image banner

Sự thay đổi cán cân lực lượng và phản ứng của chính trường Mỹ với Cuộc tiến công chiến lược năm 1972

1. Mở đầu

Bước vào năm cuối cùng của nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên, những cam kết về việc đưa nước Mỹ ra khỏi cuộc chiến tranh Việt Nam, điều đã giúp Tổng thống Nixon thắng cử, vẫn còn là một vấn đề mơ hồ. Chi phí cho cuộc chiến tranh ngày càng leo thang mà không đem về một chiến thắng quyết định nào. Thêm vào đó, thế giằng co kéo dài trên bàn đàm phán đã khiến cho nước Mỹ mệt mỏi và dần mất kiên nhẫn đối với các hứa hẹn của Tổng thống Nixon. Đầu năm 1972, Nhà Trắng tiếp tục nhận những tin không vui từ chiến trường đưa về khi quân đội Mỹ và đồng minh phải ứng phó lại với cuộc tiến công chiến lược năm 1972 của lực lượng cách mạng Việt Nam. Có thể nói, cuộc tiến công chiến lược 1972 không chỉ đem về chiến thắng to lớn về mặt quân sự, tạo chuyển biến căn bản cục diện chiến tranh cho lực lượng cách mạng Việt Nam, mà  còn góp phần phân hoá sâu sắc hơn chính trường nước Mỹ.

2. Cuộc tiến công chiến lược năm 1972 và sự thay đổi cán cân lực lượng

Cuộc tiến công chiến lược năm 1972 như cách gọi của Quân đội nhân dân Việt Nam hay được biết đến rộng rãi trong giới quân sự và học giả quốc tế với khái niệm “Easter Offensive” là một trong những dấu mốc quan trọng, đánh dấu bước phát triển quyết định của lực lượng cách mạng Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975).

Những chuyển biến nhanh chóng và có lợi cho quân đội cách mạng trên chiến trường trong năm 1971 đã đẩy mạnh quyết tâm của Quân ủy Trung ương trong việc sớm giành thắng lợi quyết định. Nghị quyết của Quân ủy Trung ương tháng 06/1971 nhấn mạnh: “Tình hình đang chuyển biến mau lẹ, đòi hỏi ta phải có sự cố gắng cao nhất, tranh thủ thời gian, khắc phục khó khăn, nhược điểm để xây dựng thế và lực của ta trên chiến trường lên nhanh hơn nữa, kịp thời nắm lấy thời cơ, hành động bất ngờ, giành lấy thắng lợi cao nhất, buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh, rút hết quân, đánh cho ngụy quân, ngụy quyền tan rã, sụp đổ một bước quan trọng”[1].

Đầu năm 1972, tình hình quốc tế diễn biến phức tạp, đặc biệt là sau chuyến công du của Tổng thống Nixon tại Thượng Hải dẫn đến các thay đổi về chiến lược ngoại giao của Nhà Trắng đối với các nước Liên Xô và Trung Quốc. Trong bối cảnh đó, Bộ Chính trị càng quyết tâm hơn về việc thực hiện một cuộc tiến công chiến lược nhằm đánh bại cơ bản chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”.

Sau 9 tháng chuẩn bị (từ tháng 6/1971 đến tháng 3/1972), miền Bắc đã tăng cường một khối lượng lớn trang bị kỹ thuật bao gồm cả xe tăng và pháo cơ giới, đặc biệt là tăng viện 5,5 vạn cán bộ vào chiến trường miền Nam. Đầu tháng 3/1972, Thường vụ Quân ủy Trung ương căn cứ vào chủ trương chiến lược của Bộ Chính trị và thực tế chiến trường đã quyết định tiến hành một cuộc tiến công chiến lược trong năm 1972 trên toàn miền Nam. Hướng tiến công chủ yếu là chiến trường Trị - Thiên, các chiến trường Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Khu V là hướng phối hợp để đem về thắng lợi cho toàn chiến dịch.

