ĐÓNG GÓP CỦA ĐỒNG CHÍ HUỲNH TẤN PHÁT TRÊN CƯƠNG VỊ CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ CÁCH MẠNG LÂM THỜI CỘNG HÒA MIỀN NAM VIỆT NAM (1969-1976)
Tháng 6-1969, tại Đại hội đại biểu quốc dân toàn miền Nam, Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam (CPCMLTCHMNVN) được thành lập, đồng chí Huỳnh Tấn Phát được bầu làm Chủ tịch. Trên cương vị Chủ tịch CPCMLTCHMNVN, ông đã ghi nhiều dấu ấn trong lịch sử phát triển cách mạng miền Nam nhất là việc đưa ra Chương trình hành động cũng như tích cực hoạt động ngoại giao nhằm phát huy vai trò của Chính phủ mới đối với cách mạng Việt Nam.
Đồng chí
Huỳnh Tấn Phát sinh năm 1913 trong một gia đình viên chức nghèo tại xã Châu
Hưng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre (trước thuộc tỉnh Mỹ Tho). Ông là người
thông minh, yêu thích môn vẽ và có năng khiếu hội họa. Năm 1933, ông thi đỗ
vào khoa kiến trúc Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương Hà Nội. Sau 5 năm học
tập, ông đỗ thủ khoa và trở về Sài Gòn làm việc trong văn phòng kiến trúc của
người Pháp. Với xuất phát điểm là một kiến trúc sư nhưng đồng chí Huỳnh Tấn
Phát đã sớm bộc lộ rõ là một nhà hoạt động cách mạng xuất sắc khi ông tranh
luận với đồng nghiệp về tình hình chiến sự với tư duy nhạy bén và tầm
nhìn sắc sảo. Năng lực chính trị đó của ông ngày càng được bộc lộ rõ
hơn trong cách ông nắm bắt chiều hướng phát triển của tình hình thực
tế với cách đánh giá, nhìn nhận và tổng kết thực tiễn tinh tường.
Tháng 6-1969, tại Đại hội đại biểu quốc dân toàn miền Nam, Chính phủ cách mạng
lâm thời cộng hòa miền Nam (CPCMLTCHMNVN) được thành lập, đồng chí Huỳnh Tấn
Phát được bầu làm Chủ tịch. Trên cương vị Chủ tịch CPCMLTCHMNVN, ông đã ghi
nhiều dấu ấn trong lịch sử phát triển cách mạng miền Nam nhất là việc
đưa ra Chương trình hành động cũng như tích cực hoạt động ngoại giao nhằm
phát huy vai trò của Chính phủ mới đối với cách mạng Việt Nam.
1. Vị Chủ tịch luôn tích cực hoạt động
ngoại giao nhằm tranh thủ sự công nhận của quốc tế về Chính phủ lâm
thời cộng hoà miền Nam Việt Nam.
Cuộc
tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân năm 1968 đã làm chấn động dư luận quốc tế,
tạo nên làn sóng đấu tranh của các lực lượng yêu chuộng hòa bình trên thế
giới phản đối cuộc chiến tranh phi nghĩa của đế quốc Mỹ trên đất nước Việt
Nam. Làn sóng đấu tranh đó đã từng bước làm suy yếu ý chí xâm lược của đế quốc
Mỹ, tuy nhiên chúng vẫn nuôi hi vọng sẽ dựng nên một học thuyết quân sự đủ sức
răn đe đối với các phòng trào đấu tranh của dân tộc Việt Nam. Chính vì
vậy, đầu năm 1969, Nixon bước vào nhà trắng và thông qua “Học thuyết
Nixơn” và đi kèm với nó là chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”. Học
thuyết quân sự của Nixơn được đưa ra với mục tiêu cơ bản là rút quân Mỹ về
nước và sử dụng đội ngũ tay sai của Nguyễn Văn Thiệu. Để mục đích đó
được thực hiện, Nixơn đã sử dụng tối đa sức mạnh về quân sự kết hợp với các thủ
đoạn về chính trị và ngoại giao rất xảo quyệt hòng giành lại thế mạnh để cô lập
và bóp chết các phong trào đấu tranh của nhân dân Việt Nam.
Đứng trước
những diễn biến mang tính bước ngoặt của tình hình trong và ngoài nước cùng với sự ngoan cố, liều lĩnh của quân đội Sài Gòn dưới sự hỗ
trợ của Mỹ đã đặt ra yêu cầu phải đoàn kết hơn
nữa mọi lực lượng cho cuộc kháng chiến, trong đó không loại trừ lực lượng trung
lập, làm cho cán cân chính trị miền Nam nghiêng hẳn về phía cách mạng. Để thực hiện yêu cầu đó, cách mạng miền Nam
cần phải
thành lập một chính phủ yêu chuộng hòa bình, trung lập.
Như vậy, vấn đề thành lập Chính phủ mới trở thành yêu cầu cấp
bách cả về đối nội lẫn đối ngoại. Trong điều kiện cách mạng miền Nam lúc này đã có vùng giải phóng
rộng lớn với lực lượng vũ trang lớn mạnh, lực lượng chính trị hùng hậu và tất
cả đều được thống nhất trong mặt trận đoàn kết dân tộc rộng rãi, đã đặt ra yêu cầu cần phải thành lập
một tổ chức chính trị có đủ giá trị pháp lí để có thể tập hợp mọi tầng lớp nhân
dân và nó thực hiện tốt nhiệm vụ đối nội và đối ngoại cho cách mạng miền Nam.
