image banner

NGHỊ QUYẾT SỐ 57-NQ/TW VÀ YÊU CẦU ĐỔI MỚI ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC TRONG KỶ NGUYÊN MỚI
Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, ngày 22/12/2024, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết xác định đây “là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại". Bài viết phân tích những đổi mới về tư duy phát triển, đồng thời làm rõ yêu cầu đổi mới hoạt động nghiên cứu khoa học xã hội trong môi trường số.

 

Mở đầu

Trong lịch sử phát triển của mỗi quốc gia, có những thời điểm mà sự thay đổi của công nghệ vượt ra ngoài phạm vi của bản thân công nghệ, làm biến đổi phương thức sản xuất, cách thức tổ chức xã hội, phương thức quản trị, cách con người tạo lập và sử dụng tri thức. Sự phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, Internet vạn vật và các nền tảng số trong những năm gần đây cho thấy thế giới đang ở một thời điểm như vậy. Chuyển đổi số vì thế không còn là lựa chọn riêng của một ngành hay một nhóm tổ chức, mà ngày càng trở thành một thành tố của năng lực phát triển.

Đối với Việt Nam, yêu cầu này càng rõ hơn sau 40 năm đổi mới, khi đất nước đứng trước bài toán tạo lập những động lực tăng trưởng mới. Những lợi thế từng đóng góp quan trọng cho phát triển như lao động dồi dào, mở rộng đầu tư, khai thác tài nguyên, gia công - lắp ráp và hội nhập vào chuỗi sản xuất toàn cầu vẫn còn giá trị, nhưng khó có thể tiếp tục là nền tảng chủ yếu để đạt mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Nền kinh tế phải dựa nhiều hơn vào năng suất, tri thức, chất lượng nguồn nhân lực, năng lực khoa học - công nghệ và khả năng đổi mới sáng tạo.

Ngày 22/12/2024, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết xác định đây “là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại” [1]. Văn kiện Đại hội XIV tiếp tục phát triển mạch tư duy này khi đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí động lực chính của mô hình tăng trưởng mới [2]. Vì vậy, Nghị quyết 57 cần được nhìn nhận không chỉ như một nghị quyết chuyên ngành về công nghệ, mà như một quyết sách gắn với đổi mới động lực và phương thức phát triển đất nước.

Bài viết tập trung làm rõ bối cảnh và những nội dung cơ bản của Nghị quyết số 57-NQ/TW; phân tích sự đổi mới trong tư duy về động lực, phương thức phát triển; từ đó trao đổi một số yêu cầu đặt ra đối với hoạt động nghiên cứu khoa học xã hội trong điều kiện chuyển đổi số.

1. Bối cảnh ra đời và những nội dung cơ bản của Nghị quyết số 57-NQ/TW

Sự ra đời của Nghị quyết 57 bắt nguồn từ những biến đổi nhanh của đất nước. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư không phải là sự thay thế đơn lẻ của một loại máy móc hay một dây chuyền sản xuất. Điểm nổi bật của giai đoạn hiện nay là khả năng kết nối dữ liệu, tự động hóa quá trình xử lý thông tin và tạo ra những phương thức hoạt động mới trên quy mô lớn. Báo cáo tổng quan của Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia cho thấy chuyển đổi số được hình thành trên sự phát triển đồng thời của mạng viễn thông, công nghệ máy tính, phần mềm, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây và nhiều công nghệ liên quan; tác động của nó lan tỏa từ sản xuất, dịch vụ đến giáo dục, y tế và các quan hệ xã hội [3].

Từ góc độ trong nước, Nghị quyết 57 nhìn nhận khá thẳng thắn những hạn chế đang cản trở bước phát triển mới: tốc độ bứt phá về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo còn chậm; năng lực làm chủ công nghệ chiến lược và công nghệ cốt lõi còn hạn chế; thể chế, nguồn nhân lực, hạ tầng số và an toàn dữ liệu chưa theo kịp yêu cầu [4]. Điều đáng chú ý là các vấn đề này không được xem như những “điểm nghẽn” riêng lẻ. Nghị quyết đặt chúng trong một chỉnh thể, từ đó đòi hỏi cách giải quyết đồng bộ.

