Chính quyền chúa Nguyễn với việc xây dựng và huy động lực lượng an ninh, phòng thủ, bảo vệ chủ quyền biển đảo ở Đàng Trong thế kỷ XVII-XVIII
1.
Xây dựng và phát triển lực lượng thủy quân
Lực lượng quân
thủy chủ lực trong an ninh, phòng thủ, thực thi, bảo vệ chủ quyền biển đảo ở Đàng Trong thế kỷ
XVII-XVIII là chính binh, thuộc binh thủy quân miền biển và
hải đảo, thủ ngự thủy quân cửa biển. Lực lượng
này được chính quyền chúa Nguyễn chú trọng xây dựng, phát triển về số lượng và
sự tinh nhuệ trong chiến đấu, sắp đặt chốt giữ các
vị trí trọng yếu,
then chốt trong hệ thống phòng thủ bờ biển và hải đảo, tuần tra, truy
bắt giặc biển, thường trực và sẵn sàng ứng chiến đảm bảo an ninh, phòng thủ và chủ
quyền biển đảo, chủ quyền Đàng Trong.
Qua thống kê số liệu ghi chép trong
Phủ biên tạp lục về ngạch binh Đàng
Trong, tổng số quân
thủy chúa Nguyễn gồm:
26.001 người (trong
đó có 9.681 chính binh quân thủy, 16.320 thủ ngự thủy quân), cùng số thủy
quân 51 thuyền
(45 thuyền chính binh, 6 thuyền thuộc binh), số chính binh thủy quân hai đội Tả thủy, Hữu thuỷ, số thủy quân của 54
chiếc ghe bầu hải sư, 460 chiếc chiến thuyền
thuộc binh, 234 chiếc chiến thuyền thủ ngự. Trong
đó có lực lượng chuyên trách an ninh, phòng thủ và bảo vệ chủ quyền biển đảo.
Cùng với phát triển quân số, chính quyền Phủ chúa cũng chú trọng phát triển sức mạnh tinh nhuệ
thủy quân (nhất là tác
chiến trên biển) bằng các hoạt động
tăng cường luyện tập thủy chiến, phát triển chiến thuyền và vũ khí chiến đấu. Về
luyện tập thủy quân, vào năm Nhâm Ngọ (1642), chúa
Nguyễn Phúc Lan đã huy động dân binh đắp trường lập thủy binh ở xã Hồng Phúc, đắp
một gò đất cao hơn 30 thước, rộng hơn 120 thước, để tháng 7 hằng năm thao luyện
thủy quân, bơi thuyền bắn súng.
Về phát triển chiến thuyền và vũ khí chiến đấu, ngay từ năm 1621, trong ghi chép của C. Borri, chúa Nguyễn có đến một trăm chiếc thuyền chiến, trang
bị đủ súng ống và nghiêm chỉnh nghênh chiến. Đến
năm 1642, theo tính toán của vị thuyền trưởng người Hà Lan Jacop van Liesvelt (trong
bức thư gửi Hội đồng giám đốc Công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC)),
tổng số thuyền chiến của Đàng Trong là 300 chiếc. Đến những năm 1695-1696, thủy quân Đàng Trong đã có bước tiến vượt bậc về số
lượng và trang bị, với 200 chiến hạm có từ
16 đến 22 khẩu đại bác, 100 chiếc thuyền lớn có
50 - 75 tay chèo, 3 chiếc của người châu Âu, 500 chiến thuyền nhỏ có 40 -
44 tay chèo.
Đặc điểm thuyền
chiến Đàng Trong có hình dáng dài thấp mạn, cơ động, thích hợp hoạt động ven biển và cơ động khi vào sông ra biển.
Thuyền chiến lớn
nhất có chiều dài khoảng 90-100 cao 7-8 mặt boong
cách mặt nước khoảng 2,5 , phía mũi thuyền có một buồng nhỏ hình vuông, 4 cửa lùa, mỗi chiều rộng 7-8 . Mỗi thuyền có khoảng 40-60 cột chèo, thường được trang bị pháo thuyền, súng tay. Thuyền có trọng
tải ước chừng khoảng 100-150 tấn. Dưới chủ trương chú trọng tác chiến trên biển của chính quyền
chúa Nguyễn, cùng sự giúp đỡ của người Bồ Đào Nha,
thuyền chiến Đàng Trong thường có số lượng pháo nhiều hơn thuyền chiến Đàng
Ngoài, nhất là pháo mạn để tăng sức chiến đấu trong môi trường không gian biển rộng
lớn, chống trả hoặc tấn công địch từ nhiều phía.
