image banner

XỨ ĐÀNG TRONG QUA GHI CHÉP CỦA LÊ QUÝ ĐÔN TRONG "PHỦ BIÊN TẠP LỤC"
Kỷ niệm 300 năm ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn (1726-2026)
 

Lê Quý Đôn 黎 貴 惇 tự là Doãn Hậu 允 厚, hiệu Quế Đường 桂 堂, sinh năm Bính Ngọ (1726), người xã Diên Hà, trấn Sơn Nam[1]. Thân phụ là Lê Trọng Thứ, đỗ Tiến sĩ năm 1724, làm quan trải đến chức Hình bộ Thượng thư, tước hầu.

Xuất thân trong một gia đình khoa bảng nên Lê Quý Đôn được học chữ Nho từ nhỏ và nổi tiếng thần đồng. Năm 1743, Lê Quý Đôn thi đỗ Giải nguyên trường thi Sơn Nam, sau đó về quê dạy học, nghiên cứu, viết sách và học thêm để chuẩn bị tham gia thi Hội. Năm 1752, Lê Quý Đôn đỗ đầu kỳ thi Hội (Hội nguyên). Vào thi Đình, ông cũng đỗ đầu (Đình nguyên) và được ban học vị Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ nhị danh (Bảng nhãn). Lê Quý Đôn là vị Bảng nhãn cuối cùng trong nền khoa cử Nho học thời Lê trung hưng[2].

Lê Quý Đôn từng đảm nhiệm nhiều trọng trách trong triều đình Lê - Trịnh như Hàn lâm viện Thị thư (hàm Chánh lục phẩm); Toản tu Quốc sử quán (1754); giữ chức Binh phiên bên phủ Chúa Trịnh; Hàn lâm viện Thị giảng năm 1757 (Tòng ngũ phẩm); Hàn lâm viện Thừa chỉ (Chánh tứ phẩm), sung chức Học sĩ ở Bí thư các, tước Dĩnh Thành bá 穎 成 伯…; Tư nghiệp Quốc Tử giám năm 1767 (Tòng ngũ phẩm); Hữu thị lang bộ Hộ, kiêm Thiêm đô ngự sử năm 1770 (Tòng Tam phẩm); Bồi tụng trong phủ Chúa (1773); Hiệp trấn xứ Thuận Hoá (1776); Hữu hiệu điểm, Quyền phủ sự năm 1778 (võ ban, hàm Tòng Nhị phẩm) tước Nghĩa Phái hầu 義 派 侯; Quốc sử Tổng tài (1781); Hiệp trấn Nghệ An (1783)…

Trên thực tế, hoạn lộ của Lê Quý Đôn không thực sự hanh thông. Năm 1773, Lê Quý Đôn giữ chức Bồi tụng ở phủ Chúa, là Á tướng (chỉ sau chức Tham tụng). Tuy nhiên, trong khoa thi Hội tổ chức tháng 10 năm Ất Mùi (1775), có lẽ liên đới đến vụ án trường thi của con trai là Lê Quý Kiệt[3] nên Lê Quý Đôn được điều vào làm Hiệp trấn xứ Thuận Hoá, giúp đỡ công cuộc Nam chinh của Trịnh Sâm và Hoàng Ngũ Phúc. Sau khi hoàn thành công việc Hiệp trấn xứ Thuận Quảng, cuối năm 1776, Lê Quý Đôn về triều, giữ chức Đô ngự sử; năm 1778 được bổ nhiệm chức Hành Tham tụng (chức quan đứng đầu Phủ liêu trong phủ chúa Trịnh) nhưng ông từ chối và xin chuyển sang võ ban, được cử giữ chức Hữu hiệu điểm, Quyền phủ sự với phẩm trật Tòng Nhị phẩm (ngang chức Thượng thư), nhưng sau đó lại được điều ra làm quan ngoại nhiệm (Hiệp trấn Nghệ An) với phẩm hàm rất thấp. Giải thích về việc này, sử gia Phan Huy Chú cho biết: “Năm Nhâm Dần [1782], Đoan vương [Trịnh Tông] lên giữ chính, ông vì nịnh thần gièm pha nên bị can phải giáng. Mùa đông năm Quý Mão [1783], ông ra làm Hiệp trấn Nghệ An. Rồi ông mất, thọ 58 tuổi, được truy hồi ban Đô ngự sử, tặng hàm Công bộ Thượng thư. Đến sau khi Lê Chiêu Thống cầm quyền chính, gia tặng tước Dĩnh quận công”[4]. Về năm mất của Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí và Phan Huy Ôn trong Đăng khoa bị khảo cho rằng Ông mất năm 1783 trong khi đang tại nhiệm ở Nghệ An, hưởng thọ 58 tuổi. Tác giả Trần Văn Giáp nghiên cứu Lê tướng công niên phả cho biết ông mất  ngày 14 tháng Tư năm Giáp Thìn (tức ngày 1 tháng 6 năm 1784).