Điểm mới trước hết là khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được đặt trong cùng một hệ động lực. Trong nhiều năm, khoa học - công nghệ thường được nhìn chủ yếu như một lĩnh vực cần đầu tư, còn chuyển đổi số dễ bị thu hẹp thành hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin. Nghị quyết 57 thay đổi cách tiếp cận ấy khi gắn trực tiếp bốn yếu tố này với phát triển lực lượng sản xuất, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới quản trị quốc gia và nâng cao sức cạnh tranh. Công nghệ, theo cách nhìn đó, không đứng bên ngoài phát triển mà trở thành một bộ phận của chính phương thức phát triển.

Một điểm quan trọng khác là Nghị quyết xác định thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược là những nội dung trọng tâm, cốt lõi; trong đó thể chế phải đi trước một bước [5]. Cách đặt thể chế ở vị trí đầu tiên cho thấy đột phá công nghệ không thể hình thành chỉ bằng tăng chi tiêu hay mua sắm thiết bị. Cùng một công nghệ, hiệu quả sử dụng có thể rất khác nhau nếu cơ chế tài chính, quy trình quản lý, cách tổ chức nhân lực và trách nhiệm của người đứng đầu không thay đổi. Nghị quyết vì vậy yêu cầu đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, loại bỏ tư duy “không quản được thì cấm” và cho phép cách tiếp cận mở đối với những vấn đề mới.

Dữ liệu cũng được nhìn nhận theo một cách mới. Nghị quyết yêu cầu làm giàu và khai thác tối đa tiềm năng dữ liệu, phát triển cơ sở dữ liệu lớn, công nghiệp dữ liệu và kinh tế dữ liệu [6]. Trong môi trường số, giá trị của dữ liệu không nằm ở việc “có bao nhiêu dữ liệu”, mà ở khả năng chuẩn hóa, kết nối, chia sẻ, phân tích và tái sử dụng dữ liệu để phục vụ nghiên cứu, quản trị và ra quyết định.

Chính ở đây cần phân biệt số hóa với chuyển đổi số. Tài liệu chuyên đề “Chuyển đổi số: Cơ sở lý luận và thực tiễn ở Việt Nam” chỉ ra ba cấp độ: số hóa dữ liệu; ứng dụng công nghệ số để tối ưu hoạt động; và chuyển đổi số theo nghĩa thay đổi quy trình, cách thức hoạt động, sản phẩm hoặc mô hình tổ chức [7]. Một cơ quan chuyển tài liệu giấy thành tệp điện tử, sử dụng chữ ký số hay hệ thống quản lý văn bản đã tiến một bước quan trọng, nhưng nếu toàn bộ quy trình cũ được giữ nguyên thì chưa thể coi đó là chuyển đổi số theo nghĩa đầy đủ. Nghiên cứu của Chử Bá Quyết vì vậy nhấn mạnh: “Chuyển đổi số là cho con người, vì con người và do con người thực hiện, không phải là công nghệ quyết định” [8].

Hệ mục tiêu đến năm 2030 cho thấy quy mô chuyển đổi mà Nghị quyết kỳ vọng: kinh tế số đạt tối thiểu 30% GDP; kinh phí cho nghiên cứu và phát triển đạt 2% GDP; bố trí ít nhất 3% tổng chi ngân sách hằng năm cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt 12 người trên một vạn dân; Việt Nam thuộc nhóm 50 nước đứng đầu thế giới về năng lực cạnh tranh số và chỉ số phát triển Chính phủ điện tử [9]. Tầm nhìn đến năm 2045 đặt mục tiêu kinh tế số đạt tối thiểu 50% GDP và Việt Nam thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số [10].