Tất cả các điều kiện đó đã chín muồi để miền Nam nhanh chóng thành lập một Chính phủ đảm nhận chức năng
đối nội, đối ngoại, thúc đẩy cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đi tới thắng
lợi cuối cùng.
Với công tác chuẩn bị kĩ và sự chỉ đạo trực tiếp
của Bộ Chính Trị, từ ngày 6- 6 đến ngày 8-6-1969, Đại hội Đại biểu quốc dân toàn
miền Nam đã khai mạc trọng thể tại vùng Tà Nốt (Tây
Ninh). Thành phần tham gia Đại hội gồm 72 khách mời, 88 đại biểu, đại diện cho
các chính đảng, dân tộc, tôn giáo, các tầng lớp nhân dân và lực lượng vũ trang
cách mạng trên toàn miền Nam. Những quyền lợi dân tộc cơ bản của nhân dân
Việt Nam - đó là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, những
quyền dân tộc bất khả xâm phạm đó bị đế quốc Mỹ chà đạp nghiêm trọng đã được
Đại hội đi sâu phân tích. Trên cơ sở đó, Đại hội vạch ra nhiệm vụ chủ yếu cho
quân và dân miền Nam Việt Nam lúc này là đoàn kết chiến đấu, đánh bại đế quốc
Mỹ xâm lược, đánh đổ ngụy quyền tay sai, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc,
thực hiện miền Nam Việt Nam độc lập, dân chủ, hoà bình, trung lập, tiến tới
thống nhất nước nhà.
Để
thực hiện nhiệm vụ trên một cách hiệu quả, Đại hội tuyên bố thành lập Chính phủ
Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam với nòng cốt là Mặt trận dân tộc
giải phóng miền Nam (MTDTGPMN), do kiến trúc
sư Huỳnh Tấn Phát làm Chủ tịch và Hội đồng Cố vấn chính phủ, do luật sư Nguyễn
Hữu Thọ làm Chủ tịch, luật sư Trịnh Đình Thảo làm Phó chủ tịch.
Ngay sau khi
được thành lập, ngày 10-6-1969, CPCMLTCHMNVN đã họp phiên đầu tiên dưới sự chủ
tọa của Chủ tịch Huỳnh Tấn Phát. Trong phiên họp này, với cương vị là Chủ tịch,
đồng chí Huỳnh Tấn Phát đã nhấn mạnh: “Chính phủ lâm thời cộng hoà
miền Nam Việt Nam sẵn sàng hiệp thương với các lực lượng chính trị
đại diện cho mọi tầng lớp nhân dân và các khuynh hướng chính trị ở
miền Nam trên cơ sở bình đẳng, dân chủ và tôn trọng lẫn nhau”. Cũng tại phiên họp này,
Chủ tịch Huỳnh Tấn Phát đã thông qua Chương trình hành động 12 điểm của
CPCMLTCHMNVN trong đó nêu rõ các chính sách đối nội và đối ngoại.
Chính sách đối nội được Chủ tịch Huỳnh Tấn
Phát xác định: Lãnh đạo đấu tranh đòi thành lập một chính phủ liên hiệp phản
ánh hòa hợp dân tộc và đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân; thực hiện các
quyền tự do, dân chủ; chú trọng quyền lợi của mọi tầng lớp nhân dân ở các đô
thị, trước hết là các quyền dân sinh, dân chủ; đẩy mạnh sản xuất để cung cấp
cho tiền tuyến và bồi dưỡng sức dân; bài trừ văn hóa giáo dục nô dịch; khuyến
khích, hoan nghênh và khen thưởng những sĩ quan binh lính trong quân đội Sài
Gòn, nhân viên và công chức chính quyền Sài Gòn lập công trở về với
CPCMLTCHMNVN; tích cực giải quyết các vấn đề do cuộc chiến tranh xâm lược của
Mỹ và chế độ Sài Gòn để lại; lập lại quan hệ bình thường giữa hai miền Nam -
Bắc. Việc thống nhất đất nước sẽ tiến hành từng bước bằng phương pháp hòa bình
trên cơ sở bàn bạc và thỏa thuận giữa
hai miền, không bên nào ép buộc bên nào.
Chính sách
đối ngoại được Chủ tịch Huỳnh Tấn Phát xác định phải là “chính sách ngoại giao
hòa bình, trung lập”,
không tham gia khối liên minh quân sự với nước ngoài; đồng thời, thực hiện quan
hệ hữu nghị, chính sách láng giềng tốt và lập quan hệ ngoại giao, kinh tế, văn
hóa với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội, kể cả với
nước Mỹ.
Tôn chỉ hoạt
động của CPCMLTCHMNVN được Chủ tịch Huỳnh Tấn Phát xác định là thực hiện chính
sách hòa bình, trung lập, độc lập, dân chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam, nhằm thực hiện nhiệm vụ tối cao là đoàn kết nhân dân miền Nam chiến
đấu đánh bại đế quốc Mỹ, lật đổ ngụy quyền tay sai phản động, “hoàn thành vẻ vang sự nghiệp giải phóng dân tộc, tạo
điều kiện cơ bản để xây dựng miền Nam Việt Nam độc lập, dân chủ, hòa bình,
trung lập, phồn vinh, tiến đến hòa bình thống nhứt Tổ quốc”
.
