image banner

LÊ QUÝ ĐÔN (1726-1784) - NGÔI SAO SÁNG TRÊN BẦU TRỜI VĂN HIẾN VIỆT NAM
Ba trăm năm (1726-2026) sau ngày Lê Quý Đôn cất tiếng khóc chào đời, tên tuổi của ông vẫn tỏa sáng như biểu tượng của trí tuệ Việt Nam. Không chỉ là một nhà sử học, nhà văn hóa hay nhà bách khoa thư lớn của thế kỷ XVIII, Lê Quý Đôn còn là hiện thân của tinh thần hiếu học, tư duy sáng tạo, lòng yêu nước và ý thức phụng sự dân tộc. Kỷ niệm 300 năm ngày sinh của ông là dịp nhìn lại những giá trị trường tồn của một di sản học thuật đã góp phần làm rạng danh nền văn hiến Việt Nam.

 

Ngày 2-8- 2026, đánh dấu tròn 300 năm ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn (1726-1784) - một trong những ngôi sao trí tuệ nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Ba thế kỷ đã trôi qua, nhưng tên tuổi và sự nghiệp của ông vẫn tỏa sáng như một biểu tượng của tinh thần hiếu học, ý chí tự cường và khát vọng phụng sự đất nước. Trong kho tàng văn hiến Việt Nam, hiếm có học giả nào hội tụ được tầm vóc lớn lao như Lê Quý Đôn: nhà chính trị, nhà sử học, nhà văn hóa, nhà triết học, nhà địa lý, nhà thư mục học, nhà thơ và nhà bách khoa thư của thời đại. Ông xứng đáng là một “ngôi sao sáng trên bầu trời văn hiến Việt Nam”, như sự ghi nhận của nhiều thế hệ học giả và đương thời.

Ngôi sao thần đồng của Việt Nam

Sinh ngày 2-8-1726 tại làng Diên Hà, huyện Diên Hà (nay thuộc xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên), Lê Quý Đôn lớn lên trong một gia đình có truyền thống khoa bảng. Thân phụ là Tiến sĩ Lê Trọng Thứ[1], một vị quan nổi tiếng thanh liêm, cương trực. Ngay từ thuở nhỏ, Lê Quý Đôn đã nổi tiếng thông minh khác thường. Sử sách chép Lê Quý Đôn nổi tiếng thần đồng, như Phan Huy Chú viết về ông trong sách Lịch triều hiến chương loại chí: “Năm lên 2 tuổi đã biết hai chữ “chi, vô”, thử hàng trăm lần cũng không sai. Năm lên năm tuổi ông học Kinh Thi, đọc được 10 dòng một lúc, chữ nào ngờ không bao giờ phải hỏi một lần nữa. Năm 12 tuổi ông học khắp kinh, truyện, các sử, các sách của bách gia, chư tử, không sách nào là không thông suốt. Văn ông rộng rãi, tao nhã, sâu sắc, cầm bút là xong ngay”[2]. Lời đánh giá của sử gia Phan Huy Chú đã khái quát thiên tư xuất chúng, sức học uyên bác và khả năng sáng tạo hiếm có của một bậc đại học giả, người sau này trở thành niềm tự hào của Việt Nam.

Năm Cảnh Hương thứ 13 (1752), ông đi thi Hội, đỗ đầu, vào thi Đình cũng đỗ đầu (Tam nguyên), trúng Bảng nhãn, nổi tiếng của nền khoa cử Việt Nam. Từ đây, ông bước vào con đường làm quan, lần lượt đảm nhiệm nhiều trọng trách trong triều Lê - Trịnh, từ Hàn lâm viện, Quốc Sử quán đến các chức vụ quan trọng ở trung ương và địa phương. Dù ở cương vị nào, ông cũng thể hiện tư tưởng lấy dân làm gốc, đề cao kỷ cương phép nước, chống tham nhũng, khuyến khích khai hoang, phát triển sản xuất và chăm lo đời sống nhân dân. Những kiến nghị cải cách của ông nhiều khi vượt trước thời đại, phản ánh tầm nhìn của một nhà chính trị luôn trăn trở trước vận mệnh quốc gia.