Nhìn tổng thể, Nghị quyết 57 không lựa chọn một vài giải pháp công nghệ riêng lẻ. Nó hướng tới một sự chuyển đổi có tính hệ thống: từ thể chế đến con người, từ hạ tầng đến dữ liệu, từ nghiên cứu đến ứng dụng, từ hoạt động của khu vực công đến doanh nghiệp và xã hội. Chính tính hệ thống ấy làm nên chiều sâu của Nghị quyết, đồng thời cũng khiến quá trình thực hiện không thể chỉ dựa vào các giải pháp kỹ thuật.

2. Nghị quyết số 57-NQ/TW và sự đổi mới tư duy về động lực, phương thức phát triển đất nước

Điểm có ý nghĩa sâu hơn của Nghị quyết 57 nằm ở sự thay đổi cách nhìn về nguồn lực phát triển. Trong giai đoạn đầu của đổi mới, việc giải phóng sức sản xuất, mở rộng đầu tư, phát triển xuất khẩu, thu hút FDI và hội nhập quốc tế đã tạo ra một không gian tăng trưởng rất lớn. Những động lực đó vẫn quan trọng, nhưng mô hình phát triển dựa nhiều vào gia tăng vốn, lợi thế lao động và tham gia những khâu có giá trị gia tăng chưa cao khó bảo đảm mục tiêu dài hạn. Để vượt qua ngưỡng thu nhập trung bình, năng suất và năng lực sáng tạo nội sinh phải trở thành nguồn lực ngày càng quan trọng.

Các báo cáo của Ngân hàng Thế giới về con đường hướng tới mục tiêu thu nhập cao của Việt Nam đều nhấn mạnh vai trò của cải cách cơ cấu, chất lượng thể chế, đầu tư hiệu quả, kỹ năng và đổi mới sáng tạo [11]. Kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy một quốc gia khó duy trì tăng trưởng cao trong thời gian dài nếu năng suất không tăng và nếu khu vực trong nước không hình thành được khả năng hấp thụ, làm chủ và sáng tạo công nghệ. Nghị quyết 57 phản ánh trực tiếp yêu cầu đó khi đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí động lực chính. Đại hội XIV tiếp tục khẳng định mô hình tăng trưởng mới phải gắn với kinh tế dữ liệu, kinh tế số và phát triển lực lượng sản xuất mới [12].

Đổi mới động lực phát triển tất yếu kéo theo đổi mới thể chế. Nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo khác với nhiều hoạt động hành chính thông thường ở chỗ kết quả không phải lúc nào cũng có thể dự báo chính xác từ đầu; quá trình thử nghiệm có thể thất bại và giá trị của một công trình nhiều khi chỉ được nhìn thấy sau một khoảng thời gian. Nếu quản lý nghiên cứu quá thiên về thủ tục, người thực hiện dễ có xu hướng ưu tiên “an toàn hồ sơ” hơn là chấp nhận rủi ro khoa học. Không gian sáng tạo vì thế bị thu hẹp.

Yêu cầu của Nghị quyết về cách tiếp cận mở, cho phép thí điểm, chấp nhận rủi ro và độ trễ trong nghiên cứu có ý nghĩa lớn hơn một điều chỉnh kỹ thuật [13]. Nó đặt ra sự thay đổi trong quan niệm quản lý: Nhà nước vẫn phải kiểm soát việc sử dụng nguồn lực công, nhưng phương thức kiểm soát cần phù hợp với bản chất của hoạt động sáng tạo. Quản lý chặt không đồng nghĩa với quản lý cứng; trách nhiệm giải trình không nhất thiết phải được thể hiện bằng việc gia tăng tầng nấc thủ tục.