Vượt lên trên sự nghiệp chính trị, Lê Quý Đôn “đã để lại một sự nghiệp trước tác rất đồ sộ gồm nhiều công trình nghiên cứu, biên soạn thuộc nhiều bộ môn khoa học khác nhau, trong số đó không ít tác phẩm đã đã trở thành tinh hoa của nền học thuật thời cổ của đất nước”[5].

Trong rất nhiều trước tác của Lê Quý Đôn, tác phẩm địa lý học lịch sử Phủ biên tạp lục được coi là công trình đầu tiên (tính đến thời điểm năm 1776) khảo cứu có hệ thống nhất, đầy đủ nhất về hai xứ Thuận Quảng và quá trình kinh dinh xứ Đàng Trong của các chúa Nguyễn. Trước đó, chúng ta biết đến cuốn Ô châu cận lục của Dương Văn An (biên soạn năm 1554) chủ yếu viết về miền đất châu Ô (tương đương địa bàn Quảng Bình, Quảng Trị ngày nay) nhưng nội dung cũng khá sơ lược.

Năm 1776, Lê Quý Đôn được cử giữ chức Hiệp trấn Tham tán quân cơ trấn Thuận Hoá và trong thời gian đảm nhiệm chức vụ này, từ mùa xuân năm Bính Thân (1776) đến ngày Rằm tháng Tám năm ấy, ông đã biên soạn xong cuốn Phủ biên tạp lục. Trong bài tựa đề ngày 15 tháng 8 năm Cảnh Hưng thứ 37 (1776), Lê Quý Đôn cho biết: “… Đến mùa xuân năm Bính Thân (1776), tôi được sai làm Tham thị quân vụ giúp việc trấn phủ xứ ấy … Kỳ gian, tôi nhân đi dạo núi sông, hỏi di tích, xét xem lệ cũ, tìm kiếm nhân tài, tuỳ bút chép ra thành quyển gọi tên là Phủ biên tạp lục, đó chỉ là vết móng chim hồng tạm ghi nhớ việc bấy giờ mà thôi. Nhưng các bậc quân tử tại triều, có xét sự tích cõi Nam, muốn không ra khỏi sân mà biết việc ngoài nghìn dặm, thì tập này cũng có thể xem qua một lượt vậy…”[6].

Phủ biên tạp lục gồm 6 quyển, nội dung chính là chép sự tích hai xứ Thuận Hoá, Quảng Nam, núi sông, thành ấp, binh ngạch, thuế lệ, nhân tài, sản vật, cùng những việc truyền ngôi, đánh dẹp, diên cách của xứ Đàng Trong thời các chúa Nguyễn.

Nội dung cụ thể các quyển như sau:

- Quyển I: Sự tích khai thiết khôi phục hai xứ Thuận Hoá và Quảng Nam; Danh số phủ, huyện, tổng, xã, trang trại hai xứ Thuận Hoá và Quảng Nam.

- Quyển II: Hình thế núi sông, thành luỹ, trị sở, đường sá, bến đò, nhà trạm hai xứ Thuận Hoá và Quảng Nam.

- Quyển III: Số ngạch công tư điền trang và hoa châu, lệ cũ và tổng số thóc gạo trưng thu ở hai xứ Thuận Hoá và Quảng Nam; Lệ cũ và quan thuộc chức thủ các ty, trấn, dinh và về thi cử ở hai xứ Thuận Hoá và Quảng Nam; Lệ cũ và tổng số về số ngạch nhân đinh, duyệt tuyển các hạng, chia đặt quân hiệu ở hai xứ Thuận Hoá và Quảng Nam.

- Quyển IV: Lệ thuế đầu nguồn, tuần ty, đầm, hồ, chợ đò, thuế vàng bạc đồng sắt và lệ vận tải ở hai xứ Thuận Hoá và Quảng Nam.

Quyển V: Nhân tài và thơ văn.

Quyển VI: Vật sản, phong tục.

Nội dung chính từng quyển trong Phủ biên tạp lục

Anh-tin-bai
Sách Phủ biên tạp lục do Viện Sử học xuất bản, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2007. Ảnh. Nguyễn Biểu

 

    * Nội dung Quyển I cho chúng ta hiểu được quá trình “Nam tiến” của dân tộc ta, về lịch sử khai phá mở mang lãnh thổ về phía Nam từ thế kỷ X cho đến giữa thế kỷ XVIII với những cột mốc đáng nhớ định hình lãnh thổ qua các triều đại (triều Lý,  năm 1044, 1069), thời Trần (năm 1306), thời Hồ (năm 1402-1403), thời Lê sơ (năm 1471) và thời các chúa Nguyễn tổ chức khai phá xứ Đàng Trong, tổ chức các cấp hành chính, xây dựng lực lượng quân sự, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, thực thi chủ quyền biển đảo… (từ khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa đến giữa thế kỷ XVIII). Có thể nói, Phủ biên tạp lục là tác phẩm duy nhất ghi chép kỹ càng về tình hình chính trị, xã hội Đàng Trong từ thế kỷ XVIII trở về trước, và đây là nguồn sử liệu quan trọng để các nhà nghiên cứu sau này tham khảo khi tìm hiểu về giai đoạn lịch sử các chúa Nguyễn quản lý xứ Đàng Trong.

* Nội dung Quyển II có giá trị to lớn về địa lý học khi đọc trong đó chúng ta nhận biết khá rõ nét về hình thế núi sông, thành quách, quan lộ, phong tục tập quán của các cộng đồng cư dân từng cư ngụ trên dải đất này (từ miền duyên hải đến các xứ đầu nguồn). So với công trình Ô châu cận lục do Dương Văn An biên soạn năm 1554 về vùng đất này thì ghi chép của Lê Quý Đông trong Phủ biên tạp lục đầy đủ và chi tiết, cụ thể hơn rất nhiều.

* Trong Quyển III, Quyển IV và Quyển VI, nội dung chủ yếu liên quan đến các vấn đề về kinh tế. Đó là ghi chép các số liệu về ruộng đất (công, tư) ở từng địa phương, các đẳng hạng cùng lệ thuế; ghi chép về sản vật phong phú, quý hiếm ở các đầu nguồn (lâm, thổ sản), cách thức tổ chức khai thác, các loại hình thuế… Đặc biệt, trong Q.IV, Lê Quý Đôn cho biết khá rõ về quan chế và hệ thống quan chức, lại viên, quân hiệu, cũng như việc tổ chức giáo dục, khoa cử Nho học và quá trình tuyển dụng nhân sự cho bộ máy quản lý hành chính các cấp ở hai xứ Thuận Hóa và Quảng Nam trong thế kỷ XVIII.

* Nội dung Quyển V, Là những ghi chép chân thực và khá toàn diện những gương mặt tiêu biểu của xứ Đàng Trong như hai cha con Đặng Tất, Đặng Dung (đầu thế kỷ XV), Nguyễn Tử Hoan (thời Lê sơ), Nguyễn Cư Trinh Nguyễn Quang Tiền, Mạc Thiên Tứ, Ngô Thế Lân (thế kỷ XVIII) với tài năng vượt bậc trên các lĩnh vực chính trị, quân sự và trước tác…. Những bài thơ của Nguyễn Cư Trinh hay Hà Tiên thập vịnh của Mạc Thiên Tứ cùng những sáng tác của Ngô Thế Lân đã trở thành những di sản văn chương tiêu biểu xứ Đàng Trong lưu truyền hậu thế.

Phủ biên tạp lục là tác phẩm duy nhất ghi chép kỹ càng về tình hình xã hội, kinh tế Đàng Trong từ thế kỷ XVIII trở về trước. Dưới góc độ tư liệu, Phủ biên tạp lục chứa đựng nguồn tài liệu phong phú, đa dạng, tin cậy trên các lĩnh vực nghiên cứu: Lịch sử chính trị, văn hóa - xã hội, địa lý và kinh tế. Những thông tin từ Phủ biên tạp lục giúp cho hậu thế nhận diện xứ Đàng Trong từ thế kỷ XVIII trở về trước một cách toàn diện, dầy đủ và chân xác hơn, các nhà nghiên cứu

Trong 6 quyển của Phủ biên tạp lục, sử liệu về quần đảo Hoàng Sa, về đội Hoàng Sa và Bắc Hải (Quyển II)  đặc biệt có giá trị khi góp phần khẳng định chủ quyền lâu đời của Việt Nam về quần đảo này.

Từ nhiều chục năm nay, vấn đề Biển Đông, vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong nước và ngoài nước. Đặc biệt từ năm 1974 khi nhà cầm quyền Trung Quốc tổ chức lực lượng đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa và tiếp đó đánh chiếm một số đảo trên quần đảo Trường Sa (năm 1988) thì việc tìm hiểu, nghiên cứu về lịch sử chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo nói trên càng trở nên cần thiết và cấp bách.

Theo thư tịch cổ Việt Nam thì quần đảo Hoàng Sa được người Việt biết đến từ rất sớm. Tài liệu được coi là sớm nhất khi ghi chép về Bãi Cát Vàng đó là Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư do Hương cống Đỗ Bá tự là Công Đạo vẽ vào cuối thế kỷ XVII (có ý kiến cho rằng vào năm 1686). Theo Gia phả họ Đỗ ở Thanh Chương (Nghệ An) cho biết: Ông Đỗ Bá người làng Bích Triều, huyện Thanh Giang (sau đổi là Thanh Chương) đỗ Hương cống, từng được bổ chức Tri huyện. Trong thế kỷ XVII, trong khoảng 45 năm (từ năm 1627 đến 1672) diễn ra cuộc chiến giữa lực lượng chúa Nguyễn ở Nam Hà và lực lượng của triều đình Lê - Trịnh ở Bắc Hà với 7 trận đánh lớn nhưng không ngã ngũ. Năm 1672, hai bên lấy Đại Linh giang (sông Gianh) làm  phân giới “từ đấy không đánh nhau nữa”. Khi ấy, Đỗ Bá đang giữ chức Tri huyện liền cáo quan về, đóng giả làm lái buôn theo thuyền buôn đi vào xứ Đàng Trong với mục đích là tìm hiểu địa thế sông ngòi, núi non, đường đi lối lại xứ Đàng Trong, vẽ thành bản đồ dâng lên chúa Trịnh Căn chuẩn bị cho cuộc chinh phạt xứ Đàng Trong. Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư ra đời và trên bản đồ có ghi rõ về Bãi Cát Vàng (tức Hoàng Sa).

Tác phẩm Phủ biên tạp lục được biên soạn sau Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư gần một thế kỷ và trở thành tài liệu quan trọng về địa lý lịch sử của xứ Đàng Trong thế kỷ XVIII. Các bộ địa lý hay lịch sử xuất hiện sau Phủ biên tạp lục như Đại Việt sử ký tục biên, Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí, Hoàng Việt địa dư chí, Sử học bị khảo, Đại Việt địa dư tiền biên… đều sử dụng nguồn tài liệu trong Phủ biên tạp lục để viết về Hoàng Sa và đội Hoàng Sa, Bắc Hải.

