SỰ CHỦ ĐỘNG CHUẨN BỊ LỰC LƯỢNG TIẾN TỚI TỔNG KHỞI NGHĨA THÁNG TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945
Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một cuộc giải phóng vĩ đại, đồng thời là một sự kiện lịch sử to lớn của thế giới trong thế kỷ XX, có ý nghĩa thời đại sâu sắc. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám là điển hình của sự chủ động xây dựng lực lượng chính trị, vũ trang, và nghệ thuật chớp thời cơ giành chính quyền. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Mặt trận Việt Minh, cuộc khởi nghĩa giành độc lập dân tộc, giành chính quyền về tay nhân dân nhanh gọn, ít tổn thất và đạt thành quả vô cùng to lớn.
1. Bối cảnh lịch sử
Tháng 9-1939, chiến tranh thế
giới lần thứ hai bùng nổ, chính phủ Pháp thi hành nhiều chính sách
hạn chế dân chủ trong nước và thực hiện một chính sách hà khắc đối
với nước thuộc địa. Chiến
tranh thế giới thứ hai đã ảnh hưởng sâu sắc, toàn diện, tạo ra những thách thức
và nguy cơ lớn đối với vận mệnh của các dân tộc Đông Dương.
Ở Việt Nam, chính quyền Pháp
và tay sai thi hành lệnh thiết quân luật, thủ tiêu những quyền lợi mà nhân dân
Việt Nam đã giành được trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ.
Ngày 28-9-1939, Toàn quyền
Đông Dương ra nghị định cấm mọi hoạt động trực tiếp hoặc gián tiếp tuyên truyền
cộng sản, cấm lưu hành, tàng trữ mọi tài liệu của cộng sản, giải tán các hội ái
hữu... Hàng loạt báo chí cách mạng trên khắp cả nước bị đóng cửa. Hàng nghìn
người cộng sản và yêu nước bị bắt giam. Đặc biệt, chính quyền thuộc địa thi
hành chính sách “kinh tế chỉ huy” ra sức cướp đoạt tài sản của nhân dân, nhất
là các biện pháp tăng thuế cũ, đặt thêm thuế mới, lạc quyên, công trái... sa thải
công nhân, viên chức, giảm tiền lương, tăng giờ làm.... làm cho cuộc sống của
người dân ngày càng rơi vào cảnh khốn cùng.
Trước tình hình đó, Hội nghị
Trung ương lần thứ 6 (tháng 11-1939) họp tại Bà Điểm (Hóc Môn, Gia Định) nhận định:
“lúc này ở Việt Nam và Đông Dương, sự thống trị của đế quốc Pháp đã trở thành một
chế độ phát xít thuộc địa rõ rệt và những kẻ cầm đầu chế độ đó đang mưu toan
thoả hiệp, đầu hàng phát xít Nhật. Do đó, giải phóng dân tộc khỏi ách đế quốc,
dù là Pháp hay Nhật, trở thành nhiệm vụ cấp bách nhất và mục tiêu chiến lược
trước mắt của cách mạng Việt Nam” (1). “đế quốc Pháp hiện giờ là một tên thủ phạm
đương phát động cuộc thế giới đế quốc chiến tranh... Sự thống trị các thuộc địa,
nhất là Đông Dương là một chế độ quân nhân phát xít rõ rệt và mưu mô đầu hàng
thoả hiệp với phát xít Nhật đã đặt ra trước mắt vấn đề sống còn của các dân tộc
Đông Dương. Bước sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không còn con đường nào
khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm, vô luận
da trắng hay da vàng đề giành lấy giải phóng dân tộc”(2).
Ngày 22-9-1940, quân đội Nhật vượt biên giới Việt - Trung tiến vào Lạng Sơn, sau vài trận kháng cự yếu ớt, quân
Pháp nhanh chóng tan rã. Như vậy, Đông Dương đã bị đặt dưới hai tầng áp bức cai
trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật.
Trong tình hình đó, từ ngày 6 đến ngày 9-11-1940 các đồng chí Trường Chinh,
Hoàng Văn Thụ, Hạ Bá Cang, Phan Đăng Lưu, Trần Đăng Ninh tổ chức hội nghị tại
làng Đình Bảng huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Hội nghị nhận định sự câu kết giữa Pháp và Nhật đem đến cho nhân dân
tai hoạ không kể xiết. Do đó, “Một cao trào cách mạng nhất định sẽ nổi dậy. Đảng
phải chuẩn bị để gánh lấy cái sứ mệnh thiêng liêng: lãnh đạo cho các dân tộc bị
áp bức ở Đông Dương võ trang bạo động giành lấy quyền tự do độc lập” (3).