Nghị quyết đồng thời yêu cầu phát triển các viện nghiên cứu, trường đại học thành các chủ thể nghiên cứu mạnh; kết hợp nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo; trao quyền tự chủ nhiều hơn cho tổ chức khoa học và khuyến khích liên kết với doanh nghiệp [14]. Nếu thực hiện đầy đủ, mô hình “cấp kinh phí - thực hiện đề tài - nghiệm thu - kết thúc” sẽ phải dần nhường chỗ cho một chu trình rộng hơn, trong đó kết quả nghiên cứu được chia sẻ, tiếp tục phát triển, chuyển giao hoặc tích hợp vào chính sách và các sản phẩm tri thức phù hợp với đặc thù từng ngành.

Chuyển đổi số còn đặt ra yêu cầu thay đổi phương thức quản trị. Nghị quyết 57 yêu cầu đưa hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị lên môi trường số, phát triển nền tảng dùng chung và nâng cao chất lượng dịch vụ dựa trên dữ liệu [15]. Điều cốt lõi không phải là có thêm bao nhiêu phần mềm, mà là quy trình được thiết kế lại đến mức nào. Một thủ tục có năm bước, nếu đưa nguyên cả năm bước lên môi trường điện tử thì cơ bản mới là số hóa quy trình cũ. Chuyển đổi số phải đặt câu hỏi: bước nào có thể bỏ; dữ liệu nào đã có và không cần yêu cầu khai lại; khâu nào có thể tự động hóa; quyết định nào có thể được hỗ trợ bằng dữ liệu cập nhật thay vì hồ sơ giấy. Nghiên cứu về chuyển đổi số trong cơ quan nhà nước cũng cho rằng chuyển đổi số liên quan đến thay đổi từ tư duy, thể chế, quy trình quản lý đến văn hóa tổ chức và năng lực đội ngũ [16].

Các số liệu của Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu 2025 cho thấy Việt Nam có nền tảng đổi mới sáng tạo đáng kể nhưng vẫn còn khoảng cách. Theo WIPO, Việt Nam xếp thứ 44 trong 139 nền kinh tế, thứ hai trong nhóm các nền kinh tế thu nhập trung bình thấp; xếp thứ 37 về đầu ra đổi mới sáng tạo nhưng thứ 50 về đầu vào [17]. Điều này cho thấy Việt Nam có khả năng chuyển hóa nguồn lực thành kết quả tương đối tốt, nhưng dư địa cải thiện thể chế, nhân lực nghiên cứu và các điều kiện nền tảng vẫn còn lớn.

Sau một năm rưỡi triển khai, Nghị quyết 57 đã tạo ra khối lượng công việc rất lớn. Tính đến ngày 29/6/2026, Ban Chỉ đạo đã giao 1.937 nhiệm vụ; các cơ quan đã hoàn thành 84,8% số nhiệm vụ có thời hạn và xây dựng hoặc ban hành hơn 400 văn bản liên quan. VNeID có hơn 71 triệu tài khoản kích hoạt; mạng bảo mật liên thông và nền tảng số dùng chung cơ bản hoàn thành 98% với 7.137 điểm kết nối [18]. Tuy nhiên, báo cáo sơ kết cũng thẳng thắn chỉ ra rằng tỷ lệ hoàn thành nhiệm vụ cao nhưng một số công việc chưa đi vào thực chất, còn dừng ở văn bản, kế hoạch hoặc sản phẩm trung gian; nhiều quy trình dịch vụ công chưa được tái cấu trúc đầy đủ, ứng dụng AI còn phân tán [19].

Việc nhận diện khoảng cách giữa “hoàn thành nhiệm vụ” và “tạo ra kết quả” là một chuyển biến quan trọng. Định hướng triển khai sau sơ kết yêu cầu xác định rõ mục tiêu, sản phẩm, thời hạn và trách nhiệm; lấy kết quả cuối cùng, giá trị tạo ra cho người dân, doanh nghiệp và đất nước làm thước đo chủ yếu [20]. Nếu coi Nghị quyết 57 chỉ là một chương trình mua sắm công nghệ, xây dựng cơ sở dữ liệu hay phát triển nền tảng số thì sẽ chưa thấy hết chiều sâu của Nghị quyết. Đột phá được đặt ra rộng hơn: thay đổi cách đất nước tạo ra, tổ chức, sử dụng và chuyển hóa tri thức thành năng suất, sức cạnh tranh và năng lực quản trị.