Trong Quyển II, khi viết về hình thế núi sông, thành luỹ, trị sở, đường sá, bến đò, nhà trạm hai xứ Thuận Hoá và Quảng Nam, Lê Quý Đôn cho biết: “Phủ Quảng Ngãi huyện Bình Sơn có xã An Vĩnh ở gần biển, ngoài biển về phía đông bắc có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn 130 ngọn, cách nhau bằng biển, từ hòn này sang hòn kia hoặc đi một ngày hoặc vài canh thì đến. Trong đảo có bãi cát vàng dài, ước hơn 30 dặm, bằng phẳng rộng lớn, nước trong suốt đáy. Bên đảo có vô số yến sào; các thứ chim có hàng nghìn, hàng vạn, thấy người thì đậu vòng quanh không tránh. Bên bãi vật lạ rất nhiều. Ốc vân (ốc vằn) thì có ốc tai voi to như chiếc chiếu, bụng có hạt to bằng đầu ngón tay, sắc đục không như ngọc trai, các vỏ có thể đẽo làm tấm bài được; lại có thể nung vôi xây nhà; có ốc Xà cừ để khảm đồ dùng, lại có ốc hương. Các thứ ốc đều có thể muối và nấu ăn được. Có hải sâm tục gọi là con đột đột, bơi lội ở bên bãi, lấy về dùng vôi xát qua, bỏ ruột phơi khô, lúc ăn thì ngâm nước, cua đồng cạo sạch đi, nấu với tôm và thịt lợn càng tốt.

Các thuyền ngoại phiên thường bị bão đậu ở đảo này. Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ đến tháng 2 nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn 6 tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến đảo ấy. Ở đấy tha hồ bắt chim, bắt cá mà ăn. Lấy được hoá vật của tàu như là gươm ngựa, hoa bạc, hòn bạc, đồ đồng, khối thiếc, khối chì, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiên, cùng là kiếm lượm vỏ đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm hột ốc vân rất nhiều. Đến kỳ tháng 8 thì về, vào cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp, cân và định hạng xong, mới cho đem bán riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm rồi lĩnh bằng trở về. Lượm được nhiều ít không nhất định, cũng có khi về người không. Tôi đã xem sổ của Cai bạ cũ là Thuyên Đức hầu biên rằng: năm Nhâm Ngọ (1702) lượm được 30 hốt bạc; năm Giáp Thân (1704) được 5100 cân thiếc; năm Ất Dậu (1705) được 126 hốt bạc; từ năm Kỷ Sửu (1709) đến năm Quý Tỵ (1713), 5 năm ấy mỗi năm chỉ được mấy tấm đồi mồi, hải ba. Cũng có năm được khối thiếc, bát sứ và hai khẩu súng đồng mà thôi.

Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất, hoặc người thôn Tứ Chính ở Bình Thuận, hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo Hà Tiên, tìm lượm vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai cai đội Hoàng Sa kiêm quản…”[7].

Chắc chắn Lê Quý Đôn chưa từng một lần đặt chân đến Hoàng Sa, do đó để có thể trình bày các loại sản vật một cách cụ thể chi tiết đến như vậy hẳn Lê Quý Đôn đã khảo cứu nhiều tài liệu ở xứ này và tham khảo nhiều ở người dân địa phương, đặc biệt là những người trong đội Hoàng Sa.

Nội dung trình bày về quần đảo Hoàng Sa và đội Hoàng Sa trong Phủ biên tạp lục không nhiều nhưng có giá trị ở những điểm sau đây:

- Nêu rõ quy trình đi - về của đội Hoàng Sa (tháng 2 đi, tháng 8 về); trách nhiệm, nghĩa vụ của đội Hoàng Sa (trình báo, nộp các sản vật thu lượm được cho chính quyền chúa Nguyễn ở Phú Xuân). Điều này đồng nghĩa với việc, quần đảo Hoàng Sa đã được các chúa Nguyễn tổ chức quản lý và khai thác từ sớm. Những người lính trong đội Hoàng Sa ra đảo Hoàng Sa theo lệnh điều động của Nhà nước và được hưởng một số quyền lợi do chính quyền chúa Nguyễn ban cho. Ghi chép của Lê Quý Đôn chính là bằng chứng lịch sử về chủ quyền (quản lý, khai thác) của các chúa Nguyễn đối với quần đảo Hoàng Sa (muộn nhất là cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII).

Hiện nay, giới nghiên cứu đã sưu tầm được khá nhiều tài liệu viết về đội Hoàng Sa. Phần lớn họ những người của hai xã trên đất liền là xã An Hải, An Vĩnh huyện Bình Sơn. Một bộ phận cư dân hai xã này đã ra khai chiếm đảo Lý Sơn (Cù lao Ré) từ đầu thế kỷ XVII, sau khi lớp cư dân người Chăm đã rời về phía nam. Cư dân trên Cù lao Ré có mối liên hệ mật thiết cư dân An Vĩnh, An Hải trên đất liền cho đến đầu triều Nguyễn mới tách ra thành những đơn vị hành chính độc lập. Ghi chép của Lê Quý Đôn hoàn toàn phù hợp với nguồn tài liệu khai thác được trên Cù lao Ré về việc lập đội Hoàng Sa thời các chúa Nguyễn. Thậm chí, đến thời Tây Sơn, triều Nguyễn các thế hệ lính Hoàng Sa vẫn được điều động trong các dòng họ tiên hiền của Cù lao Ré.

- Ghi chép của Lê Quý Đôn chính là cơ sở tài liệu quan trọng để biên soạn chính sử thời Lê trung hưng về Hoàng Sa và đội Hoàng Sa. Đó chính là bộ Đại Việt sử ký tục biên (1676-1789)

Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục thì “năm Ất Mùi, Cảnh Hưng thứ 36 (1775) … hạ lệnh cho bọn Nguyễn Hoàn trông coi việc biên soạn quốc sử” vì “từ năm Vĩnh Trị 1 (1676) về sau chưa có tục biên”. Nhóm sử thần gồm Nguyễn Hoàn, Lê Quý Đôn và Vũ Miên (đồng Tổng tài) và nhóm Toản tu là Ngô Thì Sĩ, Phạm Nguyễn Du, Ninh Tốn và Nguyễn Sá.

Chúng ta biết, khoảng tháng 4 năm 1776, Lê Quý Đôn được cử làm Hiệp trấn xứ Thuận Hoá và cuối năm ông trở về triều đảm nhiệm chức Đô ngự sử. Rất có thể Lê Quý Đôn không trở lại cương vị Quốc sử Tổng tài nhưng tài liệu ghi chép của ông trong Phủ biên tạp lục được sử dụng để biên soạn quốc sử, đặc biệt là khi đề cập đến xứ Đàng Trong. Dưới đây là một đoạn chép về quần đảo Hoàng Sa và đội Hoàng Sa trong Đại Việt sử ký tục biên: “Tám người thuộc đội Hoàng Sa xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi đi thuyền nhỏ vào bãi Hoàng Sa giữa hải đảo tìm lấy hoá vật, bị gió dạt vào cửa sông Thanh Lan, huyện Văn Xương, phủ Lô Châu nước Thanh. Quan địa phương xét hỏi đúng sự thực rồi đưa trả về nguyên quán. Chúa Thế Tông [Nguyễn Phúc Khoát] sai Cai bạ Thuận Hoá là Thức Lượng hầu viết thư đáp lại người Thanh. (Ngoài biển xã An Vĩnh có các đảo lớn gồm hơn 130 cái, cách nhau hoặc một vài ngày đi thuyền, hoặc vài trống canh. Trên đảo có suối nước ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng [Hoàng Sa] dài ước hơn 30 dặm, nước trong. Đảo ấy có vô số tổ yến, ở bãi cát lại có ốc vằn, tục gọi là ốc tai voi, ốc xà cừ, ốc hương, hải trùng, hải sâm, đồi mồi… Đặt đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào đội ấy, cắt lượt nhau đi thuyền đến xứ ấy mò tìm sản vật. Mỗi năm cứ tháng 3 đi, mang lương ăn 6 tháng, đi thuyền ra biển 3 ngày 3 đêm mới đến đảo ấy. Ở đấy tha hồ tìm nhặt, được sản vật gì, bao nhiêu, đến kỳ tháng 8 thuyền về cửa Eo, đem đến Phú Xuân nộp. Trong khoảng ấy cũng có người mò được tiền bạc, chì, thiếc, nồi đồng, sung, khí giới, ngà voi, bát bằng đá vân vân)[8].