2.
Quá trình chủ động chuẩn bị lực lượng cách mạng của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí
Minh
Cuối những năm 30, tình hình thế giới và Đông Dương có những
chuyển biến lớn, phong trào đấu tranh của nhân dân Việt Nam đang phát triển mạnh.
Nguyễn Ái Quốc nhận thấy đây là cơ hội thuận lợi để Việt Nam đấu tranh giành
quyền độc lập. Ngày 28-01-1941, sau 30 năm xa Tổ quốc, Nguyễn Ái Quốc từ Trung
Quốc trở về Việt Nam qua cột mốc 108 trên biên giới Việt-Trung, thuộc xã Trường
Hà, Hà Quảng, Cao Bằng. Ngay sau khi về nước, Người đã cùng với Trung ương Đảng
tập trung lãnh đạo nhân dân cả nước chuẩn bị mọi điều kiện tiến tới khởi nghĩa
giành lại nền độc lập dân tộc.
Thứ nhất, xây dựng và phát triển lực lượng chính trị
Hoàn
chỉnh đường lối
Từ ngày 10 đến 19-5-1941, tại Khuổi Nặm, làng Cốc Bó, xã
Trường Hà, Hà Quảng, Cao Bằng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị Trung
ương lần thứ 8 của Đảng Cộng sản Đông Dương. Sau khi phân tích tình hình thế giới và trong nước, hội nghị xác định
kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương là phát xít Pháp-Nhật và các lực lượng phản
cách mạng tay sai. Hội nghị đưa ra giải pháp mới về vấn đề dân tộc nhằm đáp ứng yêu cầu khẩn cấp của vận
mệnh dân tộc và nguyện vọng khát khao nhất của nhân dân: “Trong lúc này khẩu hiệu
của Đảng ta là trước hết phải làm sao giải phóng cho được các dân tộc
Đông Dương ra khỏi ách của giặc Pháp-Nhật” (4).
Hội nghị nhận định:
“Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi
được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia,
dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn
năm cũng không đòi lại được” (5).
Hội nghị xác định
nhiệm vụ chiến lược và tính chất của cách mạng Việt Nam: “Cuộc cách mạng Đông
Dương hiện tại không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, cuộc cách mạng
phải giải quyết hai vấn đề: phản đế và điền địa nữa, mà là cuộc cách mạng chỉ
phải giải quyết một vấn đề cần kíp “dân tộc giải phóng”, vậy thì cuộc cách mạng
Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng” (6).
Đây là nội dung thay đổi chiến lược của Đảng.
Như vậy, Hội nghị
Trung ương lần thứ 8 đã hoàn chỉnh đường
lối cách mạng giải phóng dân tộc được đề cập từ Hội nghị Trung ương lần thứ 6
(11-1939) và Hội nghị tháng 11-1940; khẳng định nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của
cách mạng Việt Nam là phải giành cho được độc lập dân tộc và tự do, hạnh phúc
cho đồng bào.
Thành
lập Mặt trận Việt Minh
Hội nghị Trung ương lần thứ 8 của Đảng (5-1941) quyết định
thành lập Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là Việt Minh, thay thế cho Mặt trận
Dân tộc thống nhất chống phát xít Pháp - Nhật, nhằm phát triển khối đại đoàn kết
dân tộc để tiến hành cách mạng. Việc thành lập Mặt trận Việt Minh là bước
trưởng thành vượt bậc của Đảng trong nhận thức lý luận cũng như trong hoạt động
thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Ngày 19-5-1941, Mặt trận Việt Minh chính thức thành lập, ngày
25-10-1941, Mặt trận Việt Minh đã công bố Tuyên
ngôn, Chương trình, Điều lệ, nói rõ tôn chỉ, mục đích của Mặt trận. Chương
trình cứu nước của Việt Minh gồm 44 điểm, bao gồm một hệ thống chính sách về
chính trị, kinh tế, văn hoá và những chính sách cụ thể đối với từng giai cấp, tầng
lớp công nhân, nông dân, binh lính, công chức, học sinh, phụ nữ, thiếu nhi, tư
sản, địa chủ... Tinh thần cơ bản của
chương trình “cốt thực hiện hai điều mà toàn thể đồng bào đang mong ước: 1. Làm
cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập; 2. làm cho dân Việt Nam được sung sướng,
tự do”(7).