3. Những yêu cầu đặt ra trong triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW đối với hoạt động nghiên cứu khoa học xã hội

Trong thảo luận về Nghị quyết 57, trọng tâm thường được đặt vào trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, hạ tầng số hay kinh tế số. Đây là những nội dung quan trọng, nhưng khoa học xã hội và nhân văn không đứng ngoài tiến trình chuyển đổi. Công nghệ số đồng thời tạo ra những đối tượng nghiên cứu mới, nguồn dữ liệu mới, công cụ nghiên cứu mới và phương thức mới để phổ biến tri thức. Những thay đổi ấy tác động trực tiếp đến cách nhà khoa học xã hội đặt câu hỏi, thu thập tư liệu, xử lý dữ liệu và đưa kết quả nghiên cứu vào đời sống.

Nghị quyết 57 yêu cầu phát triển viện nghiên cứu, trường đại học thành các chủ thể nghiên cứu mạnh và nêu cụ thể việc đầu tư, nâng cấp Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cùng các cơ sở nghiên cứu trọng điểm quốc gia [21]. Điều này đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực nghiên cứu không chỉ theo nghĩa tăng số lượng công trình, mà cả năng lực tổ chức dữ liệu, phương pháp nghiên cứu, hợp tác và khả năng chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành giá trị xã hội.

Trước hết là yêu cầu đổi mới cách tổ chức và khai thác dữ liệu nghiên cứu. Khoa học xã hội làm việc với một khối lượng nguồn tin đa dạng: tài liệu lưu trữ, báo chí, văn bản pháp luật, dữ liệu điều tra, bản đồ, hình ảnh, ghi âm, tư liệu điền dã, thư tịch và dữ liệu sinh ra trên môi trường số. Trong lĩnh vực sử học, khối lượng và tính phân tán của nguồn tư liệu càng rõ. Số hóa những tài liệu này là cần thiết nhưng mới là bước đầu. Một kho tài liệu hàng triệu trang dưới dạng ảnh hoặc PDF vẫn có giá trị khai thác hạn chế nếu không được mô tả, chuẩn hóa, lập chỉ mục, tìm kiếm và liên kết.

Một nghiên cứu về chuyển đổi số thông tin khoa học cho thấy dữ liệu lớn, nền tảng số và trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ truy vấn, phân tích và tổng hợp thông tin nhanh hơn, đồng thời tạo điều kiện hình thành những hệ thống thông tin có khả năng kết nối, chia sẻ và dùng chung [22]. Với khoa học xã hội, ý nghĩa không chỉ là tiết kiệm thời gian. Khi dữ liệu được tổ chức tốt, nhà nghiên cứu có thể đặt những câu hỏi mà phương thức khai thác thủ công trước đây rất khó thực hiện, như theo dõi sự biến đổi của một khái niệm qua hàng nghìn văn bản hoặc đối sánh các dòng dữ liệu theo thời gian và không gian.

Tiếp theo là yêu cầu đổi mới phương pháp nhưng không hạ thấp chuẩn mực khoa học. Trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ nhận dạng văn bản, dịch thuật, phân loại, tóm tắt, tìm kiếm và đối sánh tư liệu. Đối với lĩnh vực sử học, những công cụ này đặc biệt hữu ích khi xử lý nguồn tư liệu lớn hoặc có cấu trúc phức tạp. Tuy nhiên, AI không thay thế được phê phán sử liệu, việc xác minh nguồn gốc tài liệu, đối chiếu các nguồn độc lập và đặt chứng cứ trong bối cảnh lịch sử cụ thể. Công nghệ có thể giúp đọc nhanh hơn một triệu trang tư liệu, nhưng không tự mình quyết định được nguồn nào đáng tin và một chứng cứ lịch sử có ý nghĩa như thế nào trong hoàn cảnh của nó.

