về mưu kế của Nguyễn Chích, Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục
viết: “Bầy tôi có công khai quốc, kể về bậc tài trí cần lao không phải là hiếm
nhưng sở dĩ [Vua Lê Thái Tổ] đã bình định được cả nước là do mưu chước của Lê
Chích… không cần phải đánh mà được thành Đông Đô, lấy hòa hiếu để kết thúc chiến
tranh, tuy là mưu lược của Nguyễn Trãi, nhưng trước hết làm cho căn bản mạnh để
thu thắng lợi hoàn toàn thực chất là bắt đầu từ Lê Chích”. Tuy nhiên, không thấy thư tịch cổ ghi chép thêm về việc Bộ chỉ huy nghĩa
quân cụ thể đã thay đổi chiến lược như thế nào.
Mặc dù vậy, nếu xem xét nội dung đề xuất của
Nguyễn Chính với con đường tiến
quân của nghĩa quân
có thể thấy rằng, giữa đề xuất với thực tế chiến trường có nhiều điểm khác biệt. Theo đó, Nguyễn Chích
đã đề xuất, “Nghệ An là nơi hiểm yếu, đất rộng người đông” có những nền tảng cơ bản để
khắc phục những hạn chế trong hoạt động ở miền rừng núi Thanh Hóa. Do đó, nghĩa
quân trước tiên nên chiếm đất Trà Long, tiếp
đó “chiếm giữ cho được Nghệ An để làm đất đứng chân”, cuối cùng “dựa vào
sức người và của cải đất ấy mà quay ra đánh Đông Đô thì có thể tính xong việc dẹp
yên thiên hạ”. Tức là chỉ cần chiếm được Nghệ An và dựa vào sức người, sức của ở
nơi đó để đánh ra Đông Quan giải phóng hoàn toàn đất nước.
Xác định mục tiêu chiến lược là đánh chiếm Nghệ An, để chuẩn bị cho kế hoạch đó, Bộ chỉ huy nghĩa quân Lam Sơn đã lựa chọn tập
kích vào địa điểm Đa Căng, để mở ra con đường Thượng đạo để tiến vào Bồ Đằng. Cương
mục cho biết: “Đa Căng: Thay đổi ra sao, chưa rõ. Theo sách Sĩ hoạn tu
tri lục của Nguyễn Công Tiệp, thì huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa có động Bất
Căng, có lẽ tức là Đa Căng này”. Trong Khởi nghĩa Lam Sơn, Phan Huy Lê - Phan Đại Doãn đã
đưa ra những lập luận để phủ nhận ghi chép của Cương mục và cho rằng
“... theo chúng tôi đồn Đa Căng này là Bất Căng nay
thuộc xã Thọ Nguyên, huyện Thọ Xuân, nằm về hữu ngạn sông Chu. Theo truyền thuyết
của địa phương thì Lê Lợi có đánh quân Minh ở đây. Hiện nay ở vùng đó còn một số
tên đất đáng lưu ý như xóm Đồn ở cuối làng Bất Căng, đồng Xác ở cuối làng Chấn
Xuyên và đền ông Kiềm (Kiềm quốc công Mộc Thạnh?) ở làng Phú Hậu”.
Trong khi vị trí của Đa Căng vẫn còn cần tiếp
tục khảo chứng, một vấn đề khác cũng cần được đặt ra. Trước khi thực hiện kế hoạch
tiến vào Nghệ An, vì sao nghĩa quân Lam Sơn lại lựa chọn đánh đồn Đa Căng? Trận
đánh này chỉ nhằm loại bỏ một cứ điểm của quân Minh trên đường tiến quân, hay
còn phục vụ những yêu cầu khác cho cuộc chuyển quân vào Nghệ An?
Trận Đa Căng mở đầu cho một chuỗi thắng lợi liên tiếp của nghĩa quân Lam
Sơn. Từ Bồ Đằng, Trà Lân đến Khả Lưu, Bồ Ải, thế trận từng bước chuyển theo hướng
có lợi cho nghĩa quân. Trước đó, trong nhiều năm hoạt động ở miền núi Thanh
Hóa, nghĩa quân tuy có thể giành được những thắng lợi nhất định nhưng phần lớn
vẫn phải chiến đấu trong thế bị động, tránh né và bảo toàn lực lượng.