Mặt trận Việt Minh có cương lĩnh chính trị phù hợp với
quyền lợi và nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp, giai cấp trong nhân dân,
đặc biệt có nhiều hình thức tổ chức phù hợp, phong phú nên đã động viên được
tinh thần dân tộc của toàn dân. Chính vì thế, Đảng đã đoàn kết được tất cả các
lực lượng yêu nước và tiến bộ, đoàn kết được các dân tộc, tôn giáo trong Mặt trận
Việt Minh.
Sau khi Mặt
trận Việt Minh được thành lập, các hội Công nhân Cứu quốc, Nông dân Cứu quốc,
Phụ nữ Cứu quốc, Thanh niên Cứu quốc, Quân nhân Cứu quốc, Tự vệ Cứu quốc…đã
được thành lập ở nhiều tỉnh trung du và các tỉnh đồng bằng Bắc Kỳ. Các tổ chức
phản đế cũ trước đây còn lại đều được đổi tên thành các tổ chức cứu quốc để
nhằm tập hợp được tối đa các lực lượng quần chúng nhân dân tham gia vào một mặt
trận chung để thực hiện một mục tiêu: đánh đuổi thực dân phát xít Pháp-Nhật.
Đến cuối năm 1941 đầu năm 1942 ở Cao Bằng đã xuất hiện
nhiều xã, tổng và cả châu “hoàn toàn”- tất cả nhân dân đều tham gia Việt Minh.
Một số xã, tổng, châu Việt Minh gần như nắm quyền toàn bộ, chi phối cả chính
quyền địa phương và hoạt động tương đối công khai (8). Các hội Nông dân cứu quốc
hội, Phụ nữ cứu quốc hội, Thanh niên cứu quốc hội, Phụ lão cứu quốc hội là những
hội phát triển mạnh nhất trong khu căn cứ. Như vậy, trong một khoảng thời gian
không dài, dưới sự chỉ đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc công tác chủ động chuẩn bị
xây dựng lực lượng chính trị trong khu căn cứ đã đạt được thắng lợi bước đầu.
Đến cuối tháng 7 đầu tháng 8-1945, thế và lực của Mặt trận
Việt Minh ngày càng phát triển mạnh ở khắp các tỉnh. Hàng nghìn cuộc biểu tình,
mít tinh của quần chúng dưới ngọn cờ đỏ sao vàng diễn ra ở khắp nơi từ thành thị
đến nông thôn. Nhiều đảng phái trung gian như phong trào Thanh niên Tiền tuyến, Hội Tân Việt Nam, Phong trào thanh niên Công
giáo, đại diện Hoà Hảo, một số phái Cao Đài…tuyên bố tự nguyện đứng về phía
Việt Minh. Ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ có một số lý trưởng đã chủ động tìm gặp Việt
Minh để “bàn giao” chính quyền.
Ngày 1-12-1941 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị
về công tác tổ chức, mục đích là “làm cho Đảng xứng đáng là một đội tiền phong
có tổ chức của giai cấp vô sản”. Muốn cho Đảng mau phát triển, Chỉ thị nêu rõ:
“Trung ương Hội nghị lần thứ tám đã nghị quyết bắt buộc mỗi đồng chí sau một thời
gian nhất định phải giới thiệu một đồng chí mới vào Đảng” (9).
Trong điều kiện không thể triệu tập Ban Chấp hành Trung
ương, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đã triệu tập hội nghị từ
25 đến 28/02/1943 tại Võng La (Đông Anh, Phúc Yên) với sự tham dự của Trường
Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt… Hội nghị đề cao công tác xây dựng Đảng:
“Việc đào tạo cán bộ cho Đảng là rất cần. Vậy mỗi ban chấp hàng, mỗi cấp đảng bộ
phải có ít nhất một đồng chí chuyên môn việc huấn luyện để mở các lớp nghiên cứu
ngắn kỳ cho các cán bộ cấp mình. Các lớp này phải lấy lý luận “Duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử”, “Vấn đề chủ nghĩa Lênin” và các sách du kích làm tài liệu
nghiên cứu. Chú trọng đào tạo cán bộ phụ trách các ban chuyên môn” (10).
Công tác xây dựng Đảng tiếp tục được nhấn mạnh trong Nghị
quyết của Hội nghị cán bộ Bắc Kỳ (họp ngày 5-7/3/1944) “thực hiện cho bằng được
những quyết nghị phát triển cơ sở đảng và củng cố đảng”(11) để Đảng Cộng sản
Đông Dương xứng đáng là đội quân tiên phong của giai cấp thợ thuyền và của cả
dân tộc.