Năng lực số của nhà khoa học vì vậy phải được hiểu rộng hơn kỹ năng sử dụng phần mềm. Nó bao gồm khả năng đánh giá chất lượng dữ liệu, hiểu giới hạn của công cụ, bảo vệ dữ liệu, tuân thủ chuẩn mực đạo đức nghiên cứu, kiểm chứng kết quả do thuật toán tạo ra và chịu trách nhiệm học thuật đối với sản phẩm cuối cùng. Khi công cụ AI ngày càng dễ sử dụng, năng lực phê phán càng trở nên quan trọng: một văn bản trôi chảy không đồng nghĩa với thông tin chính xác hoặc nguồn dẫn đáng tin cậy.

Một yêu cầu khác là đổi mới cách đưa kết quả nghiên cứu đến với xã hội. Trong môi trường số, một công trình khoa học không nhất thiết kết thúc ở cuốn sách hoặc bài báo. Tùy điều kiện, kết quả nghiên cứu có thể được tiếp tục tổ chức thành cơ sở dữ liệu, bản đồ số, dòng thời gian tương tác, thư viện số, triển lãm trực tuyến hoặc chuyên đề phổ biến kiến thức. Với sử học, những hình thức này giúp mở rộng khả năng tiếp cận của công chúng đối với tri thức lịch sử và bổ sung những nguồn thông tin có căn cứ khoa học trên môi trường mạng.

Khía cạnh này còn gắn với yêu cầu chủ động cung cấp thông tin khoa học chính xác, góp phần thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và đấu tranh với thông tin sai lệch, xuyên tạc. Nghiên cứu được dẫn trong tài liệu chuyên đề năm 2025 cho thấy chuyển đổi số thông tin khoa học có thể hỗ trợ tổ chức, phân tích và cung cấp thông tin phục vụ nhiệm vụ này [23]. Đóng góp đặc thù của sử học nằm ở việc cung cấp tư liệu được kiểm chứng, giải thích sự kiện trên nền tảng phương pháp khoa học và phản bác những cách diễn giải xuyên tạc bằng chứng cứ lịch sử. Trong không gian số, tốc độ lan truyền thông tin rất nhanh; do đó, khả năng đưa tri thức lịch sử chính xác, dễ tiếp cận và có sức thuyết phục đến công chúng cũng trở thành một phần của năng lực nghiên cứu.

Đối với một cơ quan nghiên cứu chuyên ngành như Viện Sử học, thực hiện Nghị quyết 57 không nhất thiết phải bắt đầu bằng những dự án công nghệ quy mô lớn. Điểm xuất phát có thể là những công việc cụ thể nhưng tạo nền tảng lâu dài: từng bước chuẩn hóa và số hóa tư liệu; xây dựng quy tắc quản trị dữ liệu nghiên cứu; tổ chức lại hệ thống lưu trữ, tìm kiếm và chia sẻ thông tin; nâng cao năng lực số cho nghiên cứu viên; sử dụng có trách nhiệm các công cụ AI; cải tiến quy trình quản lý; đồng thời phát huy website như một không gian phổ biến và kết nối tri thức lịch sử. Điều quan trọng là chuyển từ tư duy “số hóa cái đang có” sang tư duy “tổ chức lại hoạt động nghiên cứu trong môi trường số”. Nghị quyết 57 vì thế đặt ra đối với khoa học xã hội một yêu cầu kép: các ngành khoa học phải tự đổi mới phương thức nghiên cứu và quản trị để thích ứng với môi trường số; đồng thời cần tham gia giải thích và định hướng những biến đổi xã hội do công nghệ tạo ra. Công nghệ thay đổi rất nhanh, nhưng cách xã hội tiếp nhận, điều chỉnh và sử dụng công nghệ vẫn luôn là một vấn đề của con người. Đây chính là không gian mà khoa học xã hội có thể và cần phải đóng góp.

