image banner

Chính quyền chúa Nguyễn với việc xây dựng và huy động lực lượng an ninh, phòng thủ, bảo vệ chủ quyền biển đảo ở Đàng Trong thế kỷ XVII-XVIII

1. Xây dựng và phát triển lực lượng thủy quân

Lực lượng quân thủy chủ lực trong an ninh, phòng thủ, thực thi, bảo vệ chủ quyền biển đảo ở Đàng Trong thế kỷ XVII-XVIII là chính binh, thuộc binh thủy quân miền biển và hải đảo, thủ ngự thủy quân cửa biển. Lực lượng này được chính quyền chúa Nguyễn chú trọng xây dựng, phát triển về số lượng và sự tinh nhuệ trong chiến đấu, sắp đặt chốt giữ các vị trí trọng yếu, then chốt trong hệ thống phòng thủ bờ biển và hải đảo, tuần tra, truy bắt giặc biển, thường trực và sẵn sàng ứng chiến đảm bảo an ninh, phòng thủ và chủ quyền biển đảo, chủ quyền Đàng Trong.

Qua thống kê số liệu ghi chép trong Phủ biên tạp lục về ngạch binh Đàng Trong, tổng số quân thủy chúa Nguyễn gồm: 26.001 người (trong đó có 9.681 chính binh quân thủy, 16.320 thủ ngự thủy quân), cùng số thủy quân 51 thuyền[1] (45 thuyền chính binh, 6 thuyền thuộc binh), số chính binh thủy quân hai đội Tả thủy, Hữu thuỷ, số thủy quân của 54 chiếc ghe bầu hải sư, 460 chiếc chiến thuyền thuộc binh, 234 chiếc chiến thuyền thủ ngự. Trong đó có lực lượng chuyên trách an ninh, phòng thủ và bảo vệ chủ quyền biển đảo[2].

 Cùng với phát triển quân số, chính quyền Phủ chúa cũng chú trọng phát triển sức mạnh tinh nhuệ thủy quân (nhất là tác chiến trên biển) bằng các hoạt động tăng cường luyện tập thủy chiến, phát triển chiến thuyền và vũ khí chiến đấu. Về luyện tập thủy quân, vào  năm Nhâm Ngọ (1642), chúa Nguyễn Phúc Lan đã huy động dân binh đắp trường lập thủy binh ở xã Hồng Phúc, đắp một gò đất cao hơn 30 thước, rộng hơn 120 thước, để tháng 7 hằng năm thao luyện thủy quân, bơi thuyền bắn súng[3].

 Về phát triển chiến thuyền và vũ khí chiến đấu, ngay từ năm 1621, trong ghi chép của C. Borri, chúa Nguyễn có đến một trăm chiếc thuyền chiến, trang bị đủ súng ống và nghiêm chỉnh nghênh chiến[4]. Đến năm 1642, theo tính toán của vị thuyền trưởng người Hà Lan Jacop van Liesvelt (trong bức thư gửi Hội đồng giám đốc Công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC)), tổng số thuyền chiến của Đàng Trong là 300 chiếc[5]. Đến những năm 1695-1696, thủy quân Đàng Trong đã có bước tiến vượt bậc về số lượng và trang bị, với 200 chiến hạm có từ 16 đến 22 khẩu đại bác, 100 chiếc thuyền lớn có 50 - 75 tay chèo, 3 chiếc của người châu Âu, 500 chiến thuyền nhỏ có 40 - 44 tay chèo[6].

 Đặc điểm thuyền chiến Đàng Trong có hình dáng dài thấp mạn, cơ động, thích hợp hoạt động ven biển và cơ động khi vào sông ra biển. Thuyền chiến lớn nhất có chiều dài khoảng 90-100 bộ[7], cao 7-8 bộ, mặt boong cách mặt nước khoảng 2,5 bộ, phía mũi thuyền có một buồng nhỏ hình vuông, 4 cửa lùa, mỗi chiều rộng 7-8 bộ. Mỗi thuyền có khoảng 40-60 cột chèo, thường được trang bị pháo thuyền, súng tay. Thuyền có trọng tải ước chừng khoảng 100-150 tấn[8]. Dưới chủ trương chú trọng tác chiến trên biển của chính quyền chúa Nguyễn, cùng sự giúp đỡ của người Bồ Đào Nha, thuyền chiến Đàng Trong thường có số lượng pháo nhiều hơn thuyền chiến Đàng Ngoài, nhất là pháo mạn[9] để tăng sức chiến đấu trong môi trường không gian biển rộng lớn, chống trả hoặc tấn công địch từ nhiều phía.