Thủy quân Đàng Trong
mang đặc trưng
chung của quân thủy Việt Nam thời quân chủ, chưa tách biệt trong chức năng và nhiệm vụ thành quân thủy
nội địa và hải quân, song so với quân thủy Lê - Trịnh ở Đàng
Ngoài thì tính chất “hải quân” của quân thủy Nguyễn vẫn nổi trội hơn. Nhờ những nỗ lực xây dựng sức mạnh thủy quân, đặc biệt là sức mạnh trên biển,
quân thủy chúa Nguyễn đã khẳng định vai trò là lực lượng chính quy chủ chốt trong phòng thủ, đảm bảo an
ninh, thực thi và bảo vệ chủ quyền biển đảo, chủ quyền Đàng Trong những thế kỷ
XVII-XVIII với các hoạt động tuần tra biển đảo, phòng chống cướp biển, kiểm
soát chặt tàu thuyền ra vào cửa biển, đánh tan nhiều cuộc tấn công của Đàng
Ngoài bằng đường biển, hay phá tan nhiều mưu đồ xâm chiếm, can thiệp Đàng Trong
của các nước phương Tây. Ví như thắng lợi của thủy quân Nguyễn đánh
tan hạm đội Hà Lan (Ô
Lan) ở cửa Eo (cửa biển Thuận An) vào năm 1643, cho dù người Hà Lan vẫn tự coi là “chúa biển” ở giai đoạn này. Đó còn là thắng lợi trong phá
tan âm mưu xâm chiếm đảo Côn Lôn của thế lực đại dương Anh (Man An Liệt; vào các năm 1702-1703) và âm mưu của Pháp xâm chiếm “hai hải khẩu chính: cửa Hàn và Hội An”.
Chẳng vậy mà, Lê Quý Đôn cũng từng phải thừa nhận thủy quân Đàng
Trong “đều tinh thủy chiến”.
Hay sức mạnh trên biển của thủy quân chúa Nguyễn còn được nhiều thương nhân, thượng khách... ngoại quốc đến Đàng Trong thời kỳ này miêu tả, nhận định khách quan, trung thực, như "chúa rất
mạnh về đường biển” của C. Borri trong chuyến du hành đến Đàng Trong năm 1621, "thủy
quân rất mạnh mẽ" của vị hòa thượng Trung Quốc là Thích Đại Sán khi vượt biển đến Thuận Hóa - Quảng Nam vào những năm
1695-1696 để truyền giảng đạo Phật theo lời mời của chúa Nguyễn Phúc
Chu[17].
2. Xây dựng
lực lượng quan chế
Trong quản lý và phòng bị từ phía biển, chúa Nguyễn còn cho lập Ty
tàu (Ty Tàu vụ). Đây là cơ quan
chuyên trách về ngoại thương, ngoại giao và đảm bảo an ninh, phòng thủ vùng cửa
biển (thu thuế, hộ dẫn, giám sát, kiểm soát tàu thuyền đến Đàng Trong, nhất là
đến hải cảng thương mại Hội An buôn bán, cứu hộ tàu thuyền gặp nạn đường biển).
Ty tàu đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của chúa Nguyễn và là cơ quan trực tiếp chỉ đạo, huy động các lực lượng tuần ty, đồn thủ, dân
binh, dân phụ lũy, và phối hợp cùng nha môn địa phương trong nhiệm vụ đảm bảo an
ninh, phòng thủ vùng cửa biển, nhất là vùng
cửa biển dẫn đến thương cảng Hội An. Theo quy định của chính
quyền chúa Nguyễn, vào tháng Giêng hằng năm, quan Cai bạ, Tri bạ, Lệnh sử, Cai phủ, Ký lục của Ty tàu đến hải cảng thương mại Hội An (thuộc Thành phố Đà Nẵng ngày nay) để quản lý, thực thi, chỉ đạo và giám sát các lực lượng
thực thi nhiệm vụ an ninh, phòng thủ vùng cửa biển và hải cảng thương mại này, như thu thuế, kiểm
soát, giải quyết vụ việc của tàu thuyền đến giao thương, tránh gió bão ở nơi
đây. Ty tàu cử những thuộc quân thông hiểu tiếng nước ngoài đến canh giữ Cù lao Chàm (Cù lao Chiêm) và cửa biển Đà Nẵng (cửa
Hàn), xét hỏi tàu thuyền nước ngoài đến những vùng
cửa biển này. Chỉ những tàu thuyền đã được thuộc quân Ty Tàu tại cửa biển Đà Nẵng và Cù lao
Chàm xét hỏi, xác thực thì mới được
vào phố Hội An, dưới sự giám sát chặt chẽ của
các chức phận.
Các chức vụ trong Ty tàu được đặt với số lượng: Cai
tàu, Tri tàu mỗi chức 1 viên
quan; Cai bạ tàu, Tri bạ tàu, Cai phủ tàu, Ký lục tàu, Thủ tàu nội, mỗi chức 2 viên quan; Cai phòng 6 người; Lệnh sử 30 người; Toàn súng
binh 50 người, Lính tàu 4 đội gồm
70 người, Thông sự 7 người.
Quan tuần ty, đồn thủ được biên chế tại các tuần ty, đồn thủ canh phòng nơi cửa biển, có nhiệm vụ phòng giữ, kiểm xét,
giám sát và thu thuế tàu thuyền ra vào cửa biển dưới sự điều lệnh trực tiếp của
Ty tàu, để đảm bảo an ninh, phòng thủ
biển đảo, phòng thủ đất liền từ phía biển. Phủ
biên tạp lục cho biết chức phận, nhiệm vụ của các lực lượng này qua ghi chép trường hợp Ty tàu truyền cho tuần nha
giữ cửa biển cùng đồn thủ đến xem xét và kiểm xét chặt tàu thuyền nước ngoài gặp nạn gió bão, giạt đến
các cửa biển dẫn vào thương cảng Hội An, chỉ cho mua củi, gạo và ở lại hai ba
ngày rồi đuổi ra biển, không cho vào cửa biển đề phòng sinh sự, hoặc gian dối giả làm thuyền gặp nạn để trốn thuế. Còn đối với những tàu thuyền đã được thuộc quân tại cửa biển Đà
Nẵng và Cù lao Chàm xác thực là đến Hội An buôn bán chịu thuế, thì dưới sự điều
lệnh của quan Cai tàu, quan uần ty đưa dân phụ
luỹ đến hộ tống thuyền vào cửa biển (cửa Đà Nẵng hoặc cửa Đại Chiêm) để đậu đúng nơi sở tuần cửa biển, Lệnh sử và nha môn đến kiểm xét. Khi
thuyền về nước, quan Cai bạ cử người
đến xem xét và phái quân áp điệu hàng hóa đến thuyền (thuyền không được tự tiện
chở riêng), hoặc phái thuộc quân và tuần
ty đem dân phụ luỹ hộ tống thuyền ra khỏi cửa biển, sau khi đã kiểm tra số
hành khách của thuyền.
Các nha (nha môn địa phương) cũng có trách
nhiệm phối hợp với quan Ty tàu trong
hoạt động kiểm soát tàu thuyền nước ngoài đến Đàng Trong. Tại sở tuần cửa biển,
Lệnh sử và quan các nha đến kiểm xét thuyền theo bản khai
của thuyền trưởng và tài phó thuyền về số khách, hàng hóa. Sau đó, thuyền mới được cập bến phố
Hội An. Tuy nhiên, người quản lý tối cao và kiểm soát cuối cùng đối với những
tàu buôn này chính là các chúa Nguyễn, khi mà đơn khai của thuyền trưởng và tài
phó tàu cùng các lễ tiến (lễ tiến chúa và lễ tiến quan) được dâng nộp lên chúa
Nguyễn trực tiếp xem xét, rồi mới phát cho các quan. Như
vậy, tàu thuyền đến Đàng Trong, để được buôn bán ở phố Hội An thì phải trải qua
những bước giám sát chặt chẽ ở vùng cửa biển Đại Chiêm, cửa biển Đà Nẵng, và
dưới sự kiểm xét chặt chẽ của nhiều chức phận, từ chúa Nguyễn đến quan Ty tàu, nha môn địa phương, tuần ty,
đồn thủ, và cả những cư dân Đàng
Trong (dân thủ lệ, dân phụ lũy...).