Ngày 09/7/1945 Ban Thường vụ Xứ uỷ Bắc Kỳ đã ra Chỉ thị về
củng cố và phát triển Đảng, bởi phong trào càng phát triển cao bao nhiêu thì
vai trò lãnh đạo của Đảng càng quan trọng bấy nhiêu. Chỉ thị nêu rõ: “các cấp bộ
đảng phải đặc biệt cú ý về vấn đề củng cố và phát triển Đảng. Nếu không chúng
ta sẽ đứng vào một tình trạng rất nguy hiểm là Đảng sẽ không lãnh đạo nổi phong
trào một khi phong trào lên cao hết sức lan rộng”(12).
Công
tác đào tạo cán bộ
Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (tháng 5-1941) đặc biệt
chú trọng công tác đào tạo, huấn luyện cán bộ. Hội nghị nhấn mạnh “Việc đào tạo
cán bộ nay đã thành công tác gấp rút, không thể bỏ qua một giờ phút. Tất cả các
cấp bộ chỉ huy của Đảng phải đặc biệt chú ý công tác này. Những cấp bộ ấy phải
mau mau tìm ra những đảng viên trung thành có bảo đảm chắc chắn, có năng lực
sáng tạo lập ra các lớp huấn luyện”(13). Hội nghị yêu cầu “Các cấp bộ chỉ huy
phải ra các tài liệu huấn luyện như sách, tạp chí... Huấn luyện bằng miệng chưa
đủ, phải dìu dắt các đồng chí ấy trong công tác hàng ngày giữa quảng đại quần
chúng, phải trao đổi cho nhau những kinh nghiệm hay, phải đem tình hình thế giới
ra thảo luận, phải làm cho các đồng chí ấy tiến về cả mặt lý thuyết lẫn thực
hành công tác”(14). Hội nghị cũng nhấn mạnh: những tài liệu giảng dạy tại các lớp
huấn luyện như báo chí, tài liệu tuyên truyền, thông báo, nghị quyết của cấp bộ...
nên đem trao đổi cho các cấp bộ khác, tỉnh khác, xứ khác để làm tài liệu tham
khảo ở những nơi đó.
Sau Hội nghị Trung ương lần thứ 8, Nguyễn Ái Quốc tập
trung vào công tác huấn luyện cán bộ. Nguyễn Ái Quốc đã tổ chức mở nhiều lớp huấn
luyện ngắn ngày và trực tiếp giảng dạy cho các cán bộ cơ sở về chủ trương đại
đoàn kết toàn dân đấu tranh vì độc lập dân tộc, vì các lợi ích thiết thực hàng
ngày của nhân dân lao động. Thông qua các lớp huấn luyện góp phần phát huy tinh
thần yêu nước, nâng cao trình độ chính trị của đồng bào các dân tộc và bồi dưỡng
cho cán bộ phương pháp hoạt động cách mạng để chuẩn bị khởi nghĩa.
Sau khi kết thúc
khoá huấn luyện, các cán bộ này được cử về địa phương nhân rộng mô hình các lớp
huấn luyện và vận động quần chúng nhân dân vào các hội cứu quốc. Kết quả, sau
khoảng 3 tháng mở lớp huấn luyện và tích cực vận động quần chúng tham gia ở 3
châu: Hoà An, Hà Quảng, Nguyên Bình (Cao Bằng), đến tháng 4-1941 đã thu hút khoản
2.000 người tham gia vào các các hội cứu quốc gồm đủ các tầng lớp, lứa tuổi,
nam nữ, thuộc đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Mông, Kinh, Dao (15).
Song song với các lớp huấn luyện chính trị, lãnh tụ Nguyễn
Ái Quốc còn quyết định xuất bản tờ báo Việt
Nam độc lập, có nội dung phù hợp với trình độ của nhân dân, dễ hiểu, dễ nhớ,
dễ làm để hướng dẫn phong trào cách mạng. Các bài báo viết gắn gọn, súc tích về
tinh thần đoàn kết dân tộc từ nông dân, công nhân, phụ nữ, thanh niên, phụ lão,
thiếu nhi đến đồng bào các dân tộc thiểu số. Có thể nói, tờ báo đã hoàn thành rất
tốt vai trò tuyên truyền chính trị tới toàn thể người dân.
Thứ hai, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang
Sau khởi nghĩa Bắc Sơn, tháng 10-1940, Đội du kích Bắc
Sơn được thành lập. Dưới sự chỉ đạo của Xứ uỷ Bắc Kỳ, tháng 2-1941, Đội du kích
Bắc Sơn phát triển thành Cứu quốc quân, làm lực lượng nòng cốt để xây dựng căn
cứ địa Bắc Sơn-Võ Nhai.
