image banner

Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được hình thành nên từ sự dạy dỗ, giáo dục của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc
Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh là một vấn đề cơ bản thuộc lĩnh vực nghiên cứu lịch sử tư tưởng. Trong đó, nhân tố gia đình có tác động mạnh mẽ đến sự hình thành chí hướng cứu nước, cứu dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một trong những ảnh hưởng quan trọng từ gia đình là ảnh hưởng từ người cha - Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. 

 

1. Sự dạy dỗ, giáo dục của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc đối với Nguyễn Tất Thành
    Cụ Nguyễn Sinh Sắc là người thầy đầu tiên dạy chữ, dạy làm người và giáo dục lòng yêu nước cho con. Có nhiều bằng chứng cho thấy Nguyễn Sinh Sắc rất có chủ định để cho Nguyễn Tất Thành có cơ hội trải nghiệm thực tiễn cũng như luôn chú ý đến việc định hướng cho người con của mình đi tìm đường cứu nước. Trong gia đình, Nguyễn Sinh Cung là người được cha yêu thương và đặt nhiều hy vọng nhất. Trong năm năm từ chối không ra làm quan, Nguyễn Sinh Sắc thường đến những nơi có phong trào đấu tranh chống Pháp sôi nổi và anh dũng, kết giao với những người có lòng yêu nước, có chí cứu nước, đặc biệt là lớp sĩ phu yêu nước, có tư tưởng “bài” phong kiến, chống Pháp như Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý, Đặng Thái Thân… Và điều đặc biệt, đi đến đâu ông cũng thường cho Nguyễn Sinh Cung đi cùng. Trong những người mà ông Sắc thường gặp gỡ có ông Phan Bội Châu. Giống như nhiều nhà nho yêu nước lúc bấy giờ, Phan Bội Châu cũng day dứt trước hiện tình đất nước và số phận của dân tộc. Sau này, Hồ Chí Minh đã nhắc lại: “Nhân dân Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi sự thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Anh, người kia  lại nghĩ là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”.
Việc định hướng của người cha đầu tiên thể hiện ở quyết định cho các con đến học một thầy giáo có lòng yêu nước thương dân đó là thầy Vương Thúc Quý, đặc biệt đây là sĩ phu có tư tưởng cấp tiến. Hơn nữa, “nhà thầy Quý là nơi lui tới của các sĩ phu yêu nước trong vùng. Nhiều khi Nguyễn Tất Thành được thầy sai tiếp nước cho những vị khách đặc biệt, nhờ đó cậu thiếu niên Nguyễn Tất Thành dần dần hiểu được thời cuộc và sự day dứt của các bậc cha chú trước cảnh nước mất nhà tan”. Đồng thời, Nguyễn Sinh Sắc đã tạo điều kiện cho con ông được “tham gia” vào các cuộc tiếp xúc của mình với các văn thân sĩ phu ở khắp Trung Kỳ. Sau đó, “Tất Thành còn được ông cho theo ra Thái Bình trong dịp ông đi tìm gặp một số sĩ phu ở đất Bắc”. Những chuyến đi đó là những cuộc trải nghiệm để Nguyễn Tất Thành định hình riêng cho mình con đường đi.