Chính sách
đối nội và đối ngoại mà Huỳnh Tấn Phát thảo ra cho CPCMLTCHMNVN rất phù hợp với
những đòi hỏi của thực tiễn cách mạng. Những chính sách của ông đưa ra có tầm
bao quát lớn, khi nó đề cập đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Chương
trình hành động do ông đưa ra đã thể hiện bản chất của một chính phủ yêu
chuộng hòa bình; qua đó, thể hiện khát vọng, ý chí của đồng bào miền Nam là
nhanh chóng đi tới một nền hòa bình, độc lập, tự do vĩnh viễn.
Sự ra đời của CPCMLTCHMNVN
là một sự kiện chính trị quan trọng khi nó đại diện chân chính cho
cách mạng miền Nam với tư cách là một tổ chức chính trị độc lập, có đầy đủ
giá trị pháp lí. Vì thế, nó có thể “ đối chọi mọi mặt với chính quyền Sài Gòn”.
Với chương trình hành động và tôn chỉ hoạt động của mình, ngay sau khi được
thành lập, CPCMLTCHMNVN đã nhanh chóng nhận được sự đồng thuận của nhân
dân trong nước và thế giới. Nhiều nước trong phe XHCN đã gửi công điện
chúc mừng. Trong đó, ông Phidel Castro Thủ tướng chính phủ cách mạng Cu Ba và
ông Osvando Dorticos, Tổng thống nước Cộng Hòa Cu Ba đã gửi điện đến Chủ tịch
Huỳnh Tấn Phát:
“…Thay mặt nhân dân, Đảng, Chính phủ cách mạng Cu Ba
chúng tôi xin bày tỏ lời chức mừng chân thành nhất về việc đồng chí được cử làm
Chủ tịch Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền nam Việt Nam. Chính phủ
cách mạng Cu Ba với sự hài lòng sâu sắc đã quyết định công nhận ngay tức khắc
chính phủ do ông làm Chủ tịch”. Để tính pháp lí của
Chính phủ mới được công nhận rộng rãi, trong năm 1969 Chủ tịch
Huỳnh Tấn Phát liên tiếp cử các đoàn Ngoại giao đi thăm hữu nghị nhiều nước:
CHND Trung Hoa, CHDC Đức (9-1969), Arập, Syria, Tiệp
Khắc, Triều Tiên, Mông Cổ, Ba Lan, Hungari (10-1969),
thăm vùng giải phóng Lào (12-1969). Ngay sau khi
được thành lập, CPCMLTCHMNVN đã được 23 nước XHCN và Dân tộc chủ nghĩa công nhận (Cuba,
Algeria, Triều Tiên là ba nước đầu tiên công nhận CPCMLTCHMNVN), trong đó có 21
nước đặt quan hệ ngoại giao ở cấp Đại sứ. Đặc biệt, nhiều nước mặc nhiên chuyển
các Cơ quan đại diện và các Phòng thông tin của MTDTGPMNVN thành
các cơ quan ngoại giao của CPCMLTCHMNVN như Thụy Điển, Cộng hòa dân chủ Đức...
Sự ra đời của CPCMLTCHMNVN cũng được Hội nghị quốc tế các ĐCS và công nhân họp
tại Moscow ngày 12-6-1969,
đánh giá cao: “75 Đảng Cộng sản dự Hội nghị nhận thấy trong sự kiện này, một
giai đoạn mới và quan trọng trong cuộc đấu tranh giải phóng và anh hùng của
nhân dân Việt Nam”. Sự ủng hộ của Chính phủ
và nhân dân các nước đã khẳng định vị thế chính trị và là nguồn động viên rất
lớn đối với đồng chí Huỳnh Tấn Phát nói riêng và CPCMLTCHMNVN chung.
CPCMLTCHMNVN
tuy mới được thành lập nhưng với sự nỗ lực không mệt mỏi của Chủ tịch Huỳnh Tấn
Phát, Chính phủ mới đã đã từng bước củng cố vị thế quốc tế của mình ở miền Nam
Việt Nam. Việc đề cao vai trò của Chính phủ mới trên trường quốc tế được
Chủ tịch Huỳnh Tấn Phát hết sức lưu tâm và xem đó là một trong những nhiệm
vụ chính của mình. Vì thế, ông chủ trương thực hiện các chuyến thăm viếng
ngoại giao đến nhiều nước ở nhiều châu lục khác nhau, với những chế độ chính
trị - xã hội khác nhau. Trong hồi ức của mình về đồng chí Huỳnh Tấn Phát,
Thượng tướng Trần Văn Trà, nguyên Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam nhớ đến đồng chí của mình là “ người có tiếng
trước dư luận thế giới, trước báo chí quốc tế”. Ở mỗi điểm đến,
CPCMLTCHMNVN đều được nhân dân yêu chuộng hòa bình đón nhận, chào mừng, ủng hộ.