Tuy nhiên, điều làm nên vị thế đặc biệt của Lê Quý Đôn trong lịch sử không chỉ nằm ở sự nghiệp làm quan mà trước hết ở sự nghiệp học thuật “trước tác rất đồ sộ gồm nhiều công trình nghiên cứu, biên soạn thuộc nhiều bộ môn khoa học khác nhau, trong số đó không ít tác phẩm đã trở thành tinh hoa của nền học thuật thời cổ của đất nước”[3].

Trong lịch sử Việt Nam thời phong kiến, ít có học giả nào để lại một khối lượng trước tác phong phú như ông. Theo các nguồn tư liệu lịch sử, Lê Quý Đôn đã biên soạn hơn 50 công trình thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như lịch sử, địa lý, văn học, triết học, nông học, thư mục học, thiên văn, luật pháp, kinh tế và quân sự. Các tác phẩm tiêu biểu như: Vân đài loại ngữ, Kiến văn tiểu lục, Đại Việt thông sử, Phủ biên tạp lục, Bắc sứ thông lục, Quần thư khảo biện, Toàn Việt thi lục... đến nay vẫn là những nguồn tư liệu quý giá đối với nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn. Đúng như Giáo sư Sử học Văn Tân (Viện Sử học) từng nhận xét: “Lê Quý Đôn nắm được tất cả các tri thức mà con người Việt Nam thế kỷ XVIII có thể có được[4], và ví ông như “là cái thư viện sống của nước Việt Nam hồi thế kỷ XVIII[5]. Nhận định ấy không hề cường điệu. Điều đáng khâm phục là tri thức của Lê Quý Đôn không dừng lại ở việc sưu tầm hay sao chép, mà luôn gắn với tư duy hệ thống, tinh thần khảo cứu độc lập và khả năng tổng hợp, phân tích sâu sắc. Chính vì vậy, nhiều nhà nghiên cứu coi ông là nhà bách khoa thư đầu tiên của Việt Nam.

Trí tuệ lớn gắn với lòng tự tôn dân tộc, tư duy khoa học vượt trước thời đại

Ở lĩnh vực sử học, Lê Quý Đôn đã để lại dấu ấn đặc biệt. Các công trình của ông không chỉ bảo tồn một khối lượng tư liệu phong phú mà còn thể hiện phương pháp nghiên cứu nghiêm túc, coi trọng khảo chứng, đối chiếu và thực địa. Đặc biệt, Phủ biên tạp lục không chỉ phản ánh toàn diện vùng Thuận Hóa - Quảng Nam cuối thế kỷ XVIII mà còn ghi chép rõ hoạt động quản lý của nhà nước Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa. Những ghi chép ấy ngày nay tiếp tục là nguồn sử liệu có giá trị trong việc khẳng định chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Không chỉ là nhà sử học, Lê Quý Đôn còn là người có tư tưởng văn hóa tiến bộ. Trong các trước tác của mình, ông luôn đề cao truyền thống văn hiến dân tộc, khẳng định giá trị của nền văn hóa Việt Nam trên tinh thần bình đẳng với các nền văn minh khác. Ông nhiều lần phản bác những quan điểm sai lệch về lịch sử và văn hóa Việt Nam, đồng thời sử dụng chính các tư liệu của Trung Hoa để chứng minh truyền thống lâu đời, bản sắc độc lập của dân tộc. Đó là biểu hiện sinh động của lòng tự hào dân tộc, của bản lĩnh văn hóa và ý thức tự cường trong bối cảnh đất nước chịu nhiều ảnh hưởng từ văn hóa phương Bắc.

Một giá trị nổi bật khác trong tư tưởng của Lê Quý Đôn là quan niệm “lấy dân làm gốc”. Ông luôn nhắc nhở người làm quan phải biết thương dân, hiểu nỗi vất vả của người dân lao động và coi sự yên ổn của nhân dân là nền tảng của quốc gia. Theo ông, nếu lòng dân không yên thì đó mới là mối nguy lớn nhất đối với đất nước. Những tư tưởng ấy cho đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị, nhắc nhở đội ngũ cán bộ, công chức về trách nhiệm phụng sự nhân dân, xây dựng một nền hành chính liêm chính, hiệu quả và vì dân.