Sau khi phá Đa Căng, tình hình lại diễn biến theo một chiều hướng khác. Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng sau khi phá đồn Đa Căng, nghĩa quân “thu hết khí giới” – “盡獲器械”. Nhưng họ không lập tức tiến vào Nghệ An. Trước khi xuất quân, Lê Lợi còn cho tuyển thêm trai tráng, “sửa sang khí giới, chỉnh đốn hàng ngũ và chuẩn bị lương khô” – “繕器械,嚴部伍,備糧糗” . Hai ghi chép đặt liền nhau cho thấy việc thu nhận và sửa sang quân khí là
một khâu trong quá trình chuẩn bị lực lượng trước khi nghĩa quân bước vào chiến
dịch Nghệ An.
Trong văn cảnh quân sự, “Khí giới - 器械” có nghĩa rộng, chỉ các loại binh khí và
trang bị dùng trong chiến đấu, chứ không phải một loại vũ khí cụ thể. Vì vậy, Toàn thư không cho biết số quân khí thu được ở Đa
Căng gồm những gì. Tuy nhiên, nếu số chiến lợi phẩm thu được chỉ gồm những binh
khí thông thường có thể nhanh chóng đưa vào sử dụng, vì sao việc sửa sang quân
khí lại được ghi nhận cùng với tuyển thêm trai tráng, chỉnh đốn đội ngũ và chuẩn
bị lương thực trước khi tiến vào Nghệ An? Phải chăng trong số quân khí thu được
có những loại vũ khí cần được sửa chữa, chuẩn bị và tổ chức lực lượng phù hợp
trước khi đưa vào chiến đấu?
Điển chế quân sự nhà Minh cho phép xác định rõ
hơn phạm vi của vấn đề này. Đại Minh hội điển xếp việc quản lý và chế tạo
vũ khí dưới mục “Quân khí, quân trang”. Quy định từ năm Hồng Vũ thứ 26 (1393)
cho biết trong mỗi đơn vị một trăm quân có 10 súng thủ, 20 đao bài thủ, 30 cung
tiễn thủ và 40 thương thủ. Như vậy, người sử dụng súng đã được đặt trong cơ cấu quân đội cùng với những
binh sĩ sử dụng đao, cung tên và thương.
Danh mục hỏa khí do Binh trượng cục chế tạo bao gồm nhiều loại như thần thương (神槍), thần súng (神銃), súng chém ngựa (斬馬銃), súng đồng cầm tay (手把銅銃), súng sắt cầm tay (手把鐵銃), súng miệng bát (碗口銃), thần cơ tiễn (神機箭), súng tiễn (銃箭), thần pháo (神炮) và thần cơ pháo (神機炮) . Điển chế còn quy định đối với quân xuất chinh, “mỗi đội cấp tám khẩu thần thương, hai khẩu thần súng” . Những quy định này cho thấy trong cách phân loại quân khí của nhà Minh,
súng, pháo và các loại vũ khí sử dụng thuốc súng là một bộ phận của trang bị
quân sự và được chế tạo, cấp phát theo chế độ của triều đình.
Tuy nhiên, những quy định trên mới chỉ cho thấy vị trí của hỏa khí trong trang bị quân sự nhà Minh, còn việc chúng có được đưa vào sử dụng trên chiến trường Đại Việt hay không, thì vẫn cần phải được kiểm chứng bằng những ghi chép cụ thể.