Bên cạnh việc xây dựng lực lượng và huấn luyện cán bộ chỉ
huy ở trong nước, Xứ uỷ Bắc Kỳ còn tuyển chọn những cán bộ, chiến sĩ ưu tú, cử
đi học tập tại một số trường quân sự ở Trung Quốc. Mục đích của việc đi học tập,
đào tạo ở nước ngoài là chuẩn bị hình thành đội ngũ cán bộ chỉ huy quân sự có
trình độ chính quy cho cách mạng Việt Nam. Từ năm 1941 đến năm 1944 có khoảng
200 cán bộ, chiến sĩ được cử đi Trung Quốc đào tạo về quân sự(16).
5 giờ chiều ngày 22-12-1944, tại khu rừng Sau Cao nằm giữa
2 tổng Trần Hưng Đạo và Hoàng Hoa Thám (huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng), Võ
Nguyên Giáp đã chủ trì lễ thành lập “Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân”
theo chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh(17). 34 chiến sĩ được tuyển lựa từ các đội
du kích Cao-Bắc-Lạng; một số cán bộ, đội viên có tinh thần hăng hái nhất, được
tranh bị vũ khí tốt nhất sẽ trở thành nòng cốt ban đầu của lực lượng vũ trang
chính quy của cách mạng. Sự kiện thành lập Đội Tuyên truyền Giải phóng quân là
kết quả một quá trình chuẩn bị lâu dài với sự hình thành các lực lượng vũ trang
cách mạng nhỏ lẻ đầu tiên từ các đội Xích vệ trong Cao trào xô viết Nghệ-Tĩnh,
đến các Đội du kích Ba Tơ, các Đội Cứu quốc quân v.v…nhưng nó là kết quả trực
tiếp của Bản Chỉ thị lịch sử của lãnh tụ Hồ Chí Minh giao cho Võ Nguyên Giáp
ngày 21-12-1944 để ngày 22/12/1944 chính thức thực hiện.
Ngày 25-02-1944, trước yêu cầu phát triển của phong trào,
Trung ương Đảng quyết định thành lập Trung đội Cứu quốc quân III, hoạt động
song song với Trung đội Cứu quốc quân II. Ngày 15-4-1945, Trung ương Đảng triệu
tập Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ ở Hiệp Hoà (Bắc Giang) để chuẩn bị tích cực
cho cuộc tổng khởi nghĩa. Để đưa cao trào cách mạng phát triển trên phạm vi
toàn quốc, ngày 15-5-1945, tại Chợ Chu (Thái Nguyên) đã diễn ra lễ thống nhất Cứu
quốc quân và Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân thành Việt Nam Giải phóng
quân, đặt dưới sự chỉ huy thống nhất của Uỷ
ban Quân sự cách mạng do Võ Nguyên Giáp đứng đầu, cùng các uỷ viên Chu Văn
Tấn, Văn Tiến Dũng, Lê Thanh Nghị và Trần Đăng Ninh. Đồng thời để đẩy mạnh hoạt
động vũ trang lên một bước, Hội nghị quyết định xây dựng 7 chiến khu chống Nhật
trong cả nước(18).
Thứ ba, xây dựng căn cứ địa
Cuối năm 1942,
khu căn cứ Cao-Bắc-Lạng được thành lập, nhưng còn tương đối biệt lập, chưa liên
thông, kết nối được với phong trào ở miền xuôi và vùng Tây Bắc. Đến đầu năm
1943, tại khu căn cứ địa Cao-Bắc-Lạng, các đoàn Nam tiến đã mở được đường thông
suốt liên lạc với khu căn cứ địa Bắc Sơn-Vũ Nhai và phong trào ở miền xuôi. Vì
thế, cuộc vận động cứu quốc đã được đẩy lên một bước phát triển mới. Các “tổng
hoàn toàn” và “châu hoàn toàn” ngày càng nhiều hơn.
Ngày 04-6-1945, khu căn cứ cách mạng được Tổng bộ Việt
Minh chính thức thành lập gồm các tỉnh: Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Tuyên
Quang, Thái Nguyên, Hà Giang và một số vùng lân cận thuộc Bắc Giang, Phú Thọ,
Yên Bái, Vĩnh Yên. Khu Giải phóng ra đời lấy Tân Trào (Sơn Dương, Tuyên Quang) làm
Thủ đô, ra tờ báo Nước Nam Mới và tờ Quân Giải Phóng, thành lập trường Quân
chính kháng Nhật.