3. Huy
động cư dân Đàng Trong
Với
chính sách dân là lính, chính quyền chúa Nguyễn
đã huy động sức dân vào công tác an ninh, phòng thủ, thực thi và bảo vệ chủ quyền
biển đảo Đàng Trong. Đó là huy động người dân vào ngạch thuộc binh thủy quân (thổ binh, tạm binh; là dân binh
địa phương, được miễn sưu thuế
nhưng không được hưởng lương như quân đội chính quy) tham gia công tác
đảm bảo an ninh, phòng thủ biển đảo, cũng như huy động sức mạnh nhân dân vào hoạt
động do thám, kịp thời truyền báo tin tức; khai thác nguồn lợi biển đảo đồng thời tuần phòng mặt biển; hộ dẫn, áp tải tàu thuyền ra vào cửa biển.
Nhân
dân miền ven biển và hải đảo Đàng Trong, nhất là ở khu vực cửa biển, hải cảng thương mại (nơi cư dân thường xuyên tiếp xúc với tàu thuyền nước ngoài, đặc biệt là tàu thuyền phương Tây), được chính quyền chúa Nguyễn huy động vào
hoạt động thám báo tin tức miền biển. Lê
Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục cho biết, chúa Nguyễn đặt ở xứ Quảng Nam (thuộc Thành phố Đà Nẵng ngày nay) các xã Minh
Hương, Hội An, Cù lao Chàm (Cù lao Chiêm), Cẩm Tú, làng Câu đảm trách thám báo những tàu thuyền nước ngoài đến buôn bán ở Hội An qua cửa
Đại Chiêm, cửa Đà Nẵng (cửa Hàn), và Vũng Lấm. Dân
làng phụ lũy được giao nhiệm vụ hộ tống tàu thuyền nước ngoài ra vào cửa biển để giám sát và đảm bảo an
toàn cho tàu thuyền. Hình ảnh ba chiếc thuyền con đang kéo một
tàu buôn lớn vào cảng Hội An trong một bức tranh của người
Nhật đã phần nào cho hình dung về hoạt động hộ dẫn
tàu thuyền cập cảng ở Đàng Trong thời các chúa Nguyễn. Phủ chúa cũng
quy định, những tàu thuyền nước ngoài gặp nạn gió bão đường biển, sau
khi được sửa chữa sẽ do dân thủ lệ và dân tiếp cận áp sát trục xuất ra khỏi cửa biển.
Chính quyền chúa Nguyễn còn phát huy hiệu quả
truyền thống, kinh nghiệm đường biển và khai thác
biển, cũng như tập quán sinh kế của nhân dân ven
biển và hải đảo Đàng Trong trong xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền biển đảo. Phủ chúa đã tập hợp
bộ phận ngư dân khai thác, thu lượm sản vật,
hóa vật trên các vùng biển đảo (nhất là ở những vùng
quần đảo ngoài khơi xa), tổ chức họ thành những
đội chuyên trách trong hoạt động khai thác, tuần
tra, giám sát, truyền báo tin tức, thực thi và bảo vệ chủ quyền ở những khu vực biển đảo đảm
nhận trọng trách, như đội Thanh
Châu, đội Hải Môn, đội Hoàng Sa, đội Bắc Hải.