Điều đáng quý ở Lê Quý Đôn còn là tinh thần tiếp thu tri thức nhân loại với một tầm nhìn rộng mở. Trong chuyến đi sứ sang nhà Thanh, ông tìm hiểu nhiều sách của các học giả phương Tây được dịch sang Hán văn. Nhờ đó, ông trở thành một trong những người Việt Nam đầu tiên giới thiệu những hiểu biết về khoa học tự nhiên, địa lý thế giới, các nền văn minh và nhiều thành tựu học thuật ngoài khu vực Đông Á. Với vốn học vấn uyên bác ông được người đương thời và cả học giả Trung Quốc, Triều Tiên đánh giá rất cao. Tinh thần ham học hỏi, sẵn sàng tiếp nhận tri thức mới nhưng vẫn giữ vững bản lĩnh văn hóa dân tộc của ông là bài học quý cho công cuộc hội nhập quốc tế ngày nay. Đó còn là việc nhìn lại di sản Lê Quý Đôn trong bối cảnh đất nước đang thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và xây dựng xã hội học tập.

Nhìn lại cuộc đời Lê Quý Đôn, điều khiến hậu thế kính phục không chỉ là khối lượng tri thức đồ sộ mà còn là nhân cách của một trí thức lớn luôn đau đáu với vận nước. Ông từng nhiều lần dâng sớ đề xuất cải cách, chống tham nhũng, chăm lo đời sống nhân dân. Dẫu có những lúc hoài bão không được thực hiện trọn vẹn, ông vẫn không ngừng đọc sách, viết sách, đào tạo nhân tài và để lại cho dân tộc một di sản học thuật có giá trị lâu bền: “Lê quý Đôn quả là nhà bác học lớn nhất của nước Việt Nam dưới thời phong kiến. Suốt đời ông, Lê quý Đôn tỏ ra là một người đọc sách không biết mỏi và viết sách không biết mỏi…”[6]. Cuộc đời của ông là minh chứng sinh động cho chân lý: tri thức chỉ thật sự có ý nghĩa khi gắn với trách nhiệm xã hội và khát vọng cống hiến.

Năm 2026 đánh dấu kỷ niệm 300 năm ngày sinh của Lê Quý Đôn (1726-2026), một trong những học giả lớn và nhà văn hóa tiêu biểu của Việt Nam thế kỷ XVIII. Việc tưởng niệm một danh nhân lịch sử không chỉ là dịp tri ân những cống hiến to lớn của họ đối với dân tộc mà còn góp phần khẳng định và lan tỏa những giá trị bền vững mà họ để lại cho các thế hệ sau. Nếu các anh hùng dân tộc được ghi nhớ bởi công lao bảo vệ độc lập, chủ quyền đất nước thì những nhà văn hóa, nhà khoa học như Lê Quý Đôn được tôn vinh bởi di sản học thuật đồ sộ, tinh thần ham học hỏi, ý thức phụng sự đất nước và những đóng góp quan trọng đối với sự phát triển của tri thức dân tộc.

Trong Kiến văn tiểu lục, chúng ta thấy Lê Quý Đôn viết: “Nước Nam, hai triều đại nhà Lý, nhà Trần, có tiếng là văn minh”. Trong Quần thư khảo biện, tuy trọng tâm là khảo cứu triết học và tư tưởng, ông vẫn dẫn lại những tư liệu cho thấy triều Tống từng học hỏi cách tổ chức quân đội của Đại Việt, qua đó khẳng định những đóng góp của dân tộc trong lĩnh vực quân sự.

Tương tự, trong Vân đài loại ngữ, ông nhiều lần nhắc đến việc triều Minh tiếp thu kỹ thuật chế tạo súng thần cơ do Hồ Quý Ly và Hồ Nguyên Trừng phát triển, góp phần khẳng định trình độ khoa học - kỹ thuật của người Việt trong lịch sử. Không chỉ thể hiện tinh thần dân tộc qua trước tác, Lê Quý Đôn còn thể hiện bản lĩnh trên mặt trận ngoại giao.

Trong chuyến đi sứ sang nhà Thanh năm 1762, ông đã kiên quyết đấu tranh, buộc quan lại nhà Thanh từ bỏ cách gọi sứ đoàn Đại Việt là “di quan, di mục” - một cách xưng hô mang ý nghĩa miệt thị - để sử dụng danh xưng phù hợp với địa vị của một quốc gia có chủ quyền. Những sự kiện đó cho thấy ở Lê Quý Đôn, học thuật luôn gắn với ý thức bảo vệ danh dự dân tộc, góp phần khẳng định vị thế và bản sắc của Đại Việt trong quan hệ với các quốc gia láng giềng.