    Với tư tưởng tiến bộ và chán ghét chốn quan trường, năm 1905, cụ Sắc cho hai người con trai của mình - là Nguyễn Sinh Khiêm và Nguyễn Sinh Cung xuống Vinh học trường Tiểu học Pháp - bản xứ. Đây là một quyết định được cho là khác người của cụ, bởi vào trường này là phải học chữ Pháp, trong khi cụ theo đuổi nền giáo dục truyền thống theo lối nho học (cụ đỗ Phó bảng năm 1901). Trong số các sĩ phu yêu nước thời đó, họ ghét Pháp thì ghét luôn cả thành tựu văn hoá của nó, không muốn cho con cái theo học chữ Tây, chữ Quốc ngữ. Có thể nói, quyết định trên của cụ Nguyễn Sinh Sắc một phần từ sự chán ghét chốn quan trường, chán ghét sự giả dối, đồi truỵ của những ông quan triều đình Huế. Chính tại ngôi trường này, Nguyễn Tất Thành được tiếp xúc với văn hoá phương Tây và lần đầu tiên biết đến khẩu hiệu: Tự do - Bình đẳng - Bác ái. Sau này Người nhắc lại: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, bình đẳng, bác ái… Và từ thủa ấy, tôi rất muốn quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy”. Ngoài thời gian học tập, Nguyễn Tất Thành thường được cha đưa đến các vùng trong tỉnh như làng Đồng Thái (quê hương của Phan Đình Phùng), thăm các di tích làng Lục niên, miếu thờ La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp,… Đây là những bài học thực tế bổ ích, quan trọng, mắt thấy, tai nghe đã góp phần hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng cách mạng của Nguyễn Tất Thành.
    Một điều đáng chú ý là trong khi Phan Bội Châu hô hào Đông Du thì Nguyễn Sinh Sắc không phản đối nhưng cũng không ủng hộ nhiệt thành. Điều này thể hiện ở sự kiện tháng 5/1905, khi Phan Bội Châu cử Nguyễn Thức Canh đến Kim Liên tìm Nguyễn Tất Thành để rủ sang Nhật nhưng không gặp được (vì lúc này cha con ông Nguyễn Sinh Sắc đang ở Bắc Kỳ), nhưng đến tháng 9/1905, ông Nguyễn Sinh Sắc đã cho con nhập học lớp dự bị của trường tiểu học Vinh với chương trình đào tạo nặng nề về tiếng Pháp. Rõ ràng chủ ý của ông Nguyễn Sinh Sắc lúc này là muốn cho con tiếp xúc với văn minh phương Tây mà trực tiếp là văn hoá Pháp với lý lẽ: “Muốn đánh kẻ thù phải học tiếng kẻ thù để hiểu được kẻ thù”. Tiếp đó, từ năm 1906 đến 1908, khi vào nhậm chức ở Huế, Nguyễn Sinh Sắc đã cho hai con cùng đi và cho con tiếp tục học ở trường tiểu học Pháp-Việt Đông Ba và Trường Quốc học Huế.
    Giáo dục tư tưởng cứu nước, cứu dân và đặt niềm tin vào con mình của cụ Nguyễn Sinh Sắc đã tạo thành ý chí, nghị lực và động lực cho Nguyễn Tất Thành. Sau này, trên đường đi vào phía Nam, “Nguyễn Tất Thành lên Bình Khê (Bình Định) thăm cha. Thấy con trai đến Bình Khê, cụ Nguyễn Sinh Sắc hỏi con: - Con đến đây làm gì? – Con đến đây tìm cha. Nghe vậy, cụ Sắc trìu mến nói với con: - Nước mất không lo đi tìm, tìm cha phỏng có ích gì?”. Nguyễn Tất Thành đã từ biệt thân phụ với niềm thôi thúc: “Nước mất thì đi tìm hồn của nước”. 
    Sự giáo dục của cụ Nguyễn Sinh Sắc không chỉ truyền cho các con trí tuệ, học vấn, mà còn truyền lòng nhiệt huyết, chí khí mạnh mẽ và động lực vượt qua mọi gian nan để vươn tới sự nghiệp lớn cứu nước, cứu dân, giải phóng dân tộc. Tính cách, ý chí của người dân xứ Nghệ, lòng yêu nước, thương dân của cụ Nguyễn Sinh Sắc đã ảnh hưởng sâu sắc và theo suốt cuộc đời Hồ Chí Minh sau này.
    Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc là một nhân cách lớn. Nguyễn Tất Thành tiếp nhận được những gì từ tấm gương của người cha kính yêu để hình thành nên nhân cách và chí hướng cách mạng của mình?