Trên mặt trận Trị - Thiên, lực lượng cách mạng xác định rõ mục tiêu phối hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, đánh bại kế hoạch “bình định” của địch, giải phóng phần lớn địa bàn Trị - Thiên, khi có điều kiện thì giải phóng toàn bộ hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, giành thắng lợi cho cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Sau 3 tháng chiến đấu (từ ngày 30/3/1972 đến ngày 27/06/1972), mặc dù có sự yểm trợ của không quân và lực lượng thủy quân lục chiến của Mỹ, quân đội Việt Nam Cộng hoà vẫn phải chịu những tổn thất nặng nề về người và vũ khí, trong đó 27.000 quân bị chết và bị thương, 340 máy bay bị phá hủy, hàng nghìn súng bộ binh và khẩu pháo bị tịch thu. Đến ngày 02/5/1972, toàn bộ tỉnh Quảng Trị và 3 xã thuộc huyện Hướng Điền (tỉnh Thừa Thiên) được giải phóng[2].

Mặt trận Tây Nguyên giữ vai trò là hướng phối hợp nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch và phương tiện chiến tranh quan trọng, giải phóng tỉnh Kon Tum, bảo vệ tuyến đường vận chuyển chiến lược, kìm giữ một bộ phận quân chủ lực Việt Nam Cộng hoà tạo điều kiện cho các tỉnh đồng bằng đẩy mạnh đánh phá “bình định”. Chỉ sau hơn 2 tháng (từ ngày 30/3/1972 đến ngày 5/6/1972), lực lượng cách mạng đã thu được kết quả đáng kể, loại khỏi vòng chiến đấu 3.800 tên, bắt giữ 3.604 tên, bắn cháy 849 xe quân sự và bắn rơi hàng trăm máy bay các loại, đồng thời còn giải phóng một vùng đất đai rộng lớn với hàng vạn đồng bào[3].

Trên mặt trận Đông Nam Bộ, Trung ương Cục, Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền mở chiến dịch tiến công mang mật danh Nguyễn Huệ nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch trên hướng bắc Sài Gòn, giải phóng khu vực Bình Long, Phước Long và một số vùng đệm ở Tây Ninh và Bình Dương, tạo thế đứng chân đưa chủ lực Miền từ ngoài biên giới về Nam Bộ, phối hợp với các hướng tiến công chiến lược khác, thu hút và kìm chân quân chủ lực Sài Gòn, tạo điều kiện cho nhân dân đồng bằng sông Cửu Long nổi dậy đánh phá “bình định”. Chiến dịch Nguyễn Huệ được diễn ra từ ngày 01/4/1972 đến ngày 19/01/1973. Đây được xem là chiến dịch tiến công hợp đồng binh chủng có quy mô lớn nhất ở chiến trường Nam Bộ cho đến thời điểm đầu năm 1973. Mặt trận Đông Nam Bộ cũng thu được những kết quả to lớn, đánh thiệt hại nặng 16 tiểu đoàn chủ lực, 3 trung đoàn thiết giáp, 30 đại đội pháo và nhiều đơn vị quân địa phương của địch; bắt hơn 5.000 tù binh, phá hỏng 897 máy bay các loại, 1.000 xe quân sự, 250 khẩu pháo, 200 tàu xuồng chiến đấu cùng một số lượng lớn các vũ khí, đạn dược, nhiên liệu[4].

Những thắng lợi liên tiếp của quân đội cách mạng trên khắp các mặt trận đã làm thay đổi cán cân lực lượng theo hướng có lợi cho ta. Chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” của Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hoà đứng trước nguy cơ hoàn toàn phá sản. Trong thời điểm quyết định, khi cả hai bên đều tìm kiếm một thắng lợi quân sự nhằm tạo lợi thế đàm phán trên bàn hội nghị, thì những thiệt hại mà quân đội Việt Nam Cộng hoà và Mỹ phải đối diện trong cuộc tiến công chiến lược này rõ ràng là một tín hiệu xấu. Những hy vọng của Mỹ vào khả năng chiến đấu của quân đội Việt Nam Cộng hoà gần như bị sụp đổ.

Đánh giá về năng lực của các lực lượng trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972, Grabriel Kolko đã thẳng thắn nhận định: “Hoàn toàn rõ ràng là Quân đội nhân dân Việt Nam đã đi được một chặng đường dài, đã học được nhiều, tuy chưa đủ, trong khi quân đội Việt Nam Cộng hoà không có tiến bộ nào. Hoạt động của họ ở Lào năm 1971 và cách đối phó còn tồi hơn năm 1972 là những triệu chứng của một căn bệnh trầm kha của họ”[5].