Kết luận

Nghị quyết số 57-NQ/TW ra đời ở một thời điểm có ý nghĩa đối với quá trình phát triển của đất nước. Sau bốn mươi năm đổi mới, Việt Nam đã tạo dựng được những nền tảng quan trọng, nhưng yêu cầu bước sang một trình độ phát triển cao hơn đòi hỏi phải hình thành những động lực mới. Việc đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí đột phá hàng đầu phản ánh nhận thức ngày càng rõ rằng năng lực tạo ra và sử dụng tri thức sẽ quyết định ngày càng lớn đến năng suất, sức cạnh tranh và khả năng tự chủ quốc gia.

Giá trị của Nghị quyết 57 không chỉ nằm trong các mục tiêu về kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, hạ tầng hay cơ sở dữ liệu. Quan trọng hơn là yêu cầu đổi mới đồng bộ từ thể chế, nguồn nhân lực, tổ chức khoa học đến phương thức quản trị và trách nhiệm thực thi. “Đột phá” vì vậy cần được hiểu trước hết là đột phá trong tư duy và cách tổ chức phát triển; công nghệ là công cụ mạnh, nhưng hiệu quả cuối cùng phụ thuộc vào con người và thể chế sử dụng công cụ đó.

Đối với các tổ chức nghiên cứu khoa học xã hội, Nghị quyết mở ra đồng thời cơ hội và sức ép đổi mới. Chuyển đổi số có thể mở rộng khả năng tiếp cận dữ liệu, thay đổi phương pháp nghiên cứu và tạo ra những cách thức mới để đưa tri thức đến xã hội, nhưng những khả năng ấy chỉ trở thành giá trị khi đi cùng chuẩn mực khoa học, trách nhiệm học thuật và một tư duy tổ chức nghiên cứu phù hợp.

Công nghệ có thể thay đổi theo từng năm, thậm chí từng tháng. Năng lực phát triển của một quốc gia lại được hình thành trong một quá trình dài hơn: từ chất lượng thể chế, năng lực con người, hệ thống nghiên cứu, văn hóa sáng tạo và khả năng biến tri thức thành kết quả cụ thể. Đó cũng là thách thức lớn nhất và là ý nghĩa sâu xa của Nghị quyết số 57-NQ/TW trong kỷ nguyên phát triển mới.


CHÚ THÍCH

[1] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, mục I.1.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, phần về mô hình tăng trưởng mới.

[3] Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia, Tổng quan về chuyển đổi số trong các hoạt động kinh tế - xã hội, Chuyên đề số 12/2021, tr. 1-2.

[4] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 57-NQ/TW, phần mở đầu.

[5] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 57-NQ/TW, mục I.3.

[6] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 57-NQ/TW, mục I.3 và III.3.

[7] Trung tâm Thông tin khoa học - Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Chuyển đổi số: Cơ sở lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, Thông tin chuyên đề số 2/2025, tr. 131-132.

[8] Chử Bá Quyết, “Nghiên cứu khám phá các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển đổi số thành công của doanh nghiệp ở Việt Nam”, Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng, số 233, tháng 10/2021, tr. 60.

[9] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 57-NQ/TW, mục II.1.

[10] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 57-NQ/TW, mục II.2.

[11] World Bank, Viet Nam 2045—Breaking Through: Institutions for a High-Income Future, 2025; World Bank, Việt Nam 2045: Nâng cao vị thế thương mại trong một thế giới thay đổi, 2024.

[12] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026.

[13] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 57-NQ/TW, mục III.2.

[14] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 57-NQ/TW, mục III.2.

[15] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 57-NQ/TW, mục III.5.

[16] Nguyễn Thị Hà, “Những yêu cầu đặt ra với cơ quan nhà nước trong bối cảnh chuyển đổi số”, in trong Thông tin chuyên đề số 2/2025, tr. 82-91.

[17] World Intellectual Property Organization (WIPO), Global Innovation Index 2025 - Viet Nam Economy Profile, 2025.