    Trước hết, đó là tấm gương ý chí kiên cường, quyết tâm vượt qua mọi gian khổ, khó khăn để đạt cho được mục tiêu. Người ta đã nói đến ý chí của người Nghệ Tĩnh. Nguyễn Sinh Sắc là một điển hình của ý chí đó. Ông nêu cao tấm gương hiếu học, khổ học. Quá nửa đời người, ông theo đuổi sự nghiệp. Đó là một hạn chế của ông. Nhưng ý chí vươn lên đỉnh cao của kiến thức, nghị lực phi thường, quyết tâm sắt đá của ông để đạt được mục tiêu đã trở thành tấm gương sáng cho con cái noi theo. Sau này ý chí cứu dân, cứu nước sôi sục, thường trực, thiết tha, không nhụt chí, không nản lòng của Nguyễn Ái Quốc chính là sự kế tục ý chí của thân phụ mình, có điều ở cường độ mãnh liệt hơn, với mục tiêu cao cả hơn.
    Tấm gương ý chí gắn liền với tấm gương lao động. Nguyễn Sinh Sắc từ khi nhỏ đã phải lao động (chăn trâu, cắt cỏ, nấu ăn...). Lúc về làm rể cụ Đường không phải ngồi không mà học, mà vừa làm vừa học. Đỗ Phó Bảng rồi ông vẫn cuốc đất làm vườn cùng với con cái. Đó là chỗ khác giữa Nguyễn Sinh Sắc với số lớn nhà nho đương thời. Phan Bội Châu không biết làm lao động chân tay. Phan Chu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền đều xuất thân gia đình khá giả. Nếu không có tấm gương và sự giáo dục đó của thân phụ mình, Nguyễn Tất Thành không thể khẳng khái, giơ hai bàn tay ra nói với bạn: “Chúng ta sẽ làm bất cứ việc gì để sống và để đi”.
    Nguyễn Sinh Sắc là một nhà nho cấp tiến, có nhân cách cao thượng. Ông xem thường lễ nghi phong kiến, khinh rẻ uy quyền, coi trọng đạo đức, gìn giữ nếp sống trong sạch, giản dị, gần gũi nhân dân, thương yêu học trò... Ông cũng là người thức thời không bảo thủ, ủng hộ chủ trương cải cách và duy tân của Phan Chu Trinh, tán thành quan điểm của ông nghè Nguyễn Quý Song: “Muốn đánh Pháp phải hiểu Pháp, muốn hiểu Pháp phải biết tiếng Pháp”, vì vậy ông cho con vào trường Pháp - Việt học tiếng Tây. 
    2. Sự dạy dỗ, giáo dục của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc đã hình thành nên Tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh
    Để tìm hiểu nhân cách và tư tưởng yêu nước, sự dạy dỗ, giáo dục của cụ Nguyễn Sinh Sắc tác động như thế nào đến nhân cách, ý chí cứu nước và tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cần đánh giá đầy đủ về khuynh hướng tư tưởng và hoạt động thực tiễn trong suốt cuộc đời của cụ, đặc biệt là những năm tháng của tuổi niên thiếu mà Nguyễn Tất Thành được sống gần gũi bên người cha của mình.