 Thủy quân Đàng Trong mang đặc trưng chung của quân thủy Việt Nam thời quân chủ, chưa tách biệt trong chức năng và nhiệm vụ thành quân thủy nội địa và hải quân, song so với quân thủy Lê - Trịnh ở Đàng Ngoài thì tính chất “hải quân” của quân thủy Nguyễn vẫn nổi trội hơn[10]. Nhờ những nỗ lực xây dựng sức mạnh thủy quân, đặc biệt là sức mạnh trên biển, quân thủy chúa Nguyễn đã khẳng định vai trò là lực lượng chính quy chủ chốt trong phòng thủ, đảm bảo an ninh, thực thi và bảo vệ chủ quyền biển đảo, chủ quyền Đàng Trong những thế kỷ XVII-XVIII với các hoạt động tuần tra biển đảo, phòng chống cướp biển, kiểm soát chặt tàu thuyền ra vào cửa biển, đánh tan nhiều cuộc tấn công của Đàng Ngoài bằng đường biển, hay phá tan nhiều mưu đồ xâm chiếm, can thiệp Đàng Trong của các nước phương Tây. Ví như thắng lợi của thủy quân Nguyễn đánh tan hạm đội Hà Lan (Ô Lan) ở cửa Eo (cửa biển Thuận An) vào năm 1643[11], cho dù người Hà Lan vẫn tự coi là “chúa biển” ở giai đoạn này[12]. Đó còn là thắng lợi trong phá tan âm mưu xâm chiếm đảo Côn Lôn của thế lực đại dương Anh (Man An Liệt; vào các năm 1702-1703[13]) và âm mưu của Pháp xâm chiếm “hai hải khẩu chính: cửa Hàn và Hội An”[14].

 Chẳng vậy mà, Lê Quý Đôn cũng từng phải thừa nhận thủy quân Đàng Trong “đều tinh thủy chiến”[15]. Hay sức mạnh trên biển của thủy quân chúa Nguyễn còn được nhiều thương nhân, thượng khách... ngoại quốc đến Đàng Trong thời kỳ này miêu tả, nhận định khách quan, trung thực, như "chúa rất mạnh về đường biển” của C. Borri trong chuyến du hành đến Đàng Trong năm 1621[16], "thủy quân rất mạnh mẽ" của vị hòa thượng Trung Quốc là Thích Đại Sán khi vượt biển đến Thuận Hóa - Quảng Nam vào những năm 1695-1696 để truyền giảng đạo Phật theo lời mời của chúa Nguyễn Phúc Chu[17].