3.
Chớp thời cơ tổng khởi nghĩa của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh
Ngày 9-3-1945 quân Nhật nổ súng tấn công Pháp, đã đẩy cuộc
khủng hoảng chính trị lên tới đỉnh điểm. Chính quyền cơ sở của thực dân Pháp và
tay sai vốn đã lung lay tận gốc sau cuộc đảo chính lại càng nhanh chóng suy yếu.
Đầu tháng 8-1945, chiến tranh thế giới đang đi đến hồi kết. Nhằm đè bẹp ý chí
kháng cự yếu ớt của Nhật, ngày 6-8-1945 đế quốc Mỹ đã ném 2 quả bom nguyên tử
huỷ diệt hai thành phố: Hiroshima và Nagazaki. Cùng thời gian này, ngày
8-8-1945 Liên Xô cũng tuyên chiến với Nhật; ngày 9-8-1945 hơn 1,7 triệu Hồng
quân Liên Xô đồng loạt tấn công vào đội quân Quan Đông đang chiếm giữ vùng Đông
Bắc Trung Quốc và bán đảo Triều Tiên. Trong gần hai tuần tấn công trên nhiều mặt
trận, đế chế Nhật Bản bị sụp đổ hoàn toàn. Ngày 15-8, Nhật hoàng Hirohito chính
thức tuyên bố đầu hàng hoàn toàn, vô điều kiện và ra lệnh cho quân đội Nhật ở tất
cả các chiến trường hạ vũ khí.
Ở Tân Trào (huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang), sau khi
phân tích tình hình trong nước và thế giới, lãnh tụ Hồ Chí Minh nhận định “Lúc
này, thời cơ thuận lợi đã tới, dù phải hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy
Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”(19).
Đêm ngày 11-8-1945, Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh ở
Tân Trào đã nhận được tin Tokyo chấp nhận đầu hàng. Ngày 13-8, tin tức về việc
Nhật đầu hàng được khẳng định. Cũng trong ngày 13-8, Hội nghị toàn quốc của Đảng
Cộng sản Đông Dương khai mạc và nhận định: Những điều kiện khởi nghĩa ở Đông
Dương đã chín muồi…Quân lính Nhật tan rã mất tinh thần, hàng ngũ chỉ huy Nhật
hoảng sợ, toàn dân tộc đang háo hức chờ giờ khởi nghĩa giành độc lập. Ngay
trong đêm 13-8, Uỷ ban Khởi nghĩa toàn quốc đã phát đi bản Quân lệnh số 1, ra lệnh tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên phạm
vi cả nước: “Giờ tổng khởi nghĩa đã đánh! Cơ hội có một cho quân dân Việt Nam
vùng dậy giành lấy quyền độc lập của nước nhà! (...) Chúng ta phải hành động
cho nhanh, với một tinh thần vô cùng quả cảm, vô cùng thận trọng…Cuộc thắng lợi
hoàn toàn nhất định sẽ về ta”(20). Đồng thời, Hội nghị chỉ rõ: Tình thế vô cùng
khẩn cấp. Tất cả mọi việc đều phải nhằm vào ba nguyên tắc: tập trung lực lượng
vào những việc chính, thống nhất về mọi phương diện quân sự, chính trị, hành động
và chỉ huy, và kịp thời hành động, không bỏ lỡ cơ hội. Ba khẩu chính dẫn đường
cho cuộc tổng khởi nghĩa là: “Phản đối xâm lược!; Hoàn toàn độc lập! và Chính
quyền nhân dân!”(21). Cùng với đó là phương châm khởi nghĩa giành chính quyền ở
các địa phương: tuỳ theo từng điều kiện cụ thể, “đánh chiếm những nơi chắc thắng,
không kể thành phố hay thôn quê”, đồng thời phải thành lập ngay chính quyền
cách mạng, thực hiện “10 chính sách Việt Minh”.