    Trong những năm dạy học ở quê nhà, Nguyễn Sinh Sắc có điều kiện đi sâu vào cuộc sống của nhân dân, giao du tiếp xúc với nhiều sĩ phu yêu nước như Phan Bội Châu, Đặng Thái Thân. Những nơi ông đến là những nơi có phong trào đấu tranh chống Pháp sôi nổi và anh dũng. Trong gia đình, Nguyễn Tất Thành là người được ông yêu thương và đặt nhiều hy vọng nhất, đi đến đâu ông cũng thường cho đi cùng, nhờ vậy mọi việc làm, mọi lời nói cử chỉ hàng ngày của ông đều đã tác động mạnh mẽ và ảnh hưởng sâu sắc tới Nguyễn Tất Thành. Đặc biệt là những cuộc đàm luận đã có ảnh hường sâu sắc tới tư tưởng yêu nước của Nguyễn Sinh Sắc góp phần giúp cho Nguyễn Tất Thành có nhiều suy nghĩ về con đường sẽ lựa chọn. Khi nghe thực dân Pháp tuyên truyền về cuộc đại cách mạng tư sản Pháp, Người đã suy nghĩ và muốn tìm hiểu bản chất của nó. Sau này Người đã nhắc lại ý nghĩ của mình trong giai đoạn này: “Vào trong tuổi 13, lần đầu tiên, tôi được nghe những từ Pháp “Tự do - Bình đẳng - Bác ái… thế là tôi muốn làm quen với văn minh Pháp, tìm xem những gì ẩn dấu đằng sau những từ ấy”. 
    Thời kỳ này phong trào yêu nước phát triển mạnh trong cả nước với nhiều khuynh hướng khác nhau, Nguyễn Sinh Sắc đi nhiều, thăm dò, đàm luận đắn đo suy nghĩ nhưng không nghiêng hẳn về một xu hướng nào. Vì thế ông không hành động theo một tổ chức nào kể cả phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, bạn chí thân của ông. Hai ông cùng chung tư tưởng yêu nước và mục đích cứu nước nhưng làm thế nào để cứu nước thì mỗi người suy nghĩ và hành động theo một hướng. Cũng vì thế Nguvễn Tất Thành đã từ chối con đường Đông du ngay từ khi cụ Phan Bội Châu muốn đưa sang Nhật học tập.
    Sau nhiều lần từ chối tháng 6-1906, Nguyễn Sinh Sắc vào Huế nhận chức Thừa biện bộ Lễ tại kinh đô Huế là trung tâm của thực dân phong kiến. Có điều kiện va chạm trực tiếp quan trường thực dân phong kiến. Lúc này ông mới thật hiểu nhân tình thế thái, hiểu sự thối nát của quan trường, hiểu cả những khó khăn, phức tạp và sự bế tắc của sự nghiệp cứu nước. Cụ nói với bà con: Người ta làm quan là để vinh thân phì gia nhưng tôi làm quan là để che thân. Bằng thực tế cuộc sống trong đám quan trường và của bản thân mình đang phải chịu đựng, ông chua xót nói với các giám sinh rằng: “Quan trường thị nô lệ trung chi nô lệ, hữu nô lệ” (Quan trường là nô lệ trong đám người nô lệ, lại càng nô lệ hơn). Tư tưởng tiến bộ, nhân cách cao thượng của người cha đã để lại những ấn tượng tốt đẹp đậm nét trong con người Nguyễn Tất Thành lúc thiếu thời. Trong khi đa số các nhà Nho không muốn cho con vào học trường Pháp - Việt vì vào đây phải học chữ Tây. Nhưng cụ Nguyễn Sinh Sắc thì nghĩ khác: “Muốn đánh Tây thì phải hiểu Tây, muốn hiểu Tây thì phải học tiếng Tây. Cho nên cụ vẫn cho con đến trường học. Cụ Nguyễn Sinh Sắc cho rằng: - Đây là điều kiện tốt nhất để con của mình trực tiếp tiếp xúc với nền giáo dục Pháp và nền văn minh Pháp. Thời kỳ học tập ở kinh đô Huế, Nguyễn Tất Thành ở chung với cha cho nên mỗi lời nói, mỗi việc làm, phong cách sống hàng ngày của người cha thân yêu đều có tác động trực tiếp tới suy nghĩ hành động và phong cách của Nguyễn Tất Thành. Nguyễn Sinh Sắc là người rất nghiêm khắc trong việc giáo dục con cái, tuy ông bị thực dân Pháp khiển trách vì con trai ông học ở trường Quốc học Huế đã có những lời chống Pháp trước mặt thầy giáo và học sinh nhân có cuộc biểu tình của dân chúng chống thuế năm 1908 - Nhưng ông vẫn dạy bảo con cái theo cách suy nghĩ và cách nhìn của mình.