2. Xây dựng lực lượng quan chế

Trong quản lý và phòng bị từ phía biển, chúa Nguyễn còn cho lập Ty tàu (Ty Tàu vụ). Đây là cơ quan chuyên trách về ngoại thương, ngoại giao và đảm bảo an ninh, phòng thủ vùng cửa biển (thu thuế, hộ dẫn, giám sát, kiểm soát tàu thuyền đến Đàng Trong, nhất là đến hải cảng thương mại Hội An buôn bán, cứu hộ tàu thuyền gặp nạn đường biển). Ty tàu đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của chúa Nguyễn và là cơ quan trực tiếp chỉ đạo, huy động các lực lượng tuần ty, đồn thủ, dân binh, dân phụ lũy, và phối hợp cùng nha môn địa phương trong nhiệm vụ đảm bảo an ninh, phòng thủ vùng cửa biển, nhất là vùng cửa biển dẫn đến thương cảng Hội An. Theo quy định của chính quyền chúa Nguyễn, vào tháng Giêng hằng năm, quan Cai bạ, Tri bạ, Lệnh sử, Cai phủ, Ký lục của Ty tàu đến hải cảng thương mại Hội An (thuộc Thành phố Đà Nẵng ngày nay) để quản lý, thực thi, chỉ đạo và giám sát các lực lượng thực thi nhiệm vụ an ninh, phòng thủ vùng cửa biển và hải cảng thương mại này, như thu thuế, kiểm soát, giải quyết vụ việc của tàu thuyền đến giao thương, tránh gió bão ở nơi đây. Ty tàu cử những thuộc quân thông hiểu tiếng nước ngoài đến canh giữ Cù lao Chàm (Cù lao Chiêm) và cửa biển Đà Nẵng (cửa Hàn), xét hỏi tàu thuyền nước ngoài đến những vùng cửa biển này. Chỉ những tàu thuyền đã được thuộc quân Ty Tàu tại cửa biển Đà Nẵng và Cù lao Chàm xét hỏi, xác thực thì mới được vào phố Hội An, dưới sự giám sát chặt chẽ của các chức phận[18]. Các chức vụ trong Ty tàu được đặt với số lượng: Cai tàu, Tri tàu mỗi chức 1 viên quan; Cai bạ tàu, Tri bạ tàu, Cai phủ tàu, Ký lục tàu, Thủ tàu nội, mỗi chức 2 viên quan; Cai phòng 6 người; Lệnh sử 30 người; Toàn súng binh 50 người, Lính tàu 4 đội gồm 70 người, Thông sự 7 người[19].

 Quan tuần ty, đồn thủ được biên chế tại các tuần ty, đồn thủ canh phòng nơi cửa biển, có nhiệm vụ phòng giữ, kiểm xét, giám sát và thu thuế tàu thuyền ra vào cửa biển dưới sự điều lệnh trực tiếp của Ty tàu, để đảm bảo an ninh, phòng thủ biển đảo, phòng thủ đất liền từ phía biển. Phủ biên tạp lục cho biết chức phận, nhiệm vụ của các lực lượng này qua ghi chép trường hợp Ty tàu truyền cho tuần nha giữ cửa biển cùng đồn thủ đến xem xét và kiểm xét chặt tàu thuyền nước ngoài gặp nạn gió bão, giạt đến các cửa biển dẫn vào thương cảng Hội An, chỉ cho mua củi, gạo và ở lại hai ba ngày rồi đuổi ra biển, không cho vào cửa biển đề phòng sinh sự, hoặc gian dối giả làm thuyền gặp nạn để trốn thuế[20]. Còn đối với những tàu thuyền đã được thuộc quân tại cửa biển Đà Nẵng và Cù lao Chàm xác thực là đến Hội An buôn bán chịu thuế, thì dưới sự điều lệnh của quan Cai tàu, quan uần ty đưa dân phụ luỹ đến hộ tống thuyền vào cửa biển (cửa Đà Nẵng hoặc cửa Đại Chiêm) để đậu đúng nơi sở tuần cửa biển, Lệnh sử nha môn đến kiểm xét. Khi thuyền về nước, quan Cai bạ cử người đến xem xét và phái quân áp điệu hàng hóa đến thuyền (thuyền không được tự tiện chở riêng), hoặc phái thuộc quân và tuần ty đem dân phụ luỹ hộ tống thuyền ra khỏi cửa biển, sau khi đã kiểm tra số hành khách của thuyền[21].

 Các nha (nha môn địa phương) cũng có trách nhiệm phối hợp với quan Ty tàu trong hoạt động kiểm soát tàu thuyền nước ngoài đến Đàng Trong. Tại sở tuần cửa biển, Lệnh sử và quan các nha đến kiểm xét thuyền theo bản khai của thuyền trưởng và tài phó[22] thuyền về số khách, hàng hóa. Sau đó, thuyền mới được cập bến phố Hội An. Tuy nhiên, người quản lý tối cao và kiểm soát cuối cùng đối với những tàu buôn này chính là các chúa Nguyễn, khi mà đơn khai của thuyền trưởng và tài phó tàu cùng các lễ tiến (lễ tiến chúa và lễ tiến quan) được dâng nộp lên chúa Nguyễn trực tiếp xem xét, rồi mới phát cho các quan[23]. Như vậy, tàu thuyền đến Đàng Trong, để được buôn bán ở phố Hội An thì phải trải qua những bước giám sát chặt chẽ ở vùng cửa biển Đại Chiêm, cửa biển Đà Nẵng, và dưới sự kiểm xét chặt chẽ của nhiều chức phận, từ chúa Nguyễn đến quan Ty tàu, nha môn địa phương, tuần ty, đồn thủ, và cả những cư dân Đàng Trong (dân thủ lệ, dân phụ lũy...).