Luật sư, Chủ tịch Mặt trận dân tộc giải phóng Nguyễn Hữu Thọ; kiến trúc sư, Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời Huỳnh Tấn Phát và luật sư Trịnh Đình Thảo, Chủ tịch Liên minh các lực lượng dân chủ và hòa bình tại tiệc chiêu đãi nhân kỷ niệm lần thứ 6 Ngày thành lập Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (1975). Ảnh: Duy Cương-TTXVN
Những hoạt
động không mệt mỏi của đồng chí Huỳnh Tấn Phát ngay trong những ngày đầu mới
thành lập đã góp phần tăng đáng kể uy tín quốc tế của CPCMLTCHMNVN, đồng thời
giúp cho các nước thừa nhận đây là đại diện hợp pháp cho nhân dân miền Nam
Việt Nam. Sự ủng hộ của quốc tế đã khiến cho phía Mỹ và Chính quyền Sài Gòn lo
sợ. Ban đầu chúng không chịu thừa nhận sự tồn tại của Chính phủ mới. Tuy nhiên, với những chiến thắng giòn giã trên chiến trường cùng với sự
ủng hộ của các nước, nhất là đầu năm 1972, khi Phong trào không liên kết công nhận
CPCMLTCHMNVN là thành viên đã minh chứng cho địa vị pháp lý vững chắc
của Chính phủ mới. Sự kiện đó, cũng mở ra cơ hội, khả năng tăng cường Mặt trận
nhân dân thế giới ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đầy cam go, gian
khó của nhân dân Việt Nam.
+Như vậy, với cái
“ tâm” và “ tầm” của mình, trên cương vị Chủ tịch, đồng chí Huỳnh Tấn Phát đã
nỗ lực hoạt
động không mệt mỏi, với tầm nhìn xa trông rộng, sự
hiểu biết uyên thâm cùng với trái tim đầy nhiệt huyết đã lãnh đạo và thực hiện
nhiều biện pháp để đưa một Chính phủ mới ban đầu chưa được công nhận thành một
tổ chức chính trị lớn có giá trị pháp lí để có thể tự tin đứng vững chắc, có
tiếng nói lớn cùng với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trên bàn đàm phán ở
Hội nghị Paris.
2. Thực hiện các mũi tấn
công ngoại giao trên diện rộng tạo hiệu quả cao nhất trên bàn đàm phán ở Hội
nghị Paris.
Đầu năm 1969,
Hội nghị Paris bước vào giai đoạn hai - giai đoạn đàm phán bốn bên. Sự ra đời
của CPCMLTCHMNVN “ là một mũi tiến công sách lược lớn của ta, nó có mặt lợi là
góp phần triệt để phân hóa địch, đẩy mạnh phong trào quần chúng ở các thành thị
miền Nam, thúc đẩy việc hình thành và sớm lập được Mặt trận thứ ba làm cho Mỹ
càng thêm lúng túng, bị động, đối với thế giới thì làm sáng tỏ thiện chí của
ta”.
Sự ra đời của Chính phủ mới có đầy đủ giá trị pháp lí sẽ là yếu tố vô cùng
thuận lợi cho Việt Nam khi mà thế bế tắc tại Hội nghị Paris chưa được hóa giải.
Chính vì thế, ngay trong điểm 12 của Chương trình hành động do Chủ tịch
Huỳnh Tấn Phát đưa ra đã chỉ rõ nhiệm vụ ngoại giao cơ bản, cụ thể của
CPCMLTCHMNVN lúc này là: 1). Tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của các
nước và nhân dân tiến bộ trên thế giới, kể cả nhân dân Mỹ đối với sự nghiệp
chống Mỹ, cứu nước của nhân dân miền Nam Việt Nam; 2). Tích cực ủng hộ phong
trào độc lập dân tộc của nhân dân châu Á, châu Phi, châu Mỹ La-tinh chống chủ
nghĩa đế quốc và CNTD cũ và mới; 3). Tích cực phối hợp với cuộc đấu tranh của
nhân dân Mỹ chống chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở Việt Nam.
Việc Chủ tịch Huỳnh Tấn Phát đưa ra nhiệm vụ đối ngoại của Chính phủ mới đã thể
hiện nhất quán mục tiêu đấu tranh của CPCMLTCHMNVN ngay từ khi ra đời - đó là
phấn đấu cho một nền hòa bình, độc lập, thống nhất thực sự. Để thực hiện nhiệm
vụ đối ngoại đó, Chương trình tiếp tục nêu lên những chính sách đối
ngoại thể hiện rõ lập trường hòa bình, trung lập của Chính phủ trên năm nguyên
tắc chung sống hòa bình: 1). Lập quan hệ ngoại giao, kinh tế, văn hóa với tất
cả các nước không phân biệt chế độ chính trị và xã hội, kể cả với Mỹ, đồng
thời, chú trọng quan hệ hữu nghị và chính sách láng giềng tốt với Vương quốc
Lào và Campuchia; 2). Nhận viện trợ về
vốn, kỹ thuật, chuyên gia của tất cả các nước không kèm theo điều kiện chính
trị; 3). Không tham gia khối liên minh quân sự với nước ngoài, không cho phép
nước ngoài có căn cứ quân sự, quân đội và nhân viên quân sự trên đất mình,
không công nhận sự bảo hộ của bất cứ nước nào hoặc liên minh quân sự nào. Những
chính sách đối ngoại mà Chủ tịch Huỳnh Tấn Phát đưa ra nhằm tập hợp một cách
rộng rãi mọi lực lượng hòa bình, tiến bộ trên thế giới và trong nước ủng hộ cho
cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam đang đi vào hồi quyết định.