[18] Báo Điện tử Chính phủ, “Nghị quyết 57: Mở ra một giai đoạn phát triển mới của đất nước; vượt ra ngoài phạm vi khoa học và công nghệ”, ngày 01/7/2026, số liệu tính đến ngày 29/6/2026.

[19] Báo Điện tử Chính phủ, bài đã dẫn.

[20] Báo Điện tử Chính phủ, “Nghị quyết 57: Mở ra một giai đoạn phát triển mới của đất nước; vượt ra ngoài phạm vi khoa học và công nghệ”, ngày 01/7/2026, phần các định hướng triển khai sau sơ kết.

[21] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 57-NQ/TW, mục III.2.

[22] Nguyễn Mạnh Hải, “Chuyển đổi số thông tin khoa học lý luận chính trị góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch”, in trong Thông tin chuyên đề số 2/2025, tr. 100-107.

[23] Nguyễn Mạnh Hải, bài đã dẫn.

Hoàng Thị Thanh Nga
Tin nổi bật
  • Bộ sách gồm 10 tập, Viện Sử học dịch, Nxb KHXH xuất bản.
    23/04/2013
  • Đại Nam nhất thống chí đời Tự Đức là bộ sách địa lý học Việt Nam đầy đủ nhất dưới thời phong kiến. Đại Nam nhất thống chí theo bộ Đại Thanh nhất thống chí của Trung Quốc mà chia ra các mục như: phương vi, phân dã, kiến trí, duyên cách, phủ huyện, hình thế, khí hậu, phong tục, thành trì, học hiệu, hộ khẩu, điền phú, sơn xuyên, quan tấn, dịch trạm, thị lập, tứ miếu, tự quán, phân việt, thổ sản, v.v... Ngoài ra, Đại Nam nhất thống chí còn có quyển chép riêng về Cao Miên (Campuchia), Xiêm La, Miến Điện, Nam Chưởng, Vạn Tượng.
    22/04/2013
  • Trong tập sách này, các tác giả không chỉ trình bày các sự kiện về quân sự, chính trị mà còn nêu lên nhiều sự kiện khác thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại....
    27/09/2012
  • "Việt Nam những sự kiện lịch sử (Từ khởi thủy đến 1858)" là cuốn sách ghi lại các sự kiện lịch sử nước nhà từ khởi thủy đến khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược vào giữa thế kỷ XIX.
    27/09/2012
  • Đại Nam liệt truyện là một bộ sách có quy mô khá đồ sộ trong kho tàng thư tịch cổ viết bằng chữ Hán của Việt Nam, do cơ quan làm sử chính thức của nhà Nguyễn là Quốc sử quán biên soạn vào giữa thế kỷ XIX.
    24/09/2012
  • Lịch triều hiến chương loại chí là bộ bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam. Có nghĩa là Phép tắc các triều đại chép theo thể phân loại do Phan Huy Chú soạn trong 10 năm (1809-1819).
    23/09/2012
  • Là bộ sử có giá trị to lớn và quan trọng bậc nhất trong nền sử học Việt Nam thời kỳ cổ trung đại. Bộ chính sử do Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê biên soạn.
    22/09/2012
  • Cuốn sách Cổ luật Việt Nam gốm 2 bộ Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ. Quốc triều hình luật (còn gọi là bộ luật Hồng Đức) và Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là bộ luật Gia Long) là hai bộ cổ luật duy nhất còn lại cho đến nay của các triều đại phong kiến Việt Nam; là những di sản quý giá có giá trị tham khảo về nhiều mặt cho chúng ta ngày nay.
    19/09/2012
  • Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ là một bộ sách được biên soạn dưới triều Nguyễn theo thể loại Hội điển. Thể loại này được đặt ra nhằm ghi chép lại các điển pháp, quy chuẩn và các dữ kiện liên quan đến tổ chức và hoạt động của một triều đại, một Nhà nước.
    19/09/2012
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1