    Tư tưởng tiến bộ và nhân cách cao thượng của cha. Những biến đổi lớn lao của xã hội nước ta trong những năm đầu thế kỷ XX, đặc biệt là vấn đề tự ý thức của bản thân đã làm cho tư tưởng yêu nước và lòng căm thù giặc của Nguyễn Tất Thành phát triển cao độ và suy nghĩ theo con đường riêng của mình.
    Trước khi đi vào các tỉnh phía Nam tìm đường ra nước ngoài, Nguyễn Tất Thành có lên Bình Khê thăm cha. Thấy con trai đến Bình Khê ông Nguvễn Sinh Sắc hỏi con:
    “Con đến đây để làm gì?
    Con đến đây để tìm cha.
    Nghe vậy ông Nguyễn Sinh Sắc trìu mến nói với con:
    Nước mất không lo đi tìm, tìm cha phỏng có lợi ích gì?”

    Cuộc gặp gỡ đó càng thôi thúc thêm Nguyễn Tất Thành quyết tâm đi ra nước ngoài tìm đường cứu nước. Trong những năm bôn ba ở nước ngoài, có lẽ hình Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc là một trong những niềm tin yêu nhất của Nguyễn Tất Thành giúp cho Người thêm nghị lực, thêm suy nghĩ hành động để chọn con đường nên đi và ngược lại trong những năm cuối đời mình hình ảnh người con thân yêu nhất Nguyễn Tất Thành cũng là niềm tin yêu nhất trong đời cụ. Cụ đã đặt niềm hy vọng nhất và đã có những nhắn nhủ cuối cùng. Vào khoảng tháng 9-1926, trước khi rời Sài Gòn bí mật sang Quảng Châu dự lớp Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội. Đồng chí Lê Mạnh Trinh đã đến chào tạm biệt cụ Nguyễn Sinh Sắc. Thông qua Lê Mạnh Trinh, cụ Nguyễn Sinh Sắc căn dặn người con trai của mình: “Cháu ra đi cố gắng. Bác nghe nói “Quốc” đương ở Quảng Châu. Cháu gặp thì nói: Bác vẫn khỏe, đừng lo... Cứ cố gắng làm việc, trung với nước tức là hiếu với Bác” . Cụ Nguyễn Sinh Sắc là một nhân cách lớn. Nguyễn Tất Thành đã tiếp nhận được từ nhân cách và tấm gương yêu nước của người cha kính yêu để hình thành nên phong cách và tư tưởng cách mạng của mình.

    Trước hết đó là tấm gương về ý chí kiên cường quyết tâm vượt qua mọi gian khổ khó khăn để đạt cho được mục tiêu. Cụ Nguyễn Sinh Sắc là một điển hình của ý chí đó. Ông đã nêu cao tấm gương hiếu học, khổ học. Quá nửa đời người ông theo đuổi sự nghiệp vươn lên đỉnh cao của kiến thức, quyết tâm sắt đá đó để đạt cho được mục tiêu, đã trở thành tấm gương sáng cho con cái noi theo. Sau này ý chí cứu dân, cứu nước sôi sục thường trực, thiết tha, không nhụt chí, không nản lòng của Hồ Chí Minh chính là sự kế tục ý chí của thân phụ mình, nhưng mãnh liệt hơn, với mục tiêu cao cả hơn. Tấm gương ý chí gắn liền với tấm gương lao động. Cụ Nguyễn Sinh Sắc từ nhỏ đã phải lao động chăn trâu, cắt cỏ, nấu ăn. Nguyễn Sinh Sắc không những là một học sinh thông minh hiếu học mà còn là một thiếu niên siêng năng trong lao động, hoạt bát trong sinh họat nết na lễ phép trong giao. Đỗ Phó bảng rồi cụ Nguyễn Sinh Sắc vẫn cuốc đất làm vườn cùng với con cái. Nếu không có tấm gương và sự giáo dục đó của thân phụ mình, Nguyễn Tất Thành không thể khẳng khái giơ hai bàn tay ra nói với bạn: Chúng ta đã làm bất cứ việc gì để sống và để đi. Việc Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước trong tư cách là người lao động làm bồi tàu, quét tuyết, rửa ảnh, thủy thủ... giữ gìn nếp sống cần kiệm, giản dị quyết tâm đi ra nước ngoài xem nước Pháp và các nước khác họ làm ăn thế nào rồi trở về giúp đồng bào, đó cũng chính là sự nối tiếp từ cách sống và chí huớng của người cha mình.
    Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc là một nhà Nho cấp tiến có nhân cách cao thượng. Ông xem thường lễ nghi phong kiến khuyên răn con cái chớ có học đòi. Đừng lấy phong cách nhà quan làm phong cách nhà mình. Ông xem quan là những kẻ nô lệ nhất trong đám người nô lệ, khinh rẽ uy quyền, coi trọng đạo đức, giữ gìn nếp sống trong sạch, giản dị gần gũi với dân, thương yêu học trò. Ông cũng là người thức thời không bảo thủ, có tư tưởng tiến bộ, có tâm huyết, có chí hướng, sống giản dị. Có lẽ trong những năm tháng sống bên cạnh cha đã ảnh hưởng cho Nguyễn Tất Thành một nếp sống thanh cao, tư tưởng tiến bộ như thế.
    Nhưng có lẽ tư tưởng thương dân của cụ Nguyễn Sinh Sắc mới là ảnh hưởng sâu sắc nhất, quyết định nhất đối với sự hình thành tư tưởng đạo đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.  Lòng thương dân đó có gốc sâu xa từ trong cuộc đời của mình, từ nghèo khổ mà đi lên chịu ơn sâu nghĩa nặng của dân. Nguyễn Sinh Sắc là con người đôn hậu dễ xúc cảm, giàu lòng thương người vốn xuất thân nghèo khố lại sống gần dân. Cụ hiểu sâu sắc nỗi khổ của dân - Với nỗi khổ niềm thương dân vô hạn, trước khi vào nhận chức Thửa biện bộ Lễ ông chỉ để lại một ít ruộng cho người con gái Nguyễn Thị Thanh, còn nửa ông bán lấy tiền giúp cho nhưng người dân trong làng có người thân phải đi phu. Trong thời làm quan, dù ngắn ngủi cụ vẫn đứng hẳn về phía nhân dân, trừng trị bọn cường hào tông lý… hay ức hiếp dân, bênh vực cho người nghèo. Hay khi bị thải hồi lòng thương dân của cụ càng bao la bát ngát, lòng thương dân của cụ càng sâu đậm cho nên nhân dân miền Nam nói chung và nhân dân Đồng Tháp nói riêng rất thương yêu qúy trọng cụ, không chỉ vì cụ là một nhà Nho yêu nước chân chính mà còn là một thầy thuổc giỏi học rộng, giàu lòng thương người, sẵn sàng giúp đỡ mọi người khi gặp hoạn nạn.
    Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn hóa, trước hết là truyền thống của gia đình, những con người cụ thể. Người được sống trong một gia đình mà mỗi người có một nét đẹp riêng. Trong đó, người cha, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc là người có học thức cao, có nhân cách cao thượng, trong sáng, yêu nước, thương dân đã ảnh hưởng rõ nét đối với nhân cách và ý chí cứu nước của Hồ Chí Minh, góp phần quan trọng hình thành nên tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đỗ Hoàng Linh - Nguyễn Văn Dương, Chuyện kể về thời niên thiếu của Bác Hồ, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2008.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011.