Trong trận đánh thành Đa Bang cuối năm 1406, khi quân nhà Hồ đưa tượng binh ra phản kích, sử liệu nhà Minh chép rằng: “Thần Cơ tướng quân La Văn cùng thuộc hạ đem thần cơ súng tiến lên ở hai cánh, voi chiến đều run sợ, lại bị súng và tên làm bị thương, quay đầu chạy loạn”, khiến đội hình quân nhà Hồ tan vỡ . Ghi chép này xác nhận quân Minh đã trực tiếp sử dụng “Thần cơ súng” (神機銃) và “Súng tiễn” (銃箭) trên chiến trường Đại Việt. Hỏa khí được bố trí ở hai cánh, phối hợp tiến
công và được sử dụng để đối phó với tượng binh của quân nhà Hồ.
Hỏa khí tiếp tục được quân Minh sử dụng tại Đại Việt trong những năm sau đó. Đến năm Vĩnh Lạc thứ 19 (1421), tức chỉ khoảng
ba năm trước khi nghĩa quân Lam Sơn mở chiến dịch tiến vào Nghệ An, Minh
Thái Tông thực lục vẫn trực tiếp ghi nhận việc quân Minh sử dụng hỏa khí
trong một cuộc giao chiến tại Đại Việt. Khi lực lượng do Đô chỉ huy Sư Hựu truy kích
Phan Liêu, Cầm Trách đến Vương Ma châu, quân đối phương dùng voi xung kích.
Quân Minh “bắn những người cưỡi voi, tiếp đó dùng hỏa khí tiến công, khiến voi
quay đầu chạy”và quân đối phương tan vỡ .
Trong cuộc chiến giữa
nghĩa quân Lam Sơn với nhà Minh, James Potratz cho rằng: “Sự cải tiến đáng kể sức
mạnh quân sự Đại Việt với việc sử dụng hoả khí cầm tay bắt đầu với chiến dịch
thành công năm 1424-1427 để trục xuất quân Minh, giành lại quyền kiểm soát Đại
Việt [hay còn gọi là Giao Chỉ, An Nam, Đại Ngu]. Sự cải tiến chưa từng xảy ra
này có thể dễ dàng được hiểu bằng cách kiểm tra số lượng của lực lượng quân đội
đế chế nhà Minh hiện diện tại Đại Việt trong thời kỳ này”. Đặt nhận định này trong chuỗi chứng cứ từ Minh Thái Tông thực lục,
có thể thấy một thực tế quan trọng: trước khi chiến dịch Nghệ An bắt đầu, nghĩa
quân Lam Sơn đã chiến đấu trong một môi trường quân sự mà hỏa khí của nhà Minh
hiện diện từ nhiều năm trước. Vì vậy, khả năng nghĩa quân tiếp xúc, thu giữ rồi
sử dụng lại một bộ phận vũ khí của đối phương là vấn đề có cơ sở để tiếp tục nghiên
cứu.
Sau trận Đa Căng, địa điểm đầu tiên mà nghĩa quân lựa chọn chinh phạt để làm đất đứng chân là thành Trà Lân nhưng trước khi đến được thành này, nghĩa quân “khi qua núi Bồ Lạp (có sách chép là xứ Bồ Cứ) thuộc châu Quỳ, thì gặp tên Chỉ huy đồng tri nhà Minh là Sư Hựu cùng viên thổ quan là Tri phủ châu Trà Lân Cầm Bành đem 5.000 quân đón ở phía trước, lại có các tướng Minh Trần Trí, Lý An, Phương Chính, Thái Phúc đem quân tiếp đến uy hiếp mặt sau”. Núi Bồ Lạp hay núi Bù Đằng (xã Châu Nga, huyện Quỳ Hợp, Nghệ An) phiên âm chữ Hán là Bồ Đằng, là trận chiến vô cùng ác liệt giữa quân đội hai bên, đã được Nguyễn Trãi mô tả trong Bình Ngô đại cáo:
“Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,
Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay.”