Chúng tôi cho rằng, toàn bộ đoạn văn in nghiêng ở trên là sử dụng tư liệu của Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục. Bộ Đại Việt sử ký tục biên được tiến hành biên soạn năm 1775 và hoàn thành năm 1779. Trong đoạn cuối bài tựa sách Đại Việt sử ký tục biên của Nguyễn Hoàn đề tháng Tư năm Cảnh Hưng 40 (1779) có viết: “… 玆 者 國 史 告 成 爰 將 舊 錄 重 加 核 正 tư giả quốc sử cáo thành, viên tương cựu lục trùng gia hạch chính… (nay quốc sử đã soạn xong, bèn đem cựu lục kiểm tra hiệu chính một lần nữa)[9]. Như vậy, Đại Việt sử ký tục biên hoàn thành sau cuốn Phủ biên tạp lục 3 năm, do đó chúng ta có đủ cơ sở cho rằng nhóm sử thần nhà Lê đã sử dụng tài liệu của Phủ biên tạp lục để biên soạn quốc sử, phần viết về xứ Thuận - Quảng, hay Gia Định.

Đánh giá về cống hiến của Lê Quý Đôn trên lĩnh vực học thuật, có lẽ xin được mượn lời của Sử gia Phan Huy Chú: “Ông tư chất khác đời, thông minh hơn người mà giữ tính nết thuần hậu, lại chăm học không biết mỏi. Tuy đỗ đạt vinh hiển, tay vẫn không rời quyển sách. Bình sinh làm sách rất nhiều. Bàn về kinh sử thì sâu sắc, rộng rãi, mà nói về điển cố thì đầy đủ rõ ràng. Cái sở trường của ông vượt hơn cả, nổi tiếng ở trên đời. Văn thơ ông làm ra gọi là Quế Đường tập có mấy quyển”[10].

 
Chú thích:

[1] Năm 1741 thời Lê Hiển Tông, trấn Sơn Nam được chia thành hai trấn Sơn Nam Thượng và Sơn Nam Hạ. Diên Hà thuộc về Sơn Nam Hạ (nay thuộc huyện Hưng Hàm, tỉnh Thái Bình).

[2] Triều Nguyễn tổ chức thi Hội vào năm Minh Mệnh thứ 3 (1822) nhưng phải đến khoa thi năm 1843 mới lấy được một vị đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ tam danh (Thám hoa) là Mai Anh Tuấn và đến khoa thi năm 1851 mới lấy được hai vị đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ nhị danh (Bảng nhãn) là Phạm Thanh (khoa Tiến sĩ) và Vũ Duy Thanh (khoa Cát sĩ). Như vậy sau 99 năm (1752-1851), nền khoa cử Nho học VIệt Nam lại mới xuất hiện danh hiệu Bảng nhãn.

[3] Về sự việc trên, sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục cho biết: “…Kỳ đệ tứ khoa này (tức khoa thi Hội), Quý Kiệt và Đinh [Thì] Trung đổi quyển cho nhau để làm bài. Việc bị lộ, Đinh [Thì] Trung phỉa tội lưu đi Yên Quảng, Quý Kiệt phải trở về làm dân. Đinh [Thì] Trung nhân phát giác bức thư riêng của Quý Kiệt và cáo tố là do Lê Quý Đôn chủ sự. Trịnh Sâm lấy cớ Quý Đôn là bậc đại thần, bỏ đi không xét, mà luận thêm tội cho Quý Kiệt, bắt giam cấm ở ngục Cửa Đông (Quốc sử quán triều Nguyễn: Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập II, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, 1998, tr. 724-725).

[4] Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, tập,  Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2006, tr. 465.