Trong bối cảnh hàng triệu nông dân ở đồng bằng Bắc Kỳ và
Bắc Trung Kỳ đang bị nạn đói đẩy vào bước đường cùng, Ban Thường vụ Trung ương
Đảng ra chỉ thị với khẩu hiệu “Phá kho thóc Nhật giải quyết nạn đói!”. Dưới sự
lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh và cán bộ Đảng cơ sở, nông dân rầm rộ kéo đi biểu
tình, phá kho thóc của Nhật và tay sai chia cho dân nghèo, sau đó đã phát triển
thành một phong trào mạnh mẽ ở khắp các tỉnh đồng bằng Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ. Trước
sức mạnh của phong trào này đã góp phần làm cho chính quyền Nhật và tay nhanh
chóng bị tan rã. Nhiều chánh tổng, tri huyện, tri phủ ở các địa phương nhượng bộ
và giao nộp các kho thóc cho Việt Minh. Dưới sự lãnh đạo của mặt trận Việt
Minh, phong trào phá kho thóc, giải quyết nạn đói cho dân nghèo đã thực sự dần biến
thành phong trào khởi nghĩa từng phần ở nhiều tỉnh Thái Bình, Nam Định, Hà Nội,
Bắc Ninh, Hưng Yên, Ninh Bình, Thanh Hoá…
Chiều ngày 16-8-1945, tại đình Tân Trào, Chủ tịch Hồ Chí
Minh và Tổng bộ Việt Minh đã khai mạc Việt Nam Quốc dân đại hội đại biểu (nay gọi
là Quốc dân đại hội Tân Trào). Tham dự đại hội có 60 đại biểu đại diện cho cả 3
miền Bắc-Trung-Nam, đại diện cho các ngành, các giới, các dân tộc, các đảng
phái chính trị, các đoàn thể cứu quốc và một số Việt kiều ở Thái Lan và Lào, để
bàn kế hoạch Tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Đại hội đã nghe
các báo cáo của Tổng bí thư Trường Chinh về chủ trương tổng khởi nghĩa và bầu Ủy
ban Dân tộc Giải phóng; đồng chí Hoàng Quốc Việt báo cáo về phong trào công
nhân; đồng chí Trần Đức Thịnh báo cáo về nông dân; đồng chí Nguyễn Đình Thi báo
cáo về văn hóa và đồng chí Hoàng Đạo Thúy báo cáo về thanh niên và Hướng đạo
sinh. Đại hội nhất trí tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền trước khi
quân Đồng minh nhảy vào Đông Dương.
Thực hiện nghị quyết Tổng khởi nghĩa giành chính quyền của
Quốc dân Đại hội và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Uỷ ban Giải phóng dân tộc Việt Nam đã
gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước đứng lên khởi nghĩa: “Hỡi quốc dân đồng bào! Ngày
vĩ đại và quyết liệt của dân tộc đã đến. Chúng ta hãy vùng dậy tuốt gươm lắp
súng để định đoạt lấy số phận của mình. Chúng ta quyết thắng và sẽ thắng! Tước
khí giới của giặc Nhật! Chính quyền nhân dân muôn năm! Việt Nam hoàn toàn độc lập!”(22).
Trong giờ phút quyết liệt đó, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã gửi
thư kêu gọi đồng bào cả nước vùng lên khởi nghĩa: “Giờ quyết định cho vận mệnh
dân tộc ta đã dến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng
cho ta… Chúng ta không thể chậm trễ. Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh,
đồng bào hãy dũng cảm tiến lên”(23).
Hưởng ứng Lời kêu gọi của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, hơn
20 triệu nhân dân nhất tề nổi dậy với ý chí dù có hy sinh đến đâu, cũng phải
giành cho được chính quyền trong toàn quốc. Trong vòng 15 ngày, Tổng khởi nghĩa
trong Cách mạng tháng Tám đã giành được thắng lợi trọn vẹn, mở đầu kỷ nguyên mới
trong lịch sử dân tộc, kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đem lại
“một cuộc đổi đời chưa từng có đối với mỗi người Việt Nam”(24).
4.Những
bài học kinh nghiệm sâu sắc
Đánh giá về thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, đồng
chí Trường Chinh đã khẳng định: “Cách mạng tháng Tám thắng lợi, một phần lớn là
nhờ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Đông Dương, nhờ công tác tổ chức và
chuẩn bị của Đảng và của Mặt trận Việt Minh trước khi khởi nghĩa”(25). Đặc biệt
là tinh thần yêu nước và đoàn kết, nhân dân ta đồng lòng quyết tâm đánh đuổi kẻ
thù xâm lược, giành độc lập dân tộc.