“Sấm
vang, chớp giật” trước hết là những hình ảnh ẩn dụ nhằm diễn tả thanh thế và sức
công phá của nghĩa quân. Tuy nhiên, đặt cách mô tả ấy trong thực tế chiến tranh
đầu thế kỷ XV, khi hỏa khí đã được quân Minh đưa vào sử dụng trên chiến trường
Giao Chỉ, hai hình ảnh “sấm” và “chớp” còn gợi đến âm thanh và ánh lửa của các
loại vũ khí sử dụng thuốc súng. Vì vậy, câu văn của Nguyễn Trãi tuy không thể
được xem là chứng cứ trực tiếp xác nhận loại hỏa khí cụ thể đã được sử dụng tại
Bồ Đằng, nhưng có thể được đặt bên cạnh những ghi chép của Minh thực lục
như một chứng cứ bổ trợ cho khả năng hỏa khí đã hiện diện trong trận đánh này.
Trong bài viết The significant improvement of Dai Viet military strength began with the Later Le successful 1424 - Sự cải
tiến to lớn sức mạnh quân sự Đại Việt sau thắng lợi của triều Hậu Lê từ 1424,
James Potratz cho rằng, từ năm 1370 - 1425, súng của nhà Minh đã được sử dụng
trên khắp Trung Quốc. Trong cuộc chiến giữa nghĩa quân Lam Sơn với nhà Minh, James Potratz cho
rằng: “Sự cải tiến đáng kể sức mạnh quân sự Đại Việt với việc sử dụng hoả khí cầm
tay bắt đầu với chiến dịch thành công năm 1424-1427 để trục xuất quân Minh,
giành lại quyền kiểm soát Đại Việt [hay còn gọi là Giao Chỉ, An Nam, Đại Ngu].
Sự cải tiến chưa từng xảy ra này có thể dễ dàng được hiểu bằng cách kiểm tra số
lượng của lực lượng quân đội đế chế nhà Minh hiện diện tại Đại Việt trong thời
kỳ này”. Hàm ý của ông trong đoạn này có nghĩa là, sự cải tiến sức mạnh quân sự to
lớn của nghĩa quân Lam Sơn đến từ chính “lực lượng quân đội của đế chế Minh hiện
diện tại Đại Việt thời kỳ này”.
Trận Bồ Đằng đã khiến cho quân Minh hết sức bất ngờ với hỏa lực của nghĩa
quân Lam Sơn, Cầm Bành đã vô cùng run sợ, nên y đã rút chạy về cố thủ ở thành
Trà Lân. Ngay ngày hôm sau “Vương sai dụ hàng tên Cầm Bành, tri phủ, quyền giữ
công việc châu Trà Long, nhưng Bành không theo, cứ cố thủ, đợi quân cứu viện”. Trước tình hình nguy khốn của Cầm Bành ở Trà Long, nhà Minh đã cho Trần Trí,
Phương Chính đem quân tăng viện đến thành Nghệ An, nhưng khiếp sợ trước hỏa lực
của nghĩa quân nên không dám tiến quân đến để giải vây. Ở mặt trận Trà Long, Cầm
Bành bị bao vậy trong hơn 2 tháng, tình thế ngày càng khốn quẫn: Lương thực đã
cạn, quân lính hoang mang cực độ, nhiều người đã trốn ra đầu hàng nghĩa quân. Cầm
Bành sau khi được tin báo của Trần Đức Nhị là quân Minh sẽ không cứu viện, y
đành mở cửa thành ra đầu hàng nghĩa quân. Chiến thắng Trà Long, một căn cứ then chốt của địch, không chỉ giúp nghĩa
quân Lam Sơn khống chế cả miền rừng núi Nghệ An, mà còn tạo thế và lực giành thắng
lợi lớn hai trận Khả Lưu, Bồ Ải.
3. Điều chỉnh chiến thuật để hiện thực hóa chiến lược
Sau hai trận thua ở Khả Lưu và Bồ Ải, quân Minh rút lui về cố thủ ở thành
Nghệ An. Theo Đại Nam nhất thống chí: “Thành đá cao 6,7 thước, chu vi chừng
1 dặm, tương truyền do Trương Phụ nhà Minh đắp, lại có một đống đá cao chừng
4,5 thước, tương truyền là chỗ cột cờ Trương Phụ”. Trước ngôi
thành vô cùng kiên cố đó, khiến cho các trận chiến tại đây đã diễn ra căng thẳng và
lâu dài hơn so với những gì mà Nguyễn Chích đã trình bày.