3. Huy động cư dân Đàng Trong

Với chính sách dân là lính, chính quyền chúa Nguyễn đã huy động sức dân vào công tác an ninh, phòng thủ, thực thi và bảo vệ chủ quyền biển đảo Đàng Trong. Đó là huy động người dân vào ngạch thuộc binh thủy quân (thổ binh, tạm binh; là dân binh địa phương, được miễn sưu thuế nhưng không được hưởng lương như quân đội chính quy) tham gia công tác đảm bảo an ninh, phòng thủ biển đảo, cũng như huy động sức mạnh nhân dân vào hoạt động do thám, kịp thời truyền báo tin tức; khai thác nguồn lợi biển đảo đồng thời tuần phòng mặt biển; hộ dẫn, áp tải tàu thuyền ra vào cửa biển.

 Nhân dân miền ven biển và hải đảo Đàng Trong, nhất là ở khu vực cửa biển, hải cảng thương mại (nơi cư dân thường xuyên tiếp xúc với tàu thuyền nước ngoài, đặc biệt là tàu thuyền phương Tây), được chính quyền chúa Nguyễn huy động vào hoạt động thám báo tin tức miền biển. Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục cho biết, chúa Nguyễn đặt ở xứ Quảng Nam (thuộc Thành phố Đà Nẵng ngày nay) các xã Minh Hương, Hội An, Cù lao Chàm (Cù lao Chiêm), Cẩm Tú, làng Câu đảm trách thám báo những tàu thuyền nước ngoài đến buôn bán ở Hội An qua cửa Đại Chiêm, cửa Đà Nẵng (cửa Hàn), và Vũng Lấm[24]. Dân làng phụ lũy được giao nhiệm vụ hộ tống tàu thuyền nước ngoài ra vào cửa biển để giám sát và đảm bảo an toàn cho tàu thuyền[25]. Hình ảnh ba chiếc thuyền con đang kéo một tàu buôn lớn vào cảng Hội An trong một bức tranh của người Nhật đã phần nào cho hình dung về hoạt động hộ dẫn tàu thuyền cập cảng ở Đàng Trong thời các chúa Nguyễn[26]. Phủ chúa cũng quy định, những tàu thuyền nước ngoài gặp nạn gió bão đường biển, sau khi được sửa chữa sẽ do dân thủ lệ và dân tiếp cận áp sát trục xuất ra khỏi cửa biển[27].

 Chính quyền chúa Nguyễn còn phát huy hiệu quả truyền thống, kinh nghiệm đường biển và khai thác biển, cũng như tập quán sinh kế của nhân dân ven biển và hải đảo Đàng Trong trong xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền biển đảo. Phủ chúa đã tập hợp bộ phận ngư dân khai thác, thu lượm sản vật, hóa vật trên các vùng biển đảo (nhất là ở những vùng quần đảo ngoài khơi xa), tổ chức họ thành những đội chuyên trách trong hoạt động khai thác, tuần tra, giám sát, truyền báo tin tức, thực thi và bảo vệ chủ quyền ở những khu vực biển đảo đảm nhận trọng trách, như đội Thanh Châu, đội Hải Môn, đội Hoàng Sa, đội Bắc Hải.