Từ di sản Lê Quý Đôn đến khát vọng phát triển đất nước hôm nay

Trong bối cảnh hiện nay, Đảng và Nhà nước xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực quan trọng để thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững đất nước. Cuộc đời và sự nghiệp của Lê Quý Đôn cho thấy những giá trị vượt thời đại. Cách đây gần ba thế kỷ, trong điều kiện khoa học chưa phát triển, tư liệu còn khan hiếm và hoạt động nghiên cứu chủ yếu dựa vào nỗ lực của cá nhân, Lê Quý Đôn đã kiên trì theo đuổi con đường học thuật với tinh thần lao động trí tuệ nghiêm túc và bền bỉ. Dù đảm nhiệm nhiều trọng trách trong bộ máy nhà nước, ông chưa bao giờ xem nhẹ công việc nghiên cứu.

Trong thời gian giữ chức ở Thuận Quảng, giữa bộn bề công vụ, ông vẫn dành thời gian khảo sát thực địa, thu thập tư liệu và hoàn thành tác phẩm Phủ biên tạp lục - một công trình có giá trị lớn về địa lý, lịch sử, kinh tế và văn hóa. Đến năm 1765, sau khi cáo quan trở về quê, ông tiếp tục chuyên tâm trước tác, với tinh thần “đóng cửa làm sách”, để lại một di sản học thuật đồ sộ. Tấm gương say mê nghiên cứu, ý thức tích lũy tri thức và cống hiến không ngừng của Lê Quý Đôn là nguồn cảm hứng quý báu đối với đội ngũ trí thức, nhà khoa học ngày nay trong sự nghiệp phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Suốt một ngàn năm của chế độ phong kiến Việt nam, trước ông và sau ông, không có ai viết nhiều, biết nhiều về các ngành học thuật như Lê Quý Đôn. Về mặt học thuật, Lê Quý Đôn là nhân vật đã làm rạng rỡ cho văn hóa Việt Nam bằng các cống hiến về nhiều mặt của ông[7].

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu đẩy mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo các chủ trương của Đảng, nghiên cứu khoa học giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển nhanh và bền vững. Hoạt động nghiên cứu không chỉ hướng tới tiếp thu có chọn lọc những thành tựu khoa học tiên tiến của thế giới mà còn phải kế thừa, khai thác và phát huy di sản tri thức mà các thế hệ đi trước đã dày công vun đắp. Trong dòng chảy ấy, việc nghiên cứu cuộc đời, sự nghiệp và di sản học thuật của Lê Quý Đôn có ý nghĩa đặc biệt. Với khối lượng trước tác đồ sộ, phương pháp khảo cứu công phu, tinh thần học hỏi không ngừng và tư duy bách khoa, ông được xem là một trong những học giả kiệt xuất của lịch sử Việt Nam thời phong kiến.

Việc tiếp tục nghiên cứu, đánh giá và phát huy di sản của Lê Quý Đông không chỉ có ý nghĩa khoa học và lịch sử mà còn góp phần khơi dậy tinh thần sáng tạo, ý chí tự cường và khát vọng cống hiến cho sự phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Tại Hội thảo khoa học kỷ niệm 290 năm ngày sinh Lê Quý Đôn (1726-2016), ngày 1-8-2016 tại tỉnh Thái Bình, GS.TS Tạ Ngọc Tấn, trong phần tổng kết hội thảo, đã nhấn mạnh ý nghĩa của việc tiếp tục nghiên cứu, bảo tồn và phát huy di sản của Lê Quý Đôn, đồng thời đề xuất các bộ, ngành và tỉnh Thái Bình (nay là tỉnh Hưng Yên) xây dựng lộ trình tôn vinh Lê Quý Đôn hướng tới dịp kỷ niệm 300 năm ngày sinh của ông vào năm 2026. Kết luận Hội thảo đã khẳng định: “Từ hội thảo này chúng ta thống nhất khẳng định Lê Quý Đôn xứng đáng được tôn vinh là một nhà văn hóa kiệt xuất trên phạm vi toàn thế giới[8] và của dân tộc Việt Nam, có những đóng góp nổi bật đối với lịch sử tư tưởng, giáo dục và học thuật nước nhà. Nhiều ý kiến cũng gợi mở các giải pháp nhằm tăng cường hoạt động nghiên cứu, giới thiệu và quảng bá giá trị di sản của ông trong nước và quốc tế, từng bước nâng cao vị thế của Lê Quý Đôn trong không gian văn hóa và học thuật thế giới.

Mười năm sau hội thảo đó, năm 2026 - kỷ niệm 300 năm ngày sinh Lê Quý Đôn - là dịp để nhìn lại những kết quả đã đạt được trong công tác nghiên cứu và tôn vinh di sản của ông, đồng thời tiếp tục triển khai các hoạt động có chiều sâu nhằm lan tỏa những giá trị mà ông để lại. Với di sản trước tác phong phú, tư tưởng học thuật tiến bộ và những đóng góp trên nhiều lĩnh vực, Lê Quý Đôn không chỉ là niềm tự hào của quê hương Thái Bình (nay là tỉnh Hưng Yên) mà còn là một trong những danh nhân văn hóa tiêu biểu của Việt Nam. Việc tiếp tục nghiên cứu, giới thiệu và quảng bá các giá trị di sản của ông có ý nghĩa quan trọng trong việc khẳng định truyền thống hiếu học, tinh thần sáng tạo và bản sắc văn hóa của dân tộc, đồng thời góp phần đưa các giá trị văn hóa Việt Nam đến gần hơn với cộng đồng học thuật quốc tế.

*         *

*

Ba trăm năm sau ngày ông cất tiếng khóc chào đời, đất nước Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới với khát vọng xây dựng quốc gia hùng cường, phồn vinh và hạnh phúc. Trong hành trình ấy, những giá trị mà Lê Quý Đôn để lại vẫn mang ý nghĩa thời sự, thời đại sâu sắc: tinh thần hiếu học suốt đời, tư duy khoa học, ý thức đổi mới, lòng yêu nước, niềm tự hào về văn hiến dân tộc và trách nhiệm đối với nhân dân.

Kỷ niệm 300 năm ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn không chỉ là dịp tri ân một bậc đại học giả của dân tộc, mà còn là lời nhắc nhở mỗi người Việt Nam hôm nay phải tiếp tục gìn giữ, bồi đắp và phát huy truyền thống văn hiến ngàn đời. Ánh sáng trí tuệ của Quế Đường tiên sinh vẫn đang soi rọi con đường phát triển của đất nước, truyền cảm hứng cho các thế hệ học tập, sáng tạo và cống hiến. Và vì thế, Lê Quý Đôn sẽ mãi mãi là ngôi sao sáng trên bầu trời văn hiến Việt Nam, một biểu tượng bất diệt của trí tuệ, nhân cách và khát vọng phụng sự Tổ quốc.

 
MỘT SỐ CÔNG TRÌNH TRƯỚC TÁC TIÊU BIỂU CỦA LÊ QUÝ ĐÔN
(do Viện Sử học Phiên dịch và xuất bản)
 

Anh-tin-bai

Bản dịch thuật của Viện Sử học một số tác phẩm tiêu biểu
của Lê Quý Đôn dịp 250 năm ngày sinh của ông
Anh-tin-bai
Viện Sử học xuất bản sách Đại Việt thông sử bản in năm 2007
Anh-tin-bai
Viện Sử học xuất bản sách Phủ biên tạp lục bản in năm 2007
Anh-tin-bai
Viện Sử học xuất bản sách Kiến văn tiểu lục bản in năm 2007
 
Chú thích:

[1] Lê Trọng Thứ, trước tên là Phú Thứ, đậu tiến sĩ năm Bảo Thái thứ 5 (1724), làm quan đến chức Hình bộ thượng thư, được phong tước hầu.

[2] Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí (tập 1), Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007, tr.465.

[3] Trần Văn Giáp, Tác phẩm được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm (2 tập), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003, tr.1249.

[4] Văn Tân, Lê Quý Đôn cuộc đời và sự nghiệp (bài viết kỷ niệm 250 năm ngày sinh danh nhân Lê Quý Đôn), Tạp chí Nghiên cứu lịch sử 1976, số 4 (169), tr.9.