Khi mà chưa thể hạ được thành Nghệ An, trong
khi quân Minh dồn lực lượng về đây ngày càng nhiều, dẫn đến những vị trí trọng
yếu khác ngày càng sơ hở. Trước tình hình bố trí lực lượng của đối phương, Lê Lợi
và các tướng lĩnh quyết định điều chỉnh kế hoạch so với ban đầu, tức là trong
thời gian chờ đợi giải phóng Nghệ An, tiếp tục điều quân đến những địa điểm sơ
hở của địch để đánh chiếm. Tháng 5, năm (1425), Đinh Lễ được lệnh đem quân đi
chiêu dụ các vùng nông thôn ở phía bắc Nghệ An và Thanh Hóa. Sau khi hoàn thành
nhiệm vụ, ông tiến hành việc chuẩn bị cho một cuộc bao vây ở Diễn Châu. Tướng
trấn thủ nơi đây là Thôi Tụ biết tin, bèn đóng cửa cố thủ trong thành. Để giúp
thành Diễn Châu có thể cầm cự lâu dài, Trần Trí sai người đưa thuyền lương vào
tiếp tế. Biết được quân trong thành sẽ phải rời thành lấy lương, Đinh Lễ tiến
hành phục kích, thành công chiếm được nhiều thuyền bè, lương thực của đối
phương. Quân Minh tan vỡ, một phần chạy ra Tây Đô, số còn lại rút vào thành Diễn
Châu tiếp tục cố thủ.
Cũng
trong tháng 5, năm Ất Tỵ (1425), Bộ chỉ huy nghĩa quân Lam Sơn đã lựa chọn
thành Tây Đô làm địa bàn tiếp theo cần phải giải phóng, “Bấy giờ, giặc đều đến
cứu thành Nghệ An, vua đoán là các thành Tây Đô đều đã suy yếu, liền chọn 200
quân tinh nhuệ, 2 thớt voi, sai bọn Lê Lễ, Lê Sát, Lê Nhân Chú và Lê Triện, Lê Bị đi gấp theo đường đất đánh úp
thành Tây Đô”. Với chiến thuật thần tốc, bất ngờ táo bạo, chỉ với 200 quân tinh nhuệ và
hai thớt voi đặt dưới sự chỉ huy của các vị tướng tài như Lê Nhân Chú, Lê Triện
và Lê Bị, nghĩa quân Lam Sơn đã nhanh chóng giải phóng được Tây Đô - tòa thành
trì được quân Minh xem là trọng yếu phải canh giữ cẩn mật. Không những thế,
nghĩa quân Lam Sơn còn “chém được hơn 500 thủ cấp giặc, bắt sống được rất nhiều.
Quân Minh đóng cửa thành cố thủ. Dân cư ngoài thành, bọn Lê Triện đều phủ dụ được
cả. Bấy giờ người Thanh Hóa tranh nhau đến cửa quân xin liều chết đánh giặc”. Cho đến tháng 7 năm Ất Tỵ (1425), tức là chỉ
1 năm sau khi Minh Nhân Tông lên ngôi, nghĩa quân Lam Sơn đã làm chủ ba phủ
Thanh Hóa, Diễn Châu và Nghệ An.