Các Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 6, 7, đặc biệt lần
thứ 8 và Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên phân tích tình hình chính trị thế giới,
trong nước để vừa giữ vững nguyên tắc, vừa linh hoạt nhạy bén trước tình thế,
đưa ra những dự báo, dự kiến và kịp thời chuyển hướng chiến lược, sách lược cũng
như xác định quyết sách về thời cơ tổng khởi nghĩa. Bên cạnh đó, Đảng ta quyết
định thành lập Mặt trận Việt Minh, đổi mới hoàn toàn phương châm vận động quần
chúng, cũng như chủ động xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang
ngày càng tinh nhuệ, chính quy để phát huy cao độ tính năng động, sáng tạo và đạt
hiệu quả cao. Đồng thời, Đảng cũng nhanh chóng, dự đoán thời cơ, nhận định
chính xác thời cơ và kịp thời chớp lấy thời cơ thuận lợi khi phát xít Nhật đầu
hàng để phát động toàn toàn dân nổi dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền
“nhanh, gọn, ít đổ máu”.
Cách mạng tháng Tám năm 1945 để lại những bài học kinh
nghiệm sâu sắc về phương pháp cách mạng: chủ động xây dựng lực lượng chính trị,
lực lượng vũ trang; đi từ khởi nghĩa từng phần và chiến tranh du kích ở nông
thôn, miền núi, tiến lên chớp thời cơ tổng khởi nghĩa giành độc lập dân tộc và
thiết lập chính quyền cách mạng.
Những bài học kinh nghiệm sâu sắc về việc chủ động chuẩn
bị lực lượng, dự báo thời cơ và lãnh đạo chớp thời cơ đã góp phần làm nên thắng
lợi của quân và dân Việt Nam trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và
đế quốc Mỹ xâm lược và hai cuộc chiến tranh vệ quốc ở biên giới Tây Nam và biên
giới phía Bắc sau đó.
Từ khi đổi mới (năm 1986), đất nước ta đã đạt được nhiều
thành tựu to lớn, có ý nghĩa nhiều mặt: đổi mới đất nước, bảo vệ chủ quyền biên
giới, biển và hải đảo của Tổ quốc; khắc phục khủng hoảng, chính trị ổn định, đời
sống nhân dân có nhiều bước cải thiện rõ rệt; đại đoàn kết toàn dân được củng cố,
quốc phòng, an ninh vững chắc, đối ngoại mở rộng; đảm bảo môi trường hòa bình,
thuận lợi cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế…
80 năm qua, mỗi thành tựu của Việt Nam
trong công cuộc đổi mới đều có sự kế thừa và phát triển những bài học kinh nghiệm
quý báu được đúc kết qua các thời kỳ cách mạng, trong đó, bài học kinh nghiệm về
chủ động chuẩn bị lực lượng, nắm bắt và chớp thời cơ của Cách mạng Tháng Tám
năm 1945 luôn luôn có giá trị lâu bền và tính thời sự sâu sắc đối với công cuộc
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.
Trong bối cảnh hiện nay, những bài học
kinh nghiệm sâu sắc từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là cơ sở quan trọng để Đảng
ta tiếp tục vận dụng, phát huy và phát triển sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo, hoàn thành được mục tiêu năm 2030: nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình
cao; năm 2045: trở thành nước phát triển, thu nhập cao./.
Tài liệu tham khảo:
(1), (2) Văn
kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, t. 6, tr. 536,
536
(3), (4), (5),
(6), (7) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000,
t. 7, tr. 58, 112, 113, 119, 470
(8) Võ Nguyên
Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001,
tr. 55
(9), (10),
(11), (12), (13), (14) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 7, tr.
206, 310, 340, 407, 133, 133
(15) (16) Viện
Lịch sử Đảng: Lịch sử Cách mạng Tháng Tám 1945, Nxb. Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 1995, tr. 37, 83.
(17) Văn
kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 356-357
(18) 7 chiến
khu đều mang tên các vị anh hùng dân tộc, gồm các chiến khu: Lê Lợi, Quang
Trung, Hoàng Hoa Thám, Trần Hưng Đạo ở Bắc Kỳ; các chiến khu: Trưng Trắc, Phan
Đình Phùng ở Trung Kỳ; Chiến khu Nguyễn Tri Phương ở Nam Kỳ (tuy nhiên, Chiến
khu Nguyễn Tri Phương không thể xây dựng được ở Nam Kỳ). Xem: Đinh Xuân Lâm
(chủ biên), Nguyễn Văn Khánh, Phạm Hồng Tung, Phạm Xanh: Lịch sử Việt Nam,
Nxb. Giáo dục Việt Nam, 2012, t. III, tr.779
(19) Võ Nguyên
Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001,
tr. 197
(20), (21),
(22), (23) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 421-422, 425,
562-563, 418
(24) Lê Duẩn: Tiến
lên dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1980, tr. 13
(25) Trường
Chinh: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam, Nxb. Sự thật, Hà
Nội, 1975, tr. 367
Avatar:
Tư liệu/TTXVN.