3. Sự phân hoá trong chính trường Mỹ

Một trong những nguyên nhân dẫn tới thiệt hại lớn của quân đội Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hoà trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972, như nhiều nhà nghiên cứu phân tích, là do Mỹ tuy biết được thông tin về cuộc tiến công nhưng không đoán được thời điểm, quy mô và địa điểm của cuộc tiến công. Hay như một đánh giá của W.R. Baker, cuộc tiến công chiến lược năm 1972 là một thất bại trong việc sử dụng tình báo của lực lượng Mỹ và đồng minh[6]. Ngay từ khi cuộc tiến công bắt đầu, chính giới Mỹ đã thể hiện những khác biệt sâu sắc khi nhận định về chiến lược này. Trong khi Nhà Trắng cho rằng “cuộc tiến công sẽ không đảo lộn được chiến lược cơ bản là áp dụng sức ép ngoại giao, Việt Nam hoá, và đe doạ leo thang”, thì tướng Creighton Abrams đã hiểu chính xác về mục tiêu của cuộc tiến công là thí nghiệm cơ bản để đo lường sự thành công hay thất bại của chiến lược Việt Nam hoá[7].

Phân tích về ảnh hưởng của cuộc tiến công chiến lược năm 1972, nhà nghiên cứu Gabriel Kolko đã chỉ ra, “cuộc tiến công của Quân đội nhân dân Việt Nam đã dấy lên tại Nhà Trắng vấn đề cơ bản của lòng tin đối với cả chính sách ngoại giao hoà dịu lẫn sức mạnh toàn cầu của Mỹ”[8]. Thực chất, vấn đề này không mới và nó đã bắt đầu nhen lên ngay từ khi Mỹ can thiệp vào miền Nam Việt Nam và đặc biệt tăng cao khi quân đội Mỹ tham chiến trực tiếp trên chiến trường. Cựu quân nhân Mỹ Karl Marlantes khi viết bài trên New York Times đã khẳng định cuộc chiến tranh Việt Nam đã “giết chết” niềm tin của người Mỹ giành cho chính phủ của họ[9].

Thực tế, không phải không có “những cái đầu tỉnh táo” trong chính giới Mỹ trong những năm 1960-1970. Kết cục xấu cho nước Mỹ khi ngày càng can thiệp sâu vào cuộc chiến tranh Việt Nam đã được nhìn ra và dự báo sớm bởi George Ball, Thứ trưởng Ngoại giao trong chính quyền của Tổng thống Lyndon B. Johnson. Trong văn thư gửi Tổng thống Johnson ngày 01/7/1965, ông Ball viết: “… Không ai có thể bảo đảm với Tổng thống rằng chúng ta có thể đánh bại được Việt Cộng hay ngay cả buộc họ đến bàn hội nghị theo điều kiện của chúng ta, cho dù chúng ta có dàn ra cả trăm ngàn quân da trắng, ngoại quốc”[10].

Tuy nhiên, khát vọng về một cuộc “rút lui trong danh dự” đã làm cho ông chủ tiếp theo của Nhà Trắng, Richard Nixon, quên đi các cố vấn và kinh nghiệm trong chính quyền tiền nhiệm của mình. Leo thang chiến tranh vẫn là chiến thuật mà Tổng thống Nixon theo đuổi trong suốt cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Số tàu hải quân đậu ngoài khơi Việt Nam vào cuối tháng 5/1972 đã đạt đỉnh cao nhất trong suốt cuộc chiến và số máy bay B.52 cũng được tăng gấp đôi trong vòng hai tháng.

Trái với Madman Nixon, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, Melvin Laird, tỏ ra thận trọng hơn trong các chiến lược quân sự. Ông phản đối xu hướng leo thang và tiếp tục tìm cách đưa quân đội Mỹ ra khỏi Việt Nam. Ngay khi đảm nhiệm trọng trách Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ thay cho tướng William Wesmoreland, đề xuất xin tăng quân trước đó của Westmoreland nhanh chóng bị ông loại bỏ. Chính sách cắt giảm quân Mỹ trên chiến trường được thực hiện ngay cả trong quá trình diễn ra cuộc tiến công chiến lược. Hơn 27.000 quân Mỹ đã được đưa ra khỏi Việt Nam trong tháng 4/1972[11].