Với việc mất quyền kiểm soát các vùng đất này, quân Minh ở Tân Bình và Thuận
Hóa vốn đã mỏng, nay lại bị cô lập, gần như bị cắt liên lạc với những thành trì khác. Lê Lợi cho rằng:
“Người giỏi chiến trận thường bỏ chỗ kiên cố,
đánh chỗ sơ hở, tránh chỗ vững chắc, đánh vào chỗ trống rỗng; như thế thì chỉ
dùng sức một phần mà thành công gấp bội”. Do đó vào tháng 7 năm Ất Tỵ (1425), nghĩa quân Lam Sơn đã chia làm hai cánh: Cánh thứ
nhất do Trần Nguyên Hãn cùng 1.000 quân và 1 thớt voi, đi theo đường thượng đạo
tiến vào nam; Cánh còn lại do Lê Ngân chỉ huy, gồm 70 thuyền chiến theo đường
biển tiến vào. Trần Nguyên Hãn đến sông Gianh thì đụng độ với quân Minh do Nhâm
Năng chỉ huy. Nghĩa quân Lam Sơn tiếp tục áp dụng lối đánh du kích, thành công
tiêu diệt cánh quân Minh này. Cũng áp dụng kế sách tương
tự như các trận ở Nghệ An, quân Lam Sơn một mặt tiến hành vây thành Tân Bình,
Thuận Hóa, một mặt phân tản đi bình định châu huyện xung quanh. Chỉ sau ít
ngày, toàn bộ đất đai ở Tân Bình, Thuận Hóa đều nằm trọn trong tay nghĩa quân.
Trước những chiến thắng vang dội ấy, số lượng người tòng quân ngày càng nhiều.
Sau khi thiết lập lại bộ máy chính quyền mới và xây dựng một lực lượng vũ trang
địa phương để tiếp tục vây thành, Trần Nguyên Hãn và các tướng rút quân trở về
Nghệ An, chuẩn bị cho những chiến dịch mới sắp tới.
Đền thờ khai quốc công thần Nguyễn Chích ở làng Vạn Lộc, xã Đông Ninh. Nguồn: https://vhds.baothanhhoa.vn/khai-quoc-cong-than-nguyen-chich-cong-lao-day-bien-quan-su-nghiep-day-trieu-dinh-24608.htm, truy cập 5-10-2026.
Từ cuối thời Trần,
cương vực của nước ta từ Thuận Hóa trở ra Bắc. Do đó, muốn giải phóng được cả đất
nước thì chí ít phải nắm giữ được một nửa giang sơn thì mới có thể có đủ tiềm lực
đẩy lùi quân Minh ra khỏi bờ cõi. Sau khi nắm giữ được một giải đất từ Thanh
Hóa đến Thuận Hóa, mặc dù thành Nghệ An vẫn chưa được giải phóng nhưng bộ chỉ
huy nghĩa quân Lam Sơn lại tiếp tục đề ra một kế hoạch hết sức táo bạo, đó là “Mùa Thu, tháng 8, vua cho là quân tinh nhuệ của giặc đều ở Nghệ An cả, các xứ
Đông Đô của chúng nhất định suy yếu, bèn tăng thêm binh tượng, sai bọn Khu mật
đại sứ Phạm Văn Xảo, Thái úy Lê Triện, Thái giám Lê Khả, Á hầu Lê Như Huân, Lê
Bí đem hơn 3.000 quân 1 thớt voi đi tuần các xứ Thiên Quan, Quảng Oai, Quốc
Oai, Gia Hưng, Quy Hóa, Đà Giang, Tam Đới, Tuyên Quang để cắt đứt đường viện
binh của giặc từ Vân Nam sang; bọn thái úy Lê Bị, Thái giám Lê Khuyển đem 2.000
quân và 1 thớt voi đánh ra các xứ Khoái Châu, Bắc Giang, Lạng Giang để chặn viện
binh từ Lưỡng Quảng tới; bọn Tư không Lê Lễ và Lê Xí thì đem tinh binh tiến sau
để phô trương thanh thế”. Từ đây, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn từng bước phát triển thành cuộc chiến tranh giải phóng trên quy mô cả nước, đi đến thắng lợi quyết định vào cuối năm 1427 và hoàn thành việc giải phóng đất nước vào đầu năm 1428.