 Ví như đội Hoàng Sa được chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635) lập vào khoảng những năm cuối thập kỷ 20 và đầu thập kỷ 30 của thế kỷ XVII, trên cơ sở tuyển chọn 70 dân đinh làng (thôn) An Vĩnh ở cửa biển Sa Kỳ trong đất liền (thuộc tỉnh Quảng Ngãi ngày nay) và xóm (phường) An Vĩnh ở Cù lao Ré (nay là đặc khu Lý Sơn trực thuộc tỉnh Quảng Ngãi)[28]. Những dân đinh này là những “quân nhân”, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của dân binh và đảm nhận sứ mệnh “bảo vệ an toàn tuyến ngoài của hệ thống phòng thủ biển quốc gia” thông qua các hoạt động “về hình thức mang tính kinh tế thuần túy, nhưng trong thực chất đội Hoàng Sa đã tổ chức các cuộc tuần tra, kiểm soát, thu thập thông tin và khi cần có thể sẵn sàng ứng chiến và phối hợp với các lực lượng khác cùng chiến đấu bảo vệ toàn vẹn chủ quyền quốc gia lãnh thổ, lãnh hải”[29]. Đội Bắc Hải được chúa Nguyễn Phúc Chu (1692-1725) thành lập ngay sau khi đặt phủ Bình Thuận vào năm 1697, lấy dân ở Tứ Chính và Cảnh Dương thuộc phủ Bình Thuận, đảm nhận chức năng, nhiệm vụ giống như đội Hoàng Sa, nhưng hoạt động trên phận biển, hải đảo ngoài khơi Biển Đông tiếp nối về phía Nam phạm vi hoạt động của đội Hoàng Sa (tương đương với khu vực quần đảo Hoàng Sa, đảo Côn Lôn, cùng khu vực biển đảo trên vịnh Thái Lan)[30].

 Các đội chuyên trách trên mang tính chính danh bởi được đặt dưới sự tổ chức, quản lý trực tiếp của chính quyền chúa Nguyễn và những trọng trách, nhiệm vụ mà họ thực hiện được giao trực tiếp bởi Phủ chúa - người quản lý và làm chủ lãnh thổ, lãnh hải Đàng Trong. Các chúa Nguyễn đã thành công trong phát huy hiệu quả hoạt động quản lý trực tiếp của nhân dân (đặt dưới sự tổ chức, quản lý của nhà nước), huy động sức dân vào quản lý, khai thác, bảo vệ các vùng biển đảo Đàng Trong, nhất là các vùng quần đảo ngoài khơi xa Hoàng Sa, Trường Sa. Sự có mặt thường xuyên của các lực lượng chuyên trách kể trên trong thực hiện nhiệm vụ thực thi, bảo vệ chủ quyền biển đảo Đàng Trong đã được Đô đốc Đe-xtanh (D' estaing; chỉ huy hạm đội Pháp đến khu vực biển Đông vào thế kỷ XVIII) xác nhận “khó khăn càng tăng khi chúng tôi muốn vượt qua quần đảo Hoàng Sa... Khu vực ấy luôn có các tàu của nước đó (tức Đàng Trong - TG) đi lại, chúng có thể thông báo sự có mặt của chúng tôi"[31].

4. Kết luận

Có thể thấy, chính quyền chúa Nguyễn đã chú trọng xây dựng và huy động các lực lượng an ninh, phòng thủ, bảo vệ chủ quyền biển đảo ở Đàng Trong trong những thế kỷ XVII-XVIII, như xây dựng và phát triển lực lượng thủy quân về số lượng và sự tinh nhuệ, xây dựng các lực lượng quan chế, huy động nhân dân Đàng Trong. Trong đó, thủy quân là lực quân sự chính quy chủ lực đảm bảo an ninh, phòng thủ và bảo vệ chủ quyền biển đảo. Các lực lượng quan chế có sự phối hợp cùng nhau và thực hiện nhiệm vụ kiểm xét chặt chẽ. Cư dân Đàng Trong được huy động vào nhiều hoạt động an ninh, phòng thủ và bảo vệ chủ quyền biển đảo. Đặc biệt là những kinh nghiệm, truyền thống hoạt động đường biển của các cư dân cũng được các chúa Nguyễn phát huy hiệu quả vào công cuộc xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền biển đảo, nhất là trên hai vùng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.



[1] Cơ, đội, thuyền: đơn vị thủy quân thời chúa Nguyễn.  Phủ biên tạp lục không ghi cụ thể số lính thủy quân (đơn vị: người) của một số đơn vị thủy quân, mà chỉ cho biết số lượng đơn vị thủy quân (đội, thuyền) nên tác giả xin tổng hợp thống kê những trường hợp này vào thuyền thủy quân.