Ví như đội Hoàng Sa được chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635) lập vào khoảng những năm cuối thập kỷ 20 và đầu thập kỷ
30 của thế kỷ XVII,trên cơ sở tuyển chọn 70
dân đinh làng (thôn)
An Vĩnh ở cửa biển Sa Kỳ trong đất liền (thuộc tỉnh Quảng Ngãi ngày nay) và xóm
(phường) An Vĩnh ở Cù lao Ré (nay là đặc khu Lý Sơn trực thuộc tỉnh Quảng Ngãi). Những dân đinh này là những “quân nhân”, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của dân binh và đảm nhận sứ mệnh “bảo vệ an toàn tuyến ngoài của hệ thống phòng
thủ biển quốc gia” thông qua các hoạt động “về hình thức mang tính kinh tế thuần túy, nhưng trong thực
chất đội Hoàng Sa đã tổ chức các cuộc tuần tra, kiểm soát, thu thập thông tin
và khi cần có thể sẵn sàng ứng chiến và phối hợp với các lực lượng khác cùng
chiến đấu bảo vệ toàn vẹn chủ quyền quốc gia lãnh thổ, lãnh hải”. Đội Bắc Hải được chúa Nguyễn
Phúc Chu (1692-1725) thành lập ngay sau khi đặt phủ Bình Thuận vào năm 1697, lấy dân ở Tứ Chính và Cảnh Dương thuộc phủ Bình Thuận, đảm nhận chức năng, nhiệm vụ giống như đội Hoàng Sa, nhưng hoạt động
trên phận biển, hải đảo ngoài khơi Biển Đông tiếp nối về phía Nam phạm vi hoạt
động của đội Hoàng Sa (tương đương với khu vực quần đảo
Hoàng Sa, đảo Côn Lôn, cùng khu vực biển đảo trên vịnh Thái Lan).
Các đội chuyên trách trên mang tính chính
danh bởi được đặt dưới sự tổ chức, quản lý trực tiếp của chính quyền chúa Nguyễn
và những trọng trách, nhiệm vụ mà họ thực hiện được giao trực tiếp bởi Phủ chúa
- người quản lý và làm chủ lãnh thổ, lãnh hải Đàng Trong.
Các chúa Nguyễn đã thành công trong phát huy hiệu
quả hoạt động quản lý trực tiếp của nhân dân (đặt dưới sự tổ
chức, quản lý của nhà nước), huy động sức dân vào quản lý, khai thác, bảo vệ các vùng
biển đảo Đàng Trong, nhất là các vùng quần đảo ngoài khơi xa Hoàng Sa, Trường Sa. Sự có mặt thường
xuyên của các lực lượng chuyên trách kể trên trong thực hiện nhiệm vụ
thực thi, bảo vệ chủ quyền biển đảo Đàng Trong đã được Đô đốc Đe-xtanh
(D' estaing; chỉ huy hạm đội Pháp đến khu vực
biển Đông vào thế kỷ XVIII) xác nhận “khó khăn
càng tăng khi chúng tôi muốn vượt qua quần đảo Hoàng Sa... Khu vực ấy luôn có
các tàu của nước đó (tức Đàng Trong - TG) đi lại, chúng có thể thông báo sự có
mặt của chúng tôi".
4.
Kết luận
Có thể thấy, chính quyền chúa Nguyễn đã chú trọng xây dựng và huy
động các lực lượng an ninh, phòng thủ, bảo vệ chủ quyền biển đảo ở Đàng Trong trong
những thế kỷ
XVII-XVIII, như xây dựng và phát triển lực
lượng thủy quân về số lượng và sự tinh nhuệ, xây dựng
các lực lượng quan chế, huy động nhân dân Đàng Trong. Trong đó, thủy quân là lực quân sự chính quy chủ lực đảm bảo an ninh, phòng thủ và bảo
vệ chủ quyền biển đảo.
Các lực lượng quan chế có sự phối hợp cùng nhau và thực hiện nhiệm vụ kiểm xét
chặt chẽ. Cư dân Đàng Trong được huy động vào nhiều hoạt động an ninh, phòng thủ
và bảo vệ chủ quyền biển đảo. Đặc biệt là những kinh nghiệm, truyền thống hoạt
động đường biển của các cư dân cũng được các chúa Nguyễn phát huy hiệu quả vào
công cuộc xác lập, thực thi và
bảo vệ chủ quyền biển đảo, nhất là trên hai vùng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Nxb.Văn
hóa - Thông tin, Hà Nội, 2007,
tr.67
Alexandre De Rhodes, Hành trình và
truyền giáo, Bản dịch Việt ngữ của
Hồng Nhuệ, Bản Pháp ngữ của Nxb Cramoisy 1653, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2020, tr.76.
Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Nxb.Văn
hóa – Thông tin, Hà Nội, 2007,
tr.67
[17]Thích
Đại Sán, Hải ngoại kỷ sự, Hải Tiên
Nguyễn Duy Bột và Nguyễn Phương dịch (1963), Nguyễn Thanh Tùng hiệu chú, giới
thiệu (2015), Nxb.Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2016, tr.60.