3. Song Thành (chủ biên), Hồ Chí Minh tiểu sử, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2006.
4. Đức Vượng (1993), Quá trình hình thành tư tưởng yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
5. Trần Dân Tiên (1975), Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật, Hà Nội.
6. Trần Minh Siêu, Những người thân trong gia đình Bác Hồ, Nxb Nghệ An, 1995.

Avatar: Tượng đài cụ Nguyễn Sinh Sắc và người thanh niên Nguyễn Tất Thành tại quảng trường TP Quy Nhơn, Bình Định - Ảnh: D.THANH, https://lyluanchinhtri.vn/tu-tuong-yeu-nuoc-thuong-dan-tu-cu-pho-bang-nguyen-sinh-sac-den-nguoi-thanh-nien-nguyen-tat-thanh-6552.html.

 

TS. Vũ Thị Thu Giang, Viện Sử học, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam
Tin nổi bật
  • Bộ sách gồm 10 tập, Viện Sử học dịch, Nxb KHXH xuất bản.
    23/04/2013
  • Đại Nam nhất thống chí đời Tự Đức là bộ sách địa lý học Việt Nam đầy đủ nhất dưới thời phong kiến. Đại Nam nhất thống chí theo bộ Đại Thanh nhất thống chí của Trung Quốc mà chia ra các mục như: phương vi, phân dã, kiến trí, duyên cách, phủ huyện, hình thế, khí hậu, phong tục, thành trì, học hiệu, hộ khẩu, điền phú, sơn xuyên, quan tấn, dịch trạm, thị lập, tứ miếu, tự quán, phân việt, thổ sản, v.v... Ngoài ra, Đại Nam nhất thống chí còn có quyển chép riêng về Cao Miên (Campuchia), Xiêm La, Miến Điện, Nam Chưởng, Vạn Tượng.
    22/04/2013
  • Trong tập sách này, các tác giả không chỉ trình bày các sự kiện về quân sự, chính trị mà còn nêu lên nhiều sự kiện khác thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại....
    27/09/2012
  • "Việt Nam những sự kiện lịch sử (Từ khởi thủy đến 1858)" là cuốn sách ghi lại các sự kiện lịch sử nước nhà từ khởi thủy đến khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược vào giữa thế kỷ XIX.
    27/09/2012
  • Đại Nam liệt truyện là một bộ sách có quy mô khá đồ sộ trong kho tàng thư tịch cổ viết bằng chữ Hán của Việt Nam, do cơ quan làm sử chính thức của nhà Nguyễn là Quốc sử quán biên soạn vào giữa thế kỷ XIX.
    24/09/2012
  • Lịch triều hiến chương loại chí là bộ bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam. Có nghĩa là Phép tắc các triều đại chép theo thể phân loại do Phan Huy Chú soạn trong 10 năm (1809-1819).
    23/09/2012
  • Là bộ sử có giá trị to lớn và quan trọng bậc nhất trong nền sử học Việt Nam thời kỳ cổ trung đại. Bộ chính sử do Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê biên soạn.
    22/09/2012
  • Cuốn sách Cổ luật Việt Nam gốm 2 bộ Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ. Quốc triều hình luật (còn gọi là bộ luật Hồng Đức) và Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là bộ luật Gia Long) là hai bộ cổ luật duy nhất còn lại cho đến nay của các triều đại phong kiến Việt Nam; là những di sản quý giá có giá trị tham khảo về nhiều mặt cho chúng ta ngày nay.
    19/09/2012
  • Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ là một bộ sách được biên soạn dưới triều Nguyễn theo thể loại Hội điển. Thể loại này được đặt ra nhằm ghi chép lại các điển pháp, quy chuẩn và các dữ kiện liên quan đến tổ chức và hoạt động của một triều đại, một Nhà nước.
    19/09/2012
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1