Có quan điểm tương tự như Bộ trưởng Quốc phòng Melvin Laird, Ngoại trưởng Hoa Kỳ William Rogers cũng đánh giá một cách thận trọng về cuộc chiến của Mỹ ở miền Nam Việt Nam và năng lực của quân đội Việt Nam Cộng hoà. Trong cuộc điện đàm với Nhà Trắng ngày 05/4/1972, ông bày tỏ lo lắng về những biểu hiện trên chiến trường của quân đội Sài Gòn cũng như lo ngại về vấn đề sẽ có ngày càng nhiều hơn các tù binh quân sự Mỹ khi các máy bay bị bắn rơi. Tuy nhiên, trước chia sẻ đó, vị Tham mưu trưởng của Nhà Trắng, Harry Haldeman, người nhận cuộc gọi từ Rogers, ghi chú lại rằng: “đây rõ ràng là một suy nghĩ tiêu cực và gần như không cần thiết phải đặt ra”[12].

Trong khi đó, tướng Creighton Abrams, Tư lệnh các lực lượng viễn chinh Mỹ tại miền Nam Việt Nam (12/1968-11/1972), đã tỏ rõ những băn khoăn về khả năng và tinh thần chiến đấu của quân đội Sài Gòn trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Nhận xét về lực lượng này, mặc dù dành sự tin tưởng nhất định cho lực lượng chỉ huy quân sự Việt Nam Cộng hoà, nhưng ông cũng thể hiện rõ sự thất vọng với phần đông lực lượng quân đội Sài Gòn. Trong cuộc thảo luận với tướng Cao Văn Viên, ông nói: “Vũ khí trang bị không phải là cái các ông cần. Điều các ông cần là ý chí chiến đấu… Tôi không cho rằng các ông đã mất xe tăng do hoả lực của kẻ thù. Tất cả xe tăng đã mất trong thế kỷ 20 là bởi quân lính, dưới sự dẫn dắt của các chỉ huy, đã từ bỏ chúng. Hầu hết các pháo đã bị mất do quân lính từ bỏ và không chiến đấu”[13].

Những diễn biến nhanh chóng diễn ra trên chiến trường miền Nam trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972 với nhiều lý do khác nhau không được cập nhật một cách đầy đủ về Nhà Trắng. Đánh giá thực tế chiến trường vào tháng 5/1972, mặc dù tướng Abrams thừa nhận rằng: “Tóm tắt tình hình kể từ ngày 30/3/1972, tôi phải báo cáo rằng, khi áp lực gia tăng và trận chiến trở nên tàn khốc, giới lãnh đạo quân sự cao cấp bắt đầu trở nên lung lay, trong một số trường hợp, đã bị phá vỡ. Trong nghịch cảnh, họ đang đánh mất ý chí và không thể dựa vào việc dùng các phương tiện cần thiết để đứng vững và chiến đấu”[14]. Tuy nhiên, khi trả lời cho câu hỏi của Nhà Trắng “Liệu quân đội Việt Nam Cộng hoà có thể cầm cự được không?”, tướng Abrams đã từ chối gửi bản báo cáo tình hình dài 06 trang mà Thiếu tướng John Carley chuẩn bị, thay vào đó, chỉ gửi một câu trả lời ngắn gọn: “Với tôi, có vẻ công việc này sẽ được hoàn thành”[15].

Đáng tiếc, những đánh giá lạc quan của Abrams hay những người đồng quan điểm với ông tại Nhà Trắng đã không thành hiện thực. Kể cả những tham vọng cuồng nộ của chính quyền Nixon, muốn đưa miền Bắc Việt Nam về thời kỳ đồ đá bằng các cuộc ném bom rải thảm với chiến dịch Linebacker II (18/12/1972 - 29/12/1972), cũng không thể thay đổi được cục diện sa lầy của quân đội Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hoà tại miền Nam Việt Nam.

Có thể thấy, quan điểm của chính trường Mỹ về diễn tiến và tác động của cuộc tiến công chiến lược năm 1972 là rất khác nhau. Không chỉ phân hoá trong chính giới Mỹ, những khác biệt về quan điểm giữa “phe diều hâu” và những cái đầu thực tế đã làm cho khoảng cách giữa chính quyền và dư luận quần chúng ngày càng cách xa. Sự bi quan ngày càng sâu sắc với tình hình miền Nam Việt Nam là kết quả mà các nhà quân sự và các chuyên gia Mỹ đã chỉ ra khi phân tích về ảnh hưởng của cuộc tiến công chiến lược năm 1972 đối với Mỹ.

Dư luận Mỹ đã trở nên gay gắt hơn trước hành động leo thang và kéo dài chiến tranh tại Việt Nam của chính quyền Nixon. Theo kết quả điều tra của Viện Gallup, tỷ lệ những người cho rằng việc Mỹ tham chiến ở Việt Nam là một hành động sai lầm đã tăng cao. Nếu trong nhiệm kỳ của Tổng thống Johnson (1965-1968), con số này rơi vào khoảng 40%, thì dưới chính quyền Nixon, tỷ lệ này đã tăng lên đến 60%[16]. Những kết quả của cuộc tiến công chiến lược cũng tác động sâu sắc đến Quốc hội Mỹ, thể hiện rõ trong việc Quốc hội mạnh tay cắt giảm viện trợ cho Việt Nam Cộng hoà trong các năm tài khoá 1973-1974 và 1974-1975.

4. Kết luận

Thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược 1972 cùng với kết quả của Điện Biên Phủ trên không (12/1972) đã thay đổi hoàn toàn cục diện chiến trường, mang tới những lợi thế lớn cho lực lượng cách mạng Việt Nam trên bàn đàm phán tại Paris. Cuộc tiến công chiến lược này không những góp phần làm thất bại các dự định của Mỹ khi muốn dùng Liên Xô và Trung Quốc tạo sức ép đối với chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, mà nó còn làm sâu sắc hơn những chia rẽ trong chính giới Mỹ và hạ thấp chỉ số niềm tin của người dân nước Mỹ và những người yêu chuộng hoà bình trên thế giới đối với chính quyền Mỹ. Như Morris Dickstein đã viết: “Ở Việt Nam, chúng ta không chỉ thua một cuộc chiến tranh và mất đi một tiềm lục địa, chúng ta cũng còn mất đi lòng tự tin lan tràn khắp xã hội rằng, vũ khí và mục tiêu của Mỹ bằng cách nào đó nối kết với công lý và đạo đức, không chỉ với sự theo đuổi quyền lực. Mỹ đã thất bại về quân sự, nhưng ‘ý tưởng quốc gia’ của Mỹ, huyền thoại về nước Mỹ mà chúng ta ấp ủ, còn bị một cú làm cho tiêu tan hơn… Việt Nam đã tước đi mất một hình ảnh về quốc gia này mà chúng ta hết sức cần đến” [10].

 

Chú thích:

[1] Nghị quyết Quân ủyỷ Trung ương, tháng 06/1971. Trích theo Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2013). Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, 1954-1975, Tập VII: Thắng lợi quyết định năm 1972. Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia, tr.29.

[2] Viện Sử học (2003). Việt Nam những sự kiện lịch sử (1945-1975). Hà Nội: Nxb. Giáo dục, tr.447.

[3] Tlđd, tr.447-448.

[4] Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2013). Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, 1954-1975, Tập VII: Thắng lợi quyết định năm 1972. Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia, tr.118-119, 208.

[5] Gabriel Kolko (Nguyễn Tấn Cưu dịch) (2003). Giải phẫu một cuộc chiến tranh. Hà Nội: Nxb Quân đội nhân dân, tr.500.

[6] W.R. Baker (26/01/2016). “The Easter Offensive of 1972: A Failure to Use Intelligence”, truy cập tại https://smallwarsjournal.com/jrnl/art/the-easter-offensive-of-1972-a-failure-to-use-intelligence.

[7] Gabriel Kolko (Nguyễn Tấn Cưu dịch) (2003). Giải phẫu một cuộc chiến tranh. Hà Nội: Nxb Quân đội nhân dân tr.497.

[8] Tlđd, tr.501.