[5] Trần Văn Giáp: Tác phẩm được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh, Nxb KHXH, Hà Nội, 2003. Trong công trình Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, tác giả Trần Văn Giáp đã thống kê các công trình của Lê Quý Đôn gồm có: Lê triều thông sử 黎 朝 通 史; Quốc sử tục biên 國 史 續 編; Phủ biên tạp lục 撫 編 雜 錄; Bắc sứ thông lục 北 使 通 錄; Quế Đường thi tập 桂 堂 詩 集; Quế Đường văn tập 桂 堂 文 集; Liên Châu thi tập 連 珠 詩 集; Quần thư khảo biện 群 書 考 辨; Thánh mô hiền phạm 聖 模 賢 范; Thư kinh diễn nghĩa 書 涇 演 義; Âm chất văn chú 陰 騭 文 注; Toàn Việt thi lục 全 越 詩 錄; Hoàng Việt văn hải 皇 越 文 海; Kiến văn tiểu lục 見 聞 小 錄; Vân đài loại ngữ 雲 臺 類 語…

[6] Lê Quý Đôn: Phủ biên tạp lục, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, 2007, tr. 36-37.

[7] Lê Quý Đôn: Phủ biên tạp lục, sđd, tr. 154-155.

[8] Sử thần triều Lê: Đại Việt sử ký tục biên (1676-1789), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991, tr. 243-244.

[9] Ngô Đức Thọ: Có một nhà sử học còn âm thầm Nguyễn Hoàn, in trong Kỷ yếu Hội thảo Nguyễn Hoàn, Nguyễn Hiệu - Danh nhân lịch sử thế kỷ XVII-XVIII, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2010.

[10] Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, tập, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2006, tr.466.


PGS.TS. Nguyễn Đức Nhuệ, Viện Sử học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
  • Bộ sách gồm 10 tập, Viện Sử học dịch, Nxb KHXH xuất bản.
    23/04/2013
  • Đại Nam nhất thống chí đời Tự Đức là bộ sách địa lý học Việt Nam đầy đủ nhất dưới thời phong kiến. Đại Nam nhất thống chí theo bộ Đại Thanh nhất thống chí của Trung Quốc mà chia ra các mục như: phương vi, phân dã, kiến trí, duyên cách, phủ huyện, hình thế, khí hậu, phong tục, thành trì, học hiệu, hộ khẩu, điền phú, sơn xuyên, quan tấn, dịch trạm, thị lập, tứ miếu, tự quán, phân việt, thổ sản, v.v... Ngoài ra, Đại Nam nhất thống chí còn có quyển chép riêng về Cao Miên (Campuchia), Xiêm La, Miến Điện, Nam Chưởng, Vạn Tượng.
    22/04/2013
  • Trong tập sách này, các tác giả không chỉ trình bày các sự kiện về quân sự, chính trị mà còn nêu lên nhiều sự kiện khác thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại....
    27/09/2012
  • "Việt Nam những sự kiện lịch sử (Từ khởi thủy đến 1858)" là cuốn sách ghi lại các sự kiện lịch sử nước nhà từ khởi thủy đến khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược vào giữa thế kỷ XIX.
    27/09/2012
  • Đại Nam liệt truyện là một bộ sách có quy mô khá đồ sộ trong kho tàng thư tịch cổ viết bằng chữ Hán của Việt Nam, do cơ quan làm sử chính thức của nhà Nguyễn là Quốc sử quán biên soạn vào giữa thế kỷ XIX.
    24/09/2012
  • Lịch triều hiến chương loại chí là bộ bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam. Có nghĩa là Phép tắc các triều đại chép theo thể phân loại do Phan Huy Chú soạn trong 10 năm (1809-1819).
    23/09/2012
  • Là bộ sử có giá trị to lớn và quan trọng bậc nhất trong nền sử học Việt Nam thời kỳ cổ trung đại. Bộ chính sử do Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê biên soạn.
    22/09/2012
  • Cuốn sách Cổ luật Việt Nam gốm 2 bộ Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ. Quốc triều hình luật (còn gọi là bộ luật Hồng Đức) và Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là bộ luật Gia Long) là hai bộ cổ luật duy nhất còn lại cho đến nay của các triều đại phong kiến Việt Nam; là những di sản quý giá có giá trị tham khảo về nhiều mặt cho chúng ta ngày nay.
    19/09/2012
  • Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ là một bộ sách được biên soạn dưới triều Nguyễn theo thể loại Hội điển. Thể loại này được đặt ra nhằm ghi chép lại các điển pháp, quy chuẩn và các dữ kiện liên quan đến tổ chức và hoạt động của một triều đại, một Nhà nước.
    19/09/2012
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1