Khi thế bế
tắc trên bàn đàm phán ở Paris chưa được giải quyết, Bộ Chính trị hạ
quyết tâm: “Ta phải đánh cho quân Mỹ bị thua đau hơn nữa, đánh cho ngụy quân,
ngụy quyền phải sụp đổ”,
nhằm tạo ra sự thay đổi trong cán cân lực lượng trên chiến trường có lợi cho chúng ta, tạo điều kiện cho cuộc đấu tranh
ngoại giao tại Hội nghị Paris và bên ngoài Hội nghị. Dưới sự lãnh đạo
của Trung ương Đảng, CPCMLTCHMNVN đứng đầu là Chủ tịch Huỳnh Tấn Phát quyết
định mở đợt tấn công ngoại giao nhằm phục vụ cho chiến trường, tranh
thủ dư luận, cô lập thêm chính quyền R.Nixon. Để hỗ trợ cho Chính phủ mới
trên bàn đàm phán, Chủ tịch Huỳnh Tấn Phát đã chỉ đạo đoàn đại biểu
CPCMLTCHMNVN mở đợt tấn công lớn với 8 điểm,
trong đó cụ thể hoá hơn so với Giải pháp 10 điểm trước đó, vạch rõ
luận điệu lừa bịp của Trưởng đoàn Sài gòn về “hoà bình chơn chính và vững chắc”, “ một nền
hoà bình công bằng”. Mũi tiến công chính của 8 điểm là đòi Mỹ rút
hết quân trước ngày 30-6-1971 và đòi gạt bỏ nhóm Thiệu - Kỳ - Khiêm
để thành lập Chính phủ liên hiệp lâm thời ở miền Nam Việt Nam gắn
vấn đề Mỹ rút quân với trao trả tù binh. Giương cao ngọn cờ hoà
bình, độc lập, tranh thủ dư luận, chĩa mũi nhọn vào bộ ba Thiệu - Kỳ - Khiếm, hỗ trợ
phong trào đô thị, phân hoá hàng
ngũ tay sai và cổ vũ xu thế hoà bình, trung lập đang lên ở miền Nam,
góp thêm sức cho phong trào chống chiến tranh ở Mỹ. Kế hoạch 8 điểm
đã dồn chính quyền của R. Nixơn vào thế bị động và cô lập, khiến phe
của Tổng thống R.Nixon rơi vào thế bất lợi trong cuộc bầu cử Quốc
hội Mỹ giữa nhiệm kì.
Khi cuộc hành
quân ở Campuchia giành thắng lợi, R.Nixon cho rằng lần đầu tiên Mỹ có thể tính
đến một hiệp định ngừng bắn ở Nam Việt Nam mà không coi việc rút quân miền Bắc
Việt Nam là một điều kiện tiên quyết. Trên cơ sở đó, R. Nixon vạch ra Kế
hoạch hòa bình 5 điểm trình bày trước truyền hình ngày 7-10-1970. Kế hoạch hòa
bình 5 điểm của R. Nixon có điểm mấu chốt là “giữ nguyên trạng”; “thương
lượng một lịch rút quân Mỹ” và “giải pháp chính trị dựa trên hai nguyên tắc:
phản ánh ý chí của nhân dân miền Nam, phản ánh tương quan lực lượng chính trị
hiện nay ở miền Nam” .
Ý đồ của phía
Mỹ đã không được hai Đoàn Ngoại giao của VNDCCH và CPCMLTCHMNVN chấp nhận. CPCMLTCHMNVN đã kịp
thời chỉ ra thái độ mập mờ của Mỹ, tố cáo Mỹ thực hiện rút quân “nhỏ giọt” nhằm
kéo dài chiến tranh. Trước ý đồ đó
của Mỹ,
ngày 13-10-1970,
Bộ Ngoại giao VNDCCH ra Tuyên bố về “sáng kiến mới” của Mỹ, trong đó chỉ rõ những điểm mập mờ. Nhất là trong Kế hoạch hòa bình 5 điểm của R.
Nixon không hề đả động đến vấn đề thành lập Chính phủ liên hiệp ba thành phần –
một chính phủ thể hiện tinh thần đoàn kết và hòa hợp dân tộc, đảm bảo nguyên
tắc không bên nào được cưỡng bức nhân dân chấp nhận chế độ chính trị của mình;
trong khi đó, giải pháp chính trị Mỹ đưa ra lại hết sức mập mờ khi đề cập đến nguyên tắc “phản ánh ý chí của nhân dân
miền Nam”, mà thực chất là nhằm mục đích củng cố vị trí của chính quyền Thiệu.
Trước tuyên
bố của Bộ Ngoại giao VNDCCH, ngày 14-10-1970 Chủ tịch Huỳnh Tấn Phát đã bác bỏ ngay cái gọi là “sáng kiến hòa bình” của R. Nixon. Ông nhận
thấy việc “ngừng bắn trên toàn Đông Dương và giữ nguyên trạng” là yếu tố có
lợi cho cách mạng Việt Nam. Vì thế, ngày 10-12-1970, tại Hội nghị bốn bên,
Chủ tịch Huỳnh Tấn Phát chỉ đạo đoàn ngoại giao của CPCMLTCHMNVN tập trung
xoáy sâu vào nội dung này bằng Đề nghị 3 điểm về ngừng bắn, chủ động đưa
ra thời hạn rút quân gắn với việc ngừng bắn (hạn điểm rút quân là 30-6-1971); đồng thời, gắn
việc ngừng bắn với thành lập chính phủ liên hiệp lâm thời ba thành phần; gắn
vấn đề tù binh vào vấn đề rút hết quân Mỹ .