 [2] Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Nxb.Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2007, tr.233-249

[3] Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Nxb.Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2007, tr.67

[4] Cristophoro Borri, Xứ Đàng Trong năm 1621, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Thành Phố Hồ Chí Minh, 2014, tr. 84-85

[5] W.J.M.Buch, De Oost-Indische Compagnie en Quinam, de betrekkingen der Nederlanders met Annam in de XVII eeuw, Amsterdam, H. J.Paris, pp.81, 86, dẫn theo Phạm Văn Thủy, "Thủy quân Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII và đầu thế kỷ XIX qua các nguồn sử liệu phương Tây", in trong Nguyễn Văn Kim, Người Việt với biển, Nxb.Thế giới, Hà Nội, 2011, tr.509.

[6] Xin xem Les Européens Qui ont vu le vieux Hué: Thomas Bowyer (1695-1696), Traduction de Mme Mir, Annotations de L.Cadière, BAVH, No.2, 1920, pp. 183-240.

[7] Bộ (pied): đơn vị đo lường cổ của Pháp, tương đương 0,3248m, đơn vị này chia thành 12 pouces.

[8] Theo mô tả của Poa-vrơ (P. Poivre) phái bộ của Công ty Đông Ấn Pháp đến Đàng Trong năm 1749 (P. Poivre, Journal of un voyage à la Cochinchine depuis le 29-8-1749 au 11-2-1759, trong Arch, Nationales de Paris, quyển 12, tập 72, 73, dẫn theo Nguyễn Việt, Vũ Minh Giang, Nguyễn Mạnh Hùng, Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2012, tr. 278-279.

[9] Nguyễn Việt, Vũ Minh Giang, Nguyễn Mạnh Hùng, Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2012, tr. 279-280.

[10] Nguyễn Việt, Vũ Minh Giang, Nguyễn Mạnh Hùng, Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2012, tr. tr.264

[11] Phủ biên tạp lục cho biết sự kiện diễn ra vào tháng 4 năm 1643 (Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Nxb.Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2007, tr.67-68), trong khi Đại Nam thực lục (tiền biên) lại chép sự kiện vào tháng 4 năm 1644 (Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 1, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, 2002, tr.55-56). Alexandre De Rhodes trong Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài cũng miêu tả về thắng lợi này của thủy quân chúa Nguyễn trước đoàn tàu chiến Hà Lan (Alexandre De Rhodes, Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài, Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên dịch, tái bản lần thứ nhất, Nxb.Khoa học xã hội, Hà Nội, 2016, tr.41-42.

[12] Alexandre De Rhodes, Hành trình và truyền giáo, Bản dịch Việt ngữ của Hồng Nhuệ, Bản Pháp ngữ của Nxb Cramoisy 1653, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2020, tr.76.

[13] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, Tập 5, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 2006, tr.153-154; Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 1, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, 2002, tr.115, 117.

[14] Phan Du, Quảng Nam qua các thời đại,(Quyển thượng), In lần thứ nhất, Cổ học tùng thư, Đà Nẵng, 1974, tr.200.

[15] Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Nxb.Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 2007, tr.67

[16] Cristophoro Borri, Xứ Đàng Trong năm 1621, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Thành Phố Hồ Chí Minh, 2014, tr. 83

[17] Thích Đại Sán, Hải ngoại kỷ sự, Hải Tiên Nguyễn Duy Bột và Nguyễn Phương dịch (1963), Nguyễn Thanh Tùng hiệu chú, giới thiệu (2015), Nxb.Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2016, tr.60.

[18] Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Nxb.Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2007, tr.292-294

[19] Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Nxb.Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2007, tr.290.

[20] Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Nxb.Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2007, tr.291.

[21] Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Nxb.Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2007, tr.292, 293-294

[22] Vẫn gọi là tài phú, tức người kế toán.

[23] Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Nxb.Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2007, tr.292-294

[24] Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Nxb.Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2007, tr.290.

[25] Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Nxb.Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2007, tr.292, 294.

[26] N. Peri, Essai sur les relations du Japon et de I’ Indochine aux XVI et XVII siècles, BEFEO, 1923, p.136.

[27] Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Nxb.Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2007, tr.294.