[9] Karl Marlantes (07/01/2017). “Vietnam: The War That Killed Trust”, The New York Times, truy cập tại https://www.nytimes.com/2017/01/07/opinion/sunday/vietnam-the-war-that-killed-trust.html.

[10] Memorandum for the President from George Ball (01/7/1965). “A Compromise Solution in South Vietnam,” truy cập tại https://www.mtholyoke.edu/acad/intrel/pentagon4/doc260.htm.

[11] Gabriel Kolko (Nguyễn Tấn Cưu dịch) (2003). Giải phẫu một cuộc chiến tranh. Hà Nội: Nxb. Quân đội nhân dân, tr.500.

[12] Jeffrey Kimball (1998). Nixon’s Vietnam War, University of Kansas, Kansas, tr.303.

[13] Lewis Sorley (1999). “Courage and Blood: South Vietnam’s Repulse of the 1972 Easter Invasion”, Parameters Summer, Vol.29, No.2: 38-56.

[14] Tlđd.

[15] Tlđd.

[16] Morris Dickstein (1977). Gates of Eden: American Culture in the Sixties, New York: Basic Books, tr. 271.

Avatar: https://special.nhandan.vn/cuoc-tien-cong-chien-luoc-nam-1972/index.html

TS. Trương Thùy Dung, Viện Sử học, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam
Tin nổi bật
  • Bộ sách gồm 10 tập, Viện Sử học dịch, Nxb KHXH xuất bản.
    23/04/2013
  • Đại Nam nhất thống chí đời Tự Đức là bộ sách địa lý học Việt Nam đầy đủ nhất dưới thời phong kiến. Đại Nam nhất thống chí theo bộ Đại Thanh nhất thống chí của Trung Quốc mà chia ra các mục như: phương vi, phân dã, kiến trí, duyên cách, phủ huyện, hình thế, khí hậu, phong tục, thành trì, học hiệu, hộ khẩu, điền phú, sơn xuyên, quan tấn, dịch trạm, thị lập, tứ miếu, tự quán, phân việt, thổ sản, v.v... Ngoài ra, Đại Nam nhất thống chí còn có quyển chép riêng về Cao Miên (Campuchia), Xiêm La, Miến Điện, Nam Chưởng, Vạn Tượng.
    22/04/2013
  • Trong tập sách này, các tác giả không chỉ trình bày các sự kiện về quân sự, chính trị mà còn nêu lên nhiều sự kiện khác thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại....
    27/09/2012
  • "Việt Nam những sự kiện lịch sử (Từ khởi thủy đến 1858)" là cuốn sách ghi lại các sự kiện lịch sử nước nhà từ khởi thủy đến khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược vào giữa thế kỷ XIX.
    27/09/2012
  • Đại Nam liệt truyện là một bộ sách có quy mô khá đồ sộ trong kho tàng thư tịch cổ viết bằng chữ Hán của Việt Nam, do cơ quan làm sử chính thức của nhà Nguyễn là Quốc sử quán biên soạn vào giữa thế kỷ XIX.
    24/09/2012
  • Lịch triều hiến chương loại chí là bộ bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam. Có nghĩa là Phép tắc các triều đại chép theo thể phân loại do Phan Huy Chú soạn trong 10 năm (1809-1819).
    23/09/2012
  • Là bộ sử có giá trị to lớn và quan trọng bậc nhất trong nền sử học Việt Nam thời kỳ cổ trung đại. Bộ chính sử do Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê biên soạn.
    22/09/2012
  • Cuốn sách Cổ luật Việt Nam gốm 2 bộ Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ. Quốc triều hình luật (còn gọi là bộ luật Hồng Đức) và Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là bộ luật Gia Long) là hai bộ cổ luật duy nhất còn lại cho đến nay của các triều đại phong kiến Việt Nam; là những di sản quý giá có giá trị tham khảo về nhiều mặt cho chúng ta ngày nay.
    19/09/2012
  • Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ là một bộ sách được biên soạn dưới triều Nguyễn theo thể loại Hội điển. Thể loại này được đặt ra nhằm ghi chép lại các điển pháp, quy chuẩn và các dữ kiện liên quan đến tổ chức và hoạt động của một triều đại, một Nhà nước.
    19/09/2012
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1