Điều đáng lưu ý là đề nghị này được đưa ra đúng vào thời điểm khi binh lính Mỹ
trên chiến trường ngày càng bị thương vong nặng nề, đặc biệt khi Chính quyền Mỹ đang tập trung vào vấn đề
phi công Mỹ bị bắt ở Việt Nam. Do vậy, một lịch rút quân cụ thể là sự mong muốn
của không chỉ nhân dân Mỹ, mà còn của một bộ phận không ít các nghị sĩ Mỹ. Và,
giờ đây vấn đề tù binh mà chính quyền R.Nixon dùng để kích động dư luận Mỹ và
thế giới chống Việt Nam nay trở thành vấn đề mà họ phải đối phó
Tiếp đó, khi chính quyền R.Nixon vu khống chính phủ ta tra
tấn, bạc đãi tù nhân Mỹ, phối hợp đoàn Ngoại giao VNDCCH và các thành
viên Đoàn ngoại giao miền Bắc, đồng chí Huỳnh Tấn Phát đã tiếp đón và
giải đáp thắc mắc của họ. Qua các cuộc tiếp đón, Chủ tịch Huỳnh Tấn Phát
nêu rõ chính sách nhân đạo và mong muốn của ta nhanh chóng trao tả tù
binh về nước, nếu Mỹ nhanh chóng rút quân theo thời hạn CPCMLTCHMNVN
đã đề nghị. Chính sách nhân đạo và cách giải quyết
vấn đề tù bình chiến tranh của CPCMLTCHMNVN nhanh chóng được dư luận thế
giới hoan nghênh.
Bên cạnh
những nỗ lực hoạt động nhằm tìm kiếm lợi thế trên bàn đàm phán ở
Paris, Chủ tịch Huỳnh Tấn Phát còn xúc tiến các mũi đấu tranh ngoại giao
khác như: Tố cáo tội ác cuả chính quyền Mỹ - Thiệu; tố cáo âm mưu
trì hoãn đàm phán; tố cáo âm mưu phá hoại Hiệp định (sau khi Hiệp
định đã được ký kết); tranh thủ sự ủng hộ quốc tế trên những phương diện khác
nhau; thắt chặt tình đoàn kết, gắn bó giữa nhân dân ba nước Đông Dương đấu
tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược…Các mũi đấu tranh ngoại giao đó được thực hiện
thông qua các buổi gặp gỡ, thăm hỏi, tiếp xúc với Chính phủ và đại sứ
các nước. Ông đã khéo léo kết hợp cùng lúc nhiều mũi đấu tranh ngoại
giao khác nhau nhằm giúp chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế,
các giới và nhân dân các nước trong đó có cả nhân dân Mỹ hiểu rõ
lập trường chính nghĩa của Việt Nam. Qua đó, ông khéo léo tố cáo thủ đoạn
lật lọng, dây dưa kéo dài chiến tranh của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Trên cơ sở
đó, đồng chí Huỳnh Tấn Phát từng bước hình thành ba tầng mặt trận ủng hộ nhân
dân Việt Nam chống Mỹ cả về vật chất lẫn tinh thần. Sự kết hợp khéo léo các mũi
tiến công ngoại giao của người đứng đầu Chính phủ mới đã tạo nên một áp lực
không nhỏ cho nhà cầm quyền Mỹ và Sài Gòn trên bàn đàm phán, buộc Mỹ, Thiệu
phải chùn tay phần nào trên chiến trường miền Nam, thực hiện xuống thang chiến
tranh từng bước và cuối cùng ký Hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh, lập lại
hòa bình ở Việt Nam.
Với Hiệp định
Paris, quân dân ta đã “đánh cho Mỹ cút”, nhưng chính quyền Sài Gòn vẫn tồn tại,
chúng lại được Mỹ tiếp tục viện trợ, tiếp sức, nên ra sức phá hoại Hiệp định
Paris. Trong tình hình đó, Trung ương Đảng tiếp tục chủ trương kết hợp ngoại
giao hai miền, kết hợp chặt chẽ hơn nữa các mũi tiến công ngoại giao trong cuộc
đấu tranh chung buộc địch thi hành Hiệp định.
Thực hiện chỉ
thị của Trung Ương, người đứng đầu CPCMLTCHMNVN tập trung đẩy mạnh ngoại giao
nhà nước, kết hợp chặt chẽ với ngoại giao nhân dân, phối hợp với ngoại giao
VNDCCH, đấu tranh tại các diễn đàn đòi thực hiện ngừng bắn, đòi Mỹ chấm dứt
dính líu quân sự; đấu tranh đòi trao trả hết nhân viên dân sự bị bắt và bị giam
giữ, thực hiện tự do, dân chủ cho nhân dân miền Nam. Tại nhiều diễn đàn, đồng
chí Huỳnh Tấn Phát chủ trương kết hợp với chính phủ VNDCCH: Một mặt,
lên án Mỹ - Thiệu vi phạm nghiêm trọng Hiệp định, yêu cầu phái đoàn Sài Gòn đàm
phán nghiêm chỉnh; mặt khác, kiên trì, chủ động vạch rõ cho nhân dân thế
giới giới thấy được thiện chí của đồng bào miền Nam Việt Nam; thấy được nguyện
vọng chính đáng thiết lập nền hòa bình vững bền của nhân dân Việt Nam; thấy
được quyền tự quyết chính đáng của nhân dân miền Nam trong công việc nội bộ của
mình…
Song song với
các hoạt động nêu trên, Chủ tịch Huỳnh Tấn Phát đã thực hiện mũi tiến công
ngoại giao trên bình diện rộng bằng việc tổ chức các chuyến đi thăm hữu
nghị nhiều nước, thông báo tình hình Hội nghị Paris. Qua các chuyến thăm và tại
nhiều diễn đàn, chính phủ các nước đều ra tuyên bố ủng hộ các đề nghị của
CPCMLTCHMNVN; nhiều hiệp định viện trợ không hoàn lại cho miền Nam cũng được ký
kết với chính phủ các nước. Sự động viên về tinh thần và ủng hộ về vật chất to
lớn đó chính là động lực để quân dân Việt Nam dồn sức thực hiện đấu tranh quân
sự, chính trị, đưa cách mạng miền Nam nhanh chóng đi đến thắng lợi.