4. Một vài nhật xét
Trước hết, bước chuyển của nghĩa quân Lam Sơn từ cuối năm 1424 cần được nhìn nhận từ trận Đa Căng, thay vì chỉ bắt đầu từ khi nghĩa quân đứng chân được ở Nghệ An. Kế hoạch của Nguyễn Chích xác định hướng phát triển chiến lược, nhưng Đa Căng là trận đánh mở đầu cho quá trình hiện thực hóa kế hoạch ấy. Sau khi phá đồn, nghĩa quân “thu hết khí giới”, rồi tuyển thêm trai tráng, sửa sang khí giới, chỉnh đốn đội ngũ và chuẩn bị lương thực trước khi tiến quân. Đặt trình tự này bên cạnh những chứng cứ về việc quân Minh trang bị và sử dụng hỏa khí tại Đại Việt, có cơ sở để cho rằng số quân khí thu được ở Đa Căng, trong đó nhiều khả năng có hỏa khí, đã góp phần tăng cường năng lực tác chiến của nghĩa quân. Chính từ sau Đa Căng, thế trận cũng bắt đầu chuyển biến theo một chiều hướng khác, nghĩa quân liên tiếp giành thắng lợi và từng bước giành quyền chủ động trên chiến trường. Bởi vậy, nếu kế hoạch của Nguyễn Chích mở ra bước chuyển về phương hướng chiến lược, thì Đa Căng có thể được xem là điểm khởi đầu cho sự chuyển biến về thế và lực của nghĩa quân Lam Sơn trên thực tế chiến trường.
Từ chỗ phải dựa vào miền rừng
núi Thanh Hóa để duy trì lực lượng và chống lại những cuộc vây quét của quân
Minh, nghĩa quân chủ động tìm kiếm một địa bàn mới có khả năng tạo thế, gây dựng
lực lượng và mở rộng chiến tranh. Theo kế hoạch ấy, Trà Lân là mục tiêu trước mắt, Nghệ An là địa
bàn đứng chân, còn Đông Quan là hướng tiến công sau khi thế và lực đã được củng
cố. Những diễn biến từ cuối năm 1424 cho thấy các mục tiêu trước mắt của kế hoạch
này đã lần lượt được thực hiện.
Tuy nhiên, thực tiễn chiến
tranh không dừng lại trong những dự liệu ban đầu. Sau khi đứng chân được ở Nghệ
An, Bộ chỉ huy Lam Sơn từng bước thay đổi cách đánh, không nhất thiết phải công
phá và chiếm giữ bằng được từng thành trì. Vây thành, đánh viện, chia cắt các cứ
điểm được kết hợp với vận động tiến công vào những nơi đối phương sơ hở, đồng
thời mở rộng địa bàn và huy động sự ủng hộ của nhân dân. Cách đánh ấy từng bước
làm suy yếu khả năng kiểm soát của quân Minh. Thành trì vẫn còn trong tay đối
phương, nhưng thế trận bên ngoài thành trì đã thay đổi. Từ chỗ phải tìm cách bảo
toàn lực lượng, nghĩa quân từng bước giành quyền chủ động và buộc quân Minh phải
phân tán để đối phó.
Quá trình này cho thấy
thành công của khởi nghĩa Lam Sơn không chỉ bắt nguồn từ một kế hoạch chiến lược đúng đắn,
mà còn từ khả năng điều chỉnh cách thức thực hiện theo sự vận động của chiến
trường. Kế hoạch tạo ra hướng đi, thắng lợi tạo ra thế mới, còn thế mới lại đòi
hỏi một cách đánh mới. Chính khả năng liên tục chuyển hóa giữa chiến lược và thực
tiễn ấy đã giúp nghĩa quân mở rộng chiến tranh từ một địa bàn tương đối hẹp
thành cuộc chiến giải phóng trên phạm vi cả nước và đi đến thắng lợi hoàn toàn.
Từ trường hợp khởi nghĩa Lam Sơn có
thể thấy một vấn đề có ý nghĩa rộng hơn trong lịch sử quân sự. Chiến lược không
phải là sự thực hiện cứng nhắc một kế hoạch đã định, mà là khả năng giữ vững mục
tiêu trong khi không ngừng thay đổi phương thức để đạt tới mục tiêu ấy. Đây có
lẽ cũng là một trong những giá trị nổi bật của nghệ thuật quân sự Lam Sơn được
thể hiện qua quá trình từ kế hoạch của Nguyễn Chích đến sự chuyển biến của toàn
bộ thế trận.
Chú thích: