Ý nghĩa của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên đối với cách mạng Việt Nam
Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946 là sự kiện chính trị có ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân Việt Nam trực tiếp thực hiện quyền chính trị phổ thông đầu phiếu để bầu ra cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước. Trong bối cảnh sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, sự kiện này mang ý nghĩa xác lập chủ quyền nhân dân trên thực tế, chuyển quyền lực từ chính quyền cách mạng lâm thời sang một thiết chế đại diện hợp hiến.
TS. Trương Thị Hải
Viện Sử học
1. Về cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946
Cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I ngày 6-1-1946 diễn ra trong một bối cảnh lịch sử đặc biệt của dân tộc Việt Nam. Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời ngày 2-9-1945, đánh dấu sự sụp đổ của chế độ thực dân - phong kiến và mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc. Tuy nhiên, chính quyền cách mạng non trẻ phải đối mặt với hàng loạt khó khăn mang tính sống còn.
Nhà nước mới chưa được quốc tế công nhận, các thế lực ngoại bang tìm cách can thiệp “Việc giành chính quyền càng dễ bao nhiêu thì việc giữ chính quyền càng khó bấy nhiêu. Chính phủ Dân chủ Cộng hòa mới thành lập đã phải đối phó với một tình thế vô cùng phức tạp không chỉ đối phó với Pháp mà thôi, lại còn Anh, Tàu can thiệp vào nội chính của ta nữa. Chính quyền mới giành phải đối phó với ba việc khó khăn: 1. Chống thực dân Pháp xâm lược, 2. Trừ nạn đói, 3. Xử trí với bọn Đại Việt, Việt Nam Quốc dân Đảng, Nguyễn Hải Thần đã dựa vào thế lực Tàu, nhập cục thành một khối… đối lập với Chính phủ, tham dự chính quyền” (1). Ở miền Bắc, hơn 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc kéo vào với danh nghĩa giải giáp quân Nhật; ở miền Nam, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược “bọn thực dân Pháp đang cố gắng lập chính quyền bù nhìn hay chính quyền quân nhân ở những nơi chiếm đóng” (2). Chính quyền cách mạng đứng trước nguy cơ “thù trong, giặc ngoài” cùng lúc.
Về kinh tế, tài chính, hậu quả của nạn đói năm 1945 khiến hơn 2 triệu người chết, ngân khố quốc gia trống rỗng, 50% ruộng đất trong Nam và 25% ruộng đất ngoài Bắc bị bỏ hoang. Chính phủ chưa phát hành được giấy bạc, ngân quỹ cạn dần, Pháp không đổi giấy bạc 500$, Tàu tiêu quan kim làm cho tài chính và thương mại của ta càng thêm nguy khốn. Mức sống của dân sút kém, nạn thất nghiệp tăng gia, nhiều nơi dân đã phải ăn cháo, lác đác đã có người chết đói (3). Tỷ lệ mù chữ trên 90%, sản xuất đình đốn, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn.
Về phương diện pháp lý - chính trị, chính quyền cách mạng cần một cơ sở hợp pháp và hợp hiến để khẳng định trước nhân dân và thế giới rằng đây là một chính quyền do nhân dân lựa chọn. Trong Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945 tại Quảng trường Ba Đình, Hồ Chí Minh đã khẳng định quyền dân tộc tự quyết. Tuy nhiên, để quyền đó được thể chế hóa, cần có một hiến pháp, một trong sáu nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đó là: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống,…” (4).
Có thể thấy rằng, ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, ngày 8-9-1945, Chính phủ lâm thời đã ban hành Sắc lệnh số 14-SL quy định về tổ chức Tổng tuyển cử theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Đây là những nguyên tắc cốt lõi của một nền dân chủ hiện đại (5).
Để mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, thực hiện chủ trương “thống nhất, thống nhất và thống nhất”, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng bộ Việt Minh quyết định mời tất cả những người ngoài Mặt trận Việt Minh cùng đứng chung danh sách ứng cử. Hành động này chứng tỏ Chính phủ và Việt Minh luôn luôn tôn trọng quyền tự do dân chủ của nhân dân, tôn trọng người tài năng, đoàn kết mọi lực lượng yêu nước, thiện tâm thiện chí vì quyền lợi tối cao của dân tộc. Trong cuộc Tổng tuyển cử, hễ là người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử; hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử. Không chia gái trai, giàu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phái, hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó. Vì lẽ đó, cho nên Tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng, tức là dân chủ đoàn kết (6)
So với thời kỳ thuộc địa, đây là sự thay đổi mang tính cách mạng. Dưới chế độ thực dân Pháp, các cơ quan như Hội đồng Thuộc địa hoặc Viện Dân biểu chỉ có số lượng rất hạn chế người Việt tham gia và quyền hạn bị giới hạn nghiêm ngặt. Quyền chính trị của đại đa số nhân dân bị tước bỏ hoàn toàn. Vì vậy, Tổng tuyển cử 1946 không chỉ là một hoạt động bầu cử thông thường mà là sự khẳng định quyền làm chủ của toàn dân tộc sau hàng thế kỷ bị trị. Trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, Chính phủ đã thành lập các Ủy ban bầu cử từ Trung ương đến địa phương, niêm yết danh sách cử tri, ứng cử viên công khai. Công tác tuyên truyền được đẩy mạnh nhằm nâng cao nhận thức chính trị của nhân dân về ý nghĩa của lá phiếu. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức, để gánh vác công việc nước nhà” (7).
Nhân dân tích cực hưởng ứng cuộc Tổng tuyển cử, có địa phương đến 90% tổng số cử tri đi bỏ phiếu - một tỷ lệ rất cao trong điều kiện đất nước vừa trải qua chiến tranh và nạn đói. Kết quả bầu được 333 đại biểu, 87% số đại biểu là công nhân, nông dân, chiến sĩ cách mạng, 10 đại biểu nữ và 34 đại biểu các dân tộc ít người. Trong số 333 đại biểu, có 57% số đại biểu thuộc các đảng phái dân chủ khác nhau, 43% đại biểu không thuộc đảng phái nào (8). Điều đáng chú ý là trong danh sách trúng cử có nhiều nhân sĩ, trí thức không phải đảng viên cộng sản. Điều này phản ánh chủ trương đoàn kết rộng rãi của chính quyền cách mạng nhằm xây dựng một chính phủ liên hiệp, tạo sự đồng thuận quốc gia trong giai đoạn đầu độc lập.
Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946 đã dẫn tới sự ra đời của Quốc hội khóa I - Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đánh dấu bước phát triển có tính chất khai sinh của nền dân chủ mới, mở ra một thời kỳ lịch sử trong tiến trình xây dựng nhà nước cách mạng của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Từ đây, quyền lực nhà nước thực sự được xác lập trên nền tảng ý chí và nguyện vọng của toàn thể nhân dân Việt Nam. Ngày 2-3-1946, kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa I khai mạc tại Hà Nội. Quốc hội đã chính thức thành lập Chính phủ Liên hiệp kháng chiến do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Sự kiện này đánh dấu việc hoàn tất quá trình chuyển đổi từ chính quyền cách mạng lâm thời sang chính quyền hợp hiến do Quốc hội bầu ra.
2. Ý nghĩa của cuộc Tổng tuyển cử đối với cách mạng Việt Nam
Thứ nhất, đặt nền tảng pháp lý và chính trị cho Nhà nước Việt Nam mới
Một trong những ý nghĩa quan trọng của cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946 là tạo cơ sở pháp lý và chính trị vững chắc cho việc xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước của nước Việt Nam độc lập. Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được công bố trong Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam do Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình, chính quyền cách mạng mới được thành lập chủ yếu dựa trên uy tín chính trị của lực lượng cách mạng và sự ủng hộ của quần chúng nhân dân. Tuy nhiên, để nhà nước mới thực sự trở thành một thiết chế chính trị hợp pháp, được tổ chức chặt chẽ và hoạt động theo khuôn khổ pháp luật, việc thành lập một cơ quan quyền lực nhà nước do nhân dân bầu ra là yêu cầu cấp thiết.
Cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946 đã đáp ứng yêu cầu đó khi bầu ra Quốc hội khóa I, cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân và là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Việt Nam độc lập. Việc hình thành Quốc hội thông qua bầu cử phổ thông đầu phiếu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi đây là lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam xuất hiện một cơ quan lập pháp được thành lập trên cơ sở ý chí và sự lựa chọn trực tiếp của nhân dân. Điều này đánh dấu bước chuyển căn bản từ một chính quyền cách mạng được thiết lập trong hoàn cảnh đấu tranh giành chính quyền sang một nhà nước có tổ chức hợp hiến, hợp pháp và hoạt động theo nguyên tắc dân chủ.
Sau khi được thành lập, Quốc hội khóa I đã nhanh chóng thực hiện những nhiệm vụ trọng yếu nhằm hoàn thiện hệ thống tổ chức của nhà nước. Tại kỳ họp đầu tiên vào tháng 3-1946, Quốc hội đã bầu ra các cơ quan lãnh đạo chủ chốt của nhà nước, đồng thời thành lập Chính phủ chính thức của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Hồ Chí Minh đứng đầu. Quyết định này không chỉ giúp kiện toàn bộ máy hành pháp mà còn tạo nên một cơ cấu tổ chức nhà nước rõ ràng, phân định chức năng và quyền hạn giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị.
Bên cạnh việc tổ chức bộ máy chính quyền, Quốc hội khóa I còn đặc biệt chú trọng đến việc xây dựng nền tảng pháp lý cho nhà nước mới. Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất được đặt ra là soạn thảo và ban hành hiến pháp - văn bản pháp lý có giá trị cao nhất, quy định những nguyên tắc cơ bản về tổ chức quyền lực nhà nước cũng như quyền và nghĩa vụ của công dân. Sau quá trình chuẩn bị và thảo luận, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp Việt Nam năm 1946, bản hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam độc lập. Bản hiến pháp này đã xác lập những nguyên tắc quan trọng của chế độ dân chủ, khẳng định quyền lực thuộc về nhân dân, đồng thời quy định rõ cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của bộ máy nhà nước. Việc ban hành Hiến pháp năm 1946 có ý nghĩa sâu sắc đối với tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Hiến pháp không chỉ tạo ra khuôn khổ pháp lý cho hoạt động của các cơ quan nhà nước mà còn thể hiện rõ những giá trị tiến bộ của chế độ mới như bảo đảm quyền tự do dân chủ của công dân, đề cao nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật và xác lập trách nhiệm của nhà nước đối với nhân dân. Nhờ đó, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từng bước được củng cố cả về mặt chính trị lẫn pháp lý.
Thứ hai, khẳng định quyền làm chủ của nhân dân
Cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946 diễn ra trong bối cảnh nước Việt Nam vừa giành được chính quyền sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được tuyên bố trong Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam 1945 do Hồ Chí Minh công bố. Tuy nhiên, chính quyền cách mạng lúc bấy giờ vẫn còn non trẻ và phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức cả trong nước lẫn quốc tế. Trong hoàn cảnh đó, việc tổ chức một cuộc bầu cử trên phạm vi toàn quốc để thành lập cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm khẳng định vai trò làm chủ của nhân dân đối với vận mệnh đất nước.
Trước hết, cuộc Tổng tuyển cử đã thể hiện rõ nguyên tắc quyền lực thuộc về nhân dân, một tư tưởng cơ bản của chế độ dân chủ mới. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, mọi công dân từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt giới tính, giai cấp, tôn giáo, dân tộc, nghề nghiệp hay trình độ học vấn đều có quyền tham gia bầu cử và ứng cử. Điều này đánh dấu sự thay đổi căn bản so với các chế độ trước đó, khi quyền tham gia chính trị của nhân dân bị hạn chế hoặc bị tước bỏ. Dưới chế độ thực dân phong kiến, đại bộ phận nhân dân không có quyền quyết định đối với các vấn đề chính trị của đất nước. Vì vậy, cuộc bầu cử năm 1946 đã mở ra một thời kỳ mới, trong đó người dân thực sự trở thành chủ thể của quyền lực nhà nước.
Bên cạnh đó, việc tổ chức bầu cử theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín đã thể hiện rõ tính tiến bộ và dân chủ của nhà nước cách mạng. Những nguyên tắc này bảo đảm cho mọi công dân đều có quyền ngang nhau trong việc lựa chọn đại biểu của mình, đồng thời tạo điều kiện để ý chí và nguyện vọng của nhân dân được phản ánh một cách trung thực trong cơ quan quyền lực nhà nước. Nhờ đó, Quốc hội được thành lập từ cuộc Tổng tuyển cử thực sự là cơ quan đại diện cho lợi ích và ý chí của toàn thể nhân dân.
Trong bối cảnh các thế lực thù địch tìm cách phủ nhận vai trò của chính quyền mới, việc tổ chức thành công một cuộc bầu cử dân chủ với sự tham gia đông đảo của nhân dân đã chứng minh rằng Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là chính quyền hợp pháp, được nhân dân ủng hộ và lựa chọn. Chính điều này đã tạo cơ sở chính trị vững chắc để chính quyền cách mạng tiếp tục lãnh đạo đất nước vượt qua những thử thách trong giai đoạn đầu của nền độc lập.
Thứ ba, củng cố khối đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp bảo vệ nền độc lập
Cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc củng cố và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc trong giai đoạn đầu của chính quyền cách mạng. Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam mới ra đời nhưng phải đối mặt với tình thế vô cùng khó khăn: nền kinh tế kiệt quệ sau nhiều năm chiến tranh và khai thác thuộc địa, nạn đói và nạn mù chữ còn phổ biến, trong khi các thế lực phản động trong và ngoài nước tìm cách chống phá chính quyền cách mạng. Trong bối cảnh đó, việc tổ chức một cuộc bầu cử dân chủ trên phạm vi toàn quốc không chỉ nhằm xây dựng bộ máy nhà nước hợp pháp mà còn là biện pháp quan trọng để tập hợp và củng cố lực lượng của toàn dân tộc.
Trước hết, cuộc Tổng tuyển cử đã tạo ra một diễn đàn chính trị chung cho mọi tầng lớp xã hội tham gia vào đời sống chính trị của đất nước. Lần đầu tiên trong lịch sử, quyền bầu cử và ứng cử được trao cho đông đảo công dân Việt Nam, bất kể họ thuộc thành phần xã hội nào. Từ công nhân, nông dân, trí thức đến các nhà tư sản dân tộc, các nhân sĩ yêu nước, các chức sắc tôn giáo và đồng bào các dân tộc thiểu số đều có quyền tham gia lựa chọn đại biểu của mình vào cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước. Điều này thể hiện rõ tinh thần đoàn kết và hòa hợp dân tộc mà Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương chủ trương xây dựng trong giai đoạn đầu của nền độc lập.
Bên cạnh đó, quá trình chuẩn bị và tổ chức bầu cử còn tạo điều kiện để mở rộng và củng cố Mặt trận đoàn kết dân tộc. Trong quá trình vận động bầu cử, nhiều lực lượng chính trị, tổ chức xã hội và cá nhân tiêu biểu của các tầng lớp khác nhau đã tham gia vào các danh sách ứng cử, qua đó thể hiện tinh thần hợp tác vì lợi ích chung của quốc gia. Việc mời đại biểu của nhiều đảng phái và tổ chức chính trị tham gia Quốc hội khóa I cũng cho thấy nỗ lực xây dựng một chính quyền rộng rãi, đại diện cho lợi ích chung của dân tộc trong bối cảnh đất nước đang đứng trước nguy cơ bị các thế lực bên ngoài can thiệp.
Ngoài ra, cuộc Tổng tuyển cử còn có tác dụng tăng cường sự gắn bó giữa chính quyền cách mạng và quần chúng nhân dân. Thông qua việc trực tiếp tham gia bầu cử, người dân cảm nhận rõ ràng vai trò và trách nhiệm của mình đối với vận mệnh quốc gia. Sự tham gia tích cực của đông đảo cử tri trên khắp cả nước đã thể hiện niềm tin của nhân dân đối với chính quyền mới, đồng thời tạo nên cơ sở chính trị, xã hội vững chắc để chính quyền cách mạng huy động sức dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
Ý nghĩa đoàn kết của cuộc Tổng tuyển cử năm 1946 càng trở nên rõ nét khi đặt trong bối cảnh đất nước phải đối mặt với nguy cơ tái xâm lược của thực dân Pháp. Việc toàn dân tham gia bầu cử và cùng lựa chọn đại biểu vào Quốc hội đã tạo nên sự thống nhất về ý chí và mục tiêu chính trị, góp phần củng cố sức mạnh tinh thần của dân tộc. Chính sự đồng thuận đó đã trở thành một trong những yếu tố quan trọng giúp chính quyền cách mạng đứng vững trong những năm đầu đầy thử thách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Thứ tư, nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của Nhà nước Việt Nam
Cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946 không chỉ mang ý nghĩa chính trị sâu sắc trong phạm vi quốc gia mà còn có giá trị quan trọng đối với vị thế của Nhà nước Việt Nam trên trường quốc tế. Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 và việc công bố Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam 1945 do Hồ Chí Minh đọc tại Hà Nội, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra đời. Tuy nhiên, trong bối cảnh quốc tế lúc bấy giờ, chính quyền cách mạng còn phải đối mặt với nhiều thách thức về mặt pháp lý và ngoại giao. Một số thế lực bên ngoài vẫn tìm cách phủ nhận tính hợp pháp của nhà nước mới, đồng thời nuôi tham vọng tái lập quyền thống trị của chủ nghĩa thực dân.
Trong hoàn cảnh đó, việc tổ chức thành công một cuộc tổng tuyển cử dân chủ trên phạm vi cả nước đã trở thành một bằng chứng thuyết phục khẳng định rằng chính quyền mới ở Việt Nam là chính quyền do nhân dân tự lựa chọn và ủng hộ. Hơn nữa, cuộc bầu cử được tiến hành theo các nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và trực tiếp, phản ánh những giá trị dân chủ phổ biến của thời đại. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc chứng minh với cộng đồng quốc tế rằng Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không phải là một chính quyền được thiết lập bằng áp đặt, mà là kết quả của ý chí và nguyện vọng của toàn thể nhân dân Việt Nam.
Mặt khác, kết quả của cuộc Tổng tuyển cử đã dẫn tới sự ra đời của Quốc hội khóa I, cơ quan đại diện hợp pháp của nhân dân cả nước. Từ cơ sở đó, Quốc hội đã tiến hành tổ chức bộ máy nhà nước, thành lập Chính phủ chính thức và xây dựng hệ thống pháp lý của quốc gia, trong đó có việc ban hành Hiến pháp Việt Nam năm 1946. Những bước đi này đã giúp củng cố nền tảng pháp lý của nhà nước mới, qua đó nâng cao tính chính danh của Việt Nam trong quan hệ với các quốc gia và lực lượng chính trị trên thế giới.
Ngoài ra, cuộc Tổng tuyển cử còn góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đối ngoại của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong giai đoạn đầu sau khi giành độc lập. Việc một quốc gia vừa thoát khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân nhưng vẫn có khả năng tổ chức một cuộc bầu cử dân chủ rộng rãi đã gây được sự chú ý và thiện cảm nhất định trong dư luận quốc tế. Điều này giúp Việt Nam có thêm cơ sở để tranh thủ sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới, đồng thời đấu tranh về mặt ngoại giao trước những âm mưu can thiệp hoặc phủ nhận quyền độc lập của dân tộc.