[28] Nguyễn Quang Ngọc, Chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa: Tư liệu và sự thật lịch sử, Nxb.Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2017, tr.148-155; Dương Hà Hiếu, Cù lao Ré - Quê hương của đội Hoàng Sa (từ đầu thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX), (Sách tham khảo), Nxb.Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2020, tr.208-212.

[29] Nguyễn Quang Ngọc, Chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa: Tư liệu và sự thật lịch sử, Nxb.Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2017, tr. 155, 173-174.

[30] Nguyễn Quang Ngọc, Chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa: Tư liệu và sự thật lịch sử, Nxb.Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2017, tr.177-179.

[31] Nhãn quan của Đô đốc Đe-xtanh (Destaing) trong BSEI, theo Văn Trọng, Hoàng Sa - Quần đảo Việt Nam, Nxb.Khoa học xã hội, Hà Nội, 1979, tr.33, dẫn theo Nguyền Việt, Vũ Minh Giang, Nguyễn Mạnh Hùng, Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm, Nxb. Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2012, tr. 263 - 264.

Avatar: Một chiến thuyền nhỏ của thủy quân nhà Nguyễn. Nguồn: https://baotanglichsu.vn/VI/Articles/3096/16509/cong-cuoc-bao-ve-bien-djao-to-quoc-thoi-cac-chua-nguyen.html

TS. Đinh Thị Hải Đường, Viện Sử học, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam
  • Bộ sách gồm 10 tập, Viện Sử học dịch, Nxb KHXH xuất bản.
    23/04/2013
  • Đại Nam nhất thống chí đời Tự Đức là bộ sách địa lý học Việt Nam đầy đủ nhất dưới thời phong kiến. Đại Nam nhất thống chí theo bộ Đại Thanh nhất thống chí của Trung Quốc mà chia ra các mục như: phương vi, phân dã, kiến trí, duyên cách, phủ huyện, hình thế, khí hậu, phong tục, thành trì, học hiệu, hộ khẩu, điền phú, sơn xuyên, quan tấn, dịch trạm, thị lập, tứ miếu, tự quán, phân việt, thổ sản, v.v... Ngoài ra, Đại Nam nhất thống chí còn có quyển chép riêng về Cao Miên (Campuchia), Xiêm La, Miến Điện, Nam Chưởng, Vạn Tượng.
    22/04/2013
  • Trong tập sách này, các tác giả không chỉ trình bày các sự kiện về quân sự, chính trị mà còn nêu lên nhiều sự kiện khác thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại....
    27/09/2012
  • "Việt Nam những sự kiện lịch sử (Từ khởi thủy đến 1858)" là cuốn sách ghi lại các sự kiện lịch sử nước nhà từ khởi thủy đến khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược vào giữa thế kỷ XIX.
    27/09/2012
  • Đại Nam liệt truyện là một bộ sách có quy mô khá đồ sộ trong kho tàng thư tịch cổ viết bằng chữ Hán của Việt Nam, do cơ quan làm sử chính thức của nhà Nguyễn là Quốc sử quán biên soạn vào giữa thế kỷ XIX.
    24/09/2012
  • Lịch triều hiến chương loại chí là bộ bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam. Có nghĩa là Phép tắc các triều đại chép theo thể phân loại do Phan Huy Chú soạn trong 10 năm (1809-1819).
    23/09/2012
  • Là bộ sử có giá trị to lớn và quan trọng bậc nhất trong nền sử học Việt Nam thời kỳ cổ trung đại. Bộ chính sử do Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê biên soạn.
    22/09/2012
  • Cuốn sách Cổ luật Việt Nam gốm 2 bộ Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ. Quốc triều hình luật (còn gọi là bộ luật Hồng Đức) và Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là bộ luật Gia Long) là hai bộ cổ luật duy nhất còn lại cho đến nay của các triều đại phong kiến Việt Nam; là những di sản quý giá có giá trị tham khảo về nhiều mặt cho chúng ta ngày nay.
    19/09/2012
  • Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ là một bộ sách được biên soạn dưới triều Nguyễn theo thể loại Hội điển. Thể loại này được đặt ra nhằm ghi chép lại các điển pháp, quy chuẩn và các dữ kiện liên quan đến tổ chức và hoạt động của một triều đại, một Nhà nước.
    19/09/2012
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1