Như vậy, nhờ
việc kết hợp khéo léo, cùng lúc thực hiện đồng thời nhiều mũi tiến công ngoại
giao khác nhau của Chủ tịch Huỳnh Tấn Phát đã có tác dụng hỗ trợ tích cực cho
nhau nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ
ngoại giao của CPCMLTCHMNVN đạt được hiệu quả cao. Nhờ những hoạt động ngoại to
lớn của đồng chí Huỳnh Tấn Phát nói riêng, của CPCMLTCHMNVN nói riêng, Mỹ và
chính quyền Sài Gòn buộc phải đi vào đàm phán thực chất, đưa đến việc ký kết
Hiệp định Paris, chấm dứt sự can thiệp của Mỹ vào miền Nam Việt Nam.
3. Phát
huy vai trò tiên phong trong khôi phục kinh tế, ổn định chính trị xã hội sau
ngày thống nhất đất nước.
Ngày 30-4-1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước của nhân dân Việt Nam giành thắng lợi với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí
Minh lịch sử. Cuộc chiến tranh đã để lại cho nhân dân miền Nam hậu quả kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội
vô cùng nặng nề. Về kinh tế: Ở miền Nam do ảnh hưởng lớn của chính sách thực
dân kiểu mới, những yếu tố tư bản chủ nghĩa đã xâm nhập sâu vào các ngành công
nghiệp, thương nghiệp, tài chính ngân hàng…và bước đầu trong kinh tế nông
nghiệp. Để nhanh chóng khôi phục và phát triển kinh tế, ngày 10-9-1975, đồng
chí Huỳnh Tấn Phát thay mặt CPCMLTCHMNVN ra Tuyên bố về một số chính sách khôi
phục và phát triển kinh tế công thương nghiệp, bài trừ hành động lũng đoạn đầu
cơ tích trữ, phá rối thị trường. Tuyên bố của ông được đưa ra vào đúng thời
điểm kinh tế miền Nam rơi vào khủng hoảng trầm trọng khi Mỹ chấm dứt viện trợ
kinh tế. Những chính sách kinh tế đó được đưa ra đã đáp ứng được những yêu cầu
khách quan để xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ của miền Nam sau ngày
giải phóng. Điều đó, cho thấy một tầm nhìn rộng không chỉ trên lĩnh vực chính
trị mà còn biểu hiện tư duy của một nhà kinh tế lớn trong con người Huỳnh Tấn
Phát.
Ngoài việc
đưa ra chính sách kinh tế phù hợp, với tư cách là người đứng đầu CPCMLTCHMNVN,
đồng chí Huỳnh Tấn Phát còn trực tiếp thực hiện các biện pháp kinh tế phù hợp
nhằm khai thác tối đa lợi thế của nền kinh tế miền Nam. Ngày 6-8-1975, Chủ
tịch Huỳnh Tấn Phát thông qua tuyên bố cụ thể
trong việc CPCMLTCHMNVN đẩy mạnh việc tìm kiếm và khai thác dầu mỏ trên
lãnh thổ của mình và sẵn sàng thảo luận với Chính phủ và các công ty nước ngoài
muốn tham gia. Tuyên bố này cho thấy tư tưởng ngoại giao trong hoạt động kinh
tế tiếp tục được ông khai thác trong điều kiện mới. Điều đó cũng đồng nghĩa với
năng lực quản lí, điều hành, nhất là đã thể thể hiện tầm nhìn, cách nắm bắt
thời cơ cùng lối tư duy sắc sảo của Chủ tịch Huỳnh Tấn Phát.
Trên lĩnh vực chính trị - văn hóa: Sau chiến tranh, quần
chúng nhân dân rất phấn khởi, nhanh chóng bắt tay vào xây dựng chế độ mới. Tuy
nhiên, cũng có một bộ phận, nhất là những người đã từng tham gia trong bộ máy
quân sự và chính trị của chính quyền Sài Gòn tỏ ra lo ngại, thậm chí có người
bị lợi dụng Nhà nước gặp khó khăn để kích động lôi kéo quần chúng, móc nối với
các thế lực phản động bên ngoài gây rối loạn trong nước. Trước tình hình đó,
ngày 28-1-1976, Chủ tịch Huỳnh Tấn Phát đã công bố chính sách khoan hồng,
độ lượng đối với những binh sĩ nguỵ quân, nhân viên nguỵ quyền và
đảng phái phản động để đăng kí trình diện và học tập cải tạo tốt.
Chính sách nhân đạo này đã được đồng chí Huỳnh Tấn Phát đề cập ngay trong điểm 12 của Chương trình hành động của
CPCMLTCHMNVN ngay trong những ngày đầu thành lập. Tư tưởng nhân đạo đó của ông
cho thấy một con người đầy tình yêu thương, một nhân cách lớn với trái tim đôn
hậu được hun đúc trong những năm tháng tham gia cách mạng đầy gian khổ.
Trên lĩnh
vực tổ chức các đơn vị hành chính: sau giải phóng một yêu cầu lớn được
đặt ra cho cách mạng cả nước là phải sắp xếp lại về mặt tổ chức các đơn vị hành
chính nhằm đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng và quản lí nhà nước được nhanh chóng,
nhạy bén, sát cơ sở, giảm bớt đầu mối và cấp trung gian. Các tỉnh phải trở
thành các đơn vị hành chính lớn mạnh, có khả năng giải quyết đến mức cao nhất
những yêu cầu về xây dựng và phát triển kinh tế, phát triển văn hóa, nâng cao
đời sống của nhân dân. Vì thế, tại Hội nghị lần thứ 24 của Ban chấp hành Trung
Ương Đảng đã đề ra chủ trương thực hiện chế độ quản lí hành chính theo bốn cấp
Trung Ương, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương, huyện và tương đương, xã và
tương đương. Thực hiện chủ trương của Ban chấp hành Trung Ương, ở miền Nam Việt
Nam dưới sự lãnh đạo của Trung Ương cục miền Nam Việt Nam, Hội đồng cố vấn và
Hội đồng chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam nhất trí thực
hiện chủ trương giải thể cấp khu và hợp nhất tỉnh ở miền Nam Việt Nam.
Đến tháng 2-1976, Chủ tịch Huỳnh
Tấn Phát thay mặt Hội đồng CPCMLTCHMNVN ra nghị định về việc
giải thể Khu và tiến hành hợp nhất các tỉnh
miền nam thành 20 tỉnh mới và 1 thành phố lớn là thành phố Hồ Chí Minh.
Như vậy,
việc thực hiện chủ trương cải tiến hệ thống hành chính theo bốn cấp, bỏ bớt cấp
khu là hoàn toàn đúng. Thế nhưng, việc hợp nhất các tỉnh nhỏ thành các tỉnh
lớn nhằm bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và sự chỉ đạo của Nhà nước được nhanh
gọn, phát huy sức lao động sáng tạo của nhân dân là một chủ trương còn mang
tính chủ quan, duy ý chí. Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận việc giải thể Khu
và tiến hành hợp nhất các tỉnh miền Nam là phù hợp với yêu cầu của thực tiễn
của miền Nam sau ngày thống nhất.
Sự đóng góp
của Chủ tịch Huỳnh Tấn Phát nhằm xây dựng và phát triển miền Nam sau ngày hoà
bình lập lại trên nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, xă hội chứng tỏ năng lực
và khả năng lãnh đạo của một nhà hoạt động chính trị xuất sắc. Miền Nam Việt
Nam sau ngày thống nhất đất nước đang dường như được xây dựng lại với bản thiết
kế của kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát và được ông triển khai thi công bằng những
chính sách, kế hoạch hợp lí tạo nền tảng ban đầu nhằm xây dựng miền Nam có được
hình ảnh như ngày hôm nay.
KẾT
LUẬN: Như vậy, với những cống hiến
xuất sắc của Chủ tịch Huỳnh Tấn Phát trên cương vị Chủ tịch CPCMLTCHMNVN đối
với cách mạng Việt Nam nói chung, cách mạng miền Nam trong sự nghiệp chống Mỹ
nói riêng đã chứng tỏ tầm nhìn chiến lược của Trung ương cục miền Nam Việt Nam
khi lựa chọn những cá nhân xuất sắc đại diện cho CPCMLTCHMNVN. Với những cống
hiến xuất sắc của Chủ tịch Huỳnh Tấn Phát cho chúng ta thấy rõ chân dung một
nhà yêu nước, một nhà cách mạng, một chiến sĩ cộng sản nhiệt huyết, kiên cường,
một nhà lãnh đạo tài tình của cách mạng Việt Nam. Với những cống hiến không mệt
mỏi của mình cho cách mạng miền Nam Việt Nam, đồng chí Huỳnh Tấn Phát đã chứng
minh cho chúng ta thấy “ Cả cuộc đời của anh toát lên uy tín của một con người.
Cách mạng chọn anh chớ không ai khác là có cân nhắc vì vai trò cá nhân của anh,
tư cách của anh, con người của anh có cái động viên, có cái hòa hợp rất thích
hợp với giai đoạn cách mạng này. Con người như thế ở vị trí đó rất tốt”.
(Bài viết
đăng trên Tạp chí Nguồn nhân lực khoa học Xã
hội, số 10(41), 2016)
Chú thích:
Huỳnh Tấn Phát (1969),
Tuyên bố về Chương trình hành động của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa
miền Nam Việt Nam, Nxb. Giải phóng; tr. 11
Huỳnh Tấn Phát (1969),
Tuyên bố về Chương trình hành động của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa
miền Nam Việt Nam, Nxb. Giải phóng; tr.13
Ban biên tập Tạp chí
Nghiên cứu lịch sử (1969), “Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt
Nam thành lập trong điều kiện lịch sử nào”, Tạp chí Nghiên cứu lịch
sử, số 123, tr.3
Trịnh Nhu - Cb (2002),
Lịch sử biên niên xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954 – 1975), Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội; tr. 717
Đảng Cộng sản Việt Nam
(2004), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 32 (1971), Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội; tr.118
Nguyễn Thị Bình và tập
thể tác giả (2001), Mặt trận dân tộc giải phóng, Chính phủ Cách mạng lâm
thời tại Hội nghị Paris về Việt Nam (Hồi ức), Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội; tr. 63
Lưu Văn Lợi, Nguyễn Anh
Vũ (2002), Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kisinger tại Paris, Nxb
Công an nhân dân, Hà Nội; tr. 145