Thứ năm, chuẩn bị cơ sở pháp lý và tổ chức cho cuộc kháng chiến chống Pháp
Tổng tuyển cử 1946 đã tạo lập nền tảng pháp lý - tổ chức cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Sau khi Quốc hội khóa I được thành lập, một trong những nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng Hiến pháp. Ngày 9-11-1946, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp 1946, văn bản pháp lý tối cao đầu tiên của nước Việt Nam mới. Hiến pháp này xác lập nguyên tắc chủ quyền nhân dân và quy định rõ cơ cấu bộ máy nhà nước, tạo cơ sở pháp lý để điều hành đất nước trong thời chiến. Bên cạnh đó, Chính phủ do Quốc hội bầu ra đã tiến hành đàm phán và ký kết Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946 với Pháp nhằm tranh thủ thời gian hòa hoãn, củng cố lực lượng. Quyết sách này thể hiện tính chủ động và linh hoạt của một nhà nước có tổ chức, có cơ sở pháp lý đầy đủ. Khi thực dân Pháp gây hấn và chiến tranh toàn quốc bùng nổ ngày 19-12-1946, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã có đầy đủ thiết chế lập pháp, hành pháp và tư pháp để lãnh đạo cuộc kháng chiến. Điều này khác biệt căn bản với nhiều phong trào kháng chiến trước đó vốn thiếu một cơ cấu nhà nước thống nhất và hợp pháp.
*
* *
Trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, những bài học từ Tổng tuyển cử 1946 vẫn giữ nguyên giá trị lý luận và thực tiễn. Thứ nhất, bài học về phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Cơ chế bầu cử phổ thông đầu phiếu năm 1946 khẳng định rằng quyền lực nhà nước phải bắt nguồn từ nhân dân và chịu sự kiểm soát của nhân dân. Nguyên tắc này hiện nay tiếp tục được cụ thể hóa trong Hiến pháp 2013 với quy định “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân (Khoản 1, Điều 2)”. Thứ hai, bài học về đại đoàn kết dân tộc, Quốc hội khóa I quy tụ nhiều thành phần xã hội và xu hướng chính trị khác nhau, thể hiện tinh thần hòa hợp và đồng thuận quốc gia. Trong bối cảnh hội nhập và phát triển, việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc vẫn là nhân tố quyết định bảo đảm ổn định chính trị - xã hội. Thứ ba, bài học về kết hợp giữa tính hợp pháp trong nước và chính danh quốc tế. Năm 1946, cuộc bầu cử đã tạo cơ sở để Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khẳng định vị thế trước cộng đồng quốc tế. Ngày nay, trong quá trình hội nhập toàn cầu, việc xây dựng một nhà nước vận hành trên cơ sở pháp luật, tôn trọng quyền con người và thực thi dân chủ thực chất tiếp tục là nền tảng củng cố uy tín quốc gia.
Tài liệu trích dẫn:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 23.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 23.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.24.
4. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4 (1945 - 1946), Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011 tr. 7.
5. Quốc hội Việt Nam, Quốc hội Việt Nam - 70 năm hình thành và phát triển (1946 - 2016), Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2016, tr. 26
6. Văn phòng Quốc hội, Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946 - 1960, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 34.
7. Văn phòng Quốc hội, Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946 - 1960, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 34.
8. Viện Sử học, Lịch sử Việt Nam, tập 10, Nxb Khoa học xã hội, 2017, tr. 80.
* Ảnh Avatar - Nguồn: https://baochinhphu.vn/tu-la-phieu-den-hieu-qua-quan-tri-quoc-gia-y-nghia-cua-bau-cu-nam-2026-102260301092244925.htm