Bài viết của GS Văn Tân, Vài nét về Lê Quý Đôn nhà bác học lớn của Việt Nam dưới thời phong kiến, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 49 (4-1963), in trong: UBND tỉnh Thái Bình, Danh nhân Lê Quý Đôn (1726-1784): Cuộc đời và sự nghiệp (Tài liệu hội thảo), tổ chức tại tỉnh Thái Bình, tháng 8.2016, tr.560.  

[5] Văn Tân, Vài nét về Lê Quý Đôn nhà bác học lớn của Việt Nam dưới thời phong kiến, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 49 (4-1963), tr.5.

[6] Văn Tân, Vài nét về Lê Quý Đôn nhà bác học lớn của Việt Nam dưới thời phong kiến, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 49 (4-1963), tr.8.

[7] Văn Tân, Lê Quý Đôn cuộc đời và sự nghiệp (bài viết kỷ niệm 250 năm ngày sinh danh nhân Lê Quý Đôn), Tạp chí Nghiên cứu lịch sử 1976, số 4 (169), tr.13-14.

[8] Lời kết luận Hội thảo của GS.TS Tạ Ngọc Tấn, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, in trong: UBND tỉnh Thái Bình - Hội khoa học Lịch sử Việt Nam, Danh nhân Lê Quý Đôn, cuộc đời và sự nghiệp, Sở Vă hóa Thể thao và Du lịch - Trung tâm UNESCO Thông tin tư liệu lịch sử và văn hóa Việt Nam, Thái Bình, 2016, tr.565.


 
ThS. Nguyễn Văn Biểu, Viện Sử học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
  • Bộ sách gồm 10 tập, Viện Sử học dịch, Nxb KHXH xuất bản.
    23/04/2013
  • Đại Nam nhất thống chí đời Tự Đức là bộ sách địa lý học Việt Nam đầy đủ nhất dưới thời phong kiến. Đại Nam nhất thống chí theo bộ Đại Thanh nhất thống chí của Trung Quốc mà chia ra các mục như: phương vi, phân dã, kiến trí, duyên cách, phủ huyện, hình thế, khí hậu, phong tục, thành trì, học hiệu, hộ khẩu, điền phú, sơn xuyên, quan tấn, dịch trạm, thị lập, tứ miếu, tự quán, phân việt, thổ sản, v.v... Ngoài ra, Đại Nam nhất thống chí còn có quyển chép riêng về Cao Miên (Campuchia), Xiêm La, Miến Điện, Nam Chưởng, Vạn Tượng.
    22/04/2013
  • Trong tập sách này, các tác giả không chỉ trình bày các sự kiện về quân sự, chính trị mà còn nêu lên nhiều sự kiện khác thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại....
    27/09/2012
  • "Việt Nam những sự kiện lịch sử (Từ khởi thủy đến 1858)" là cuốn sách ghi lại các sự kiện lịch sử nước nhà từ khởi thủy đến khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược vào giữa thế kỷ XIX.
    27/09/2012
  • Đại Nam liệt truyện là một bộ sách có quy mô khá đồ sộ trong kho tàng thư tịch cổ viết bằng chữ Hán của Việt Nam, do cơ quan làm sử chính thức của nhà Nguyễn là Quốc sử quán biên soạn vào giữa thế kỷ XIX.
    24/09/2012
  • Lịch triều hiến chương loại chí là bộ bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam. Có nghĩa là Phép tắc các triều đại chép theo thể phân loại do Phan Huy Chú soạn trong 10 năm (1809-1819).
    23/09/2012
  • Là bộ sử có giá trị to lớn và quan trọng bậc nhất trong nền sử học Việt Nam thời kỳ cổ trung đại. Bộ chính sử do Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê biên soạn.
    22/09/2012
  • Cuốn sách Cổ luật Việt Nam gốm 2 bộ Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ. Quốc triều hình luật (còn gọi là bộ luật Hồng Đức) và Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là bộ luật Gia Long) là hai bộ cổ luật duy nhất còn lại cho đến nay của các triều đại phong kiến Việt Nam; là những di sản quý giá có giá trị tham khảo về nhiều mặt cho chúng ta ngày nay.
    19/09/2012
  • Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ là một bộ sách được biên soạn dưới triều Nguyễn theo thể loại Hội điển. Thể loại này được đặt ra nhằm ghi chép lại các điển pháp, quy chuẩn và các dữ kiện liên quan đến tổ chức và hoạt động của một triều đại, một Nhà nước.
    19/09/2012
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1