image banner

NGÀY TIÊU CHUẨN THẾ GIỚI 14/10: TỪ GIÁ TRỊ CỦA TIÊU CHUẨN QUỐC TẾ ĐẾN YÊU CẦU NÂNG CAO NHẬN THỨC, TRÁCH NHIỆM CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN
Ngày 14/10 hằng năm là Ngày Tiêu chuẩn thế giới (World Standards Day), dịp tôn vinh sự hợp tác của cộng đồng chuyên gia quốc tế trong xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn, đồng thời nâng cao nhận thức về vai trò của tiêu chuẩn đối với phát triển kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Ngày Tiêu chuẩn thế giới không chỉ mang ý nghĩa chuyên môn mà còn đặt ra yêu cầu thiết thực đối với các cơ quan, tổ chức và đội ngũ cán bộ, đảng viên, viên chức trong việc nâng cao chất lượng công tác, chuẩn hóa quy trình, bảo đảm tính khoa học, minh bạch và hiệu quả trong thực thi nhiệm vụ.

 

1. Sự ra đời của Ngày Tiêu chuẩn thế giới và ý nghĩa trong bối cảnh hiện nay

Ngày Tiêu chuẩn thế giới gắn liền với quá trình hợp tác quốc tế nhằm xây dựng những nguyên tắc, yêu cầu và phương pháp kỹ thuật thống nhất, tạo cơ sở cho các quốc gia, tổ chức và doanh nghiệp cùng phát triển. Ngày 14/10/1946, đại biểu của 25 quốc gia đã họp tại London (Vương quốc Anh) và thống nhất thành lập một tổ chức quốc tế mới về tiêu chuẩn hóa. Quá trình này dẫn tới sự ra đời của Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO) vào năm 1947. Đến năm 1970, Ngày Tiêu chuẩn thế giới được tổ chức lần đầu tiên vào ngày 14/10 nhằm ghi nhận những đóng góp của các chuyên gia và tổ chức trong hoạt động xây dựng tiêu chuẩn quốc tế[1].

Ngày Tiêu chuẩn thế giới hiện được hưởng ứng bởi ba tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế quan trọng: Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO), Ủy ban Kỹ thuật Điện quốc tế (IEC) và Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU). Mỗi tổ chức hoạt động trong những lĩnh vực chuyên môn khác nhau nhưng cùng hướng tới mục tiêu thúc đẩy hợp tác, xây dựng các tiêu chuẩn có khả năng áp dụng rộng rãi, hỗ trợ phát triển công nghệ, nâng cao an toàn và tạo thuận lợi cho giao lưu, hợp tác quốc tế[2].

Sự ra đời và phát triển của Ngày Tiêu chuẩn thế giới phản ánh một yêu cầu khách quan của tiến trình phát triển hiện đại: khi khoa học, công nghệ, sản xuất và trao đổi quốc tế ngày càng gắn kết, các quốc gia cần có những chuẩn mực chung để bảo đảm khả năng tương thích, chất lượng và độ tin cậy. Tiêu chuẩn giúp thống nhất cách hiểu, phương pháp đo lường, yêu cầu kỹ thuật và quy trình đánh giá; qua đó hạn chế sai lệch, giảm chi phí, nâng cao năng suất và tạo dựng niềm tin giữa các chủ thể tham gia hoạt động kinh tế - xã hội.

Trong điều kiện hiện nay, ý nghĩa của tiêu chuẩn không còn giới hạn ở lĩnh vực sản xuất công nghiệp hay kiểm soát chất lượng hàng hóa. Tiêu chuẩn ngày càng có vai trò quan trọng đối với công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, viễn thông, năng lượng, bảo vệ môi trường, quản trị tổ chức và phát triển bền vững. Việc sử dụng các chuẩn mực thống nhất góp phần bảo đảm các hệ thống công nghệ có thể kết nối, dữ liệu có thể trao đổi, sản phẩm và dịch vụ đáp ứng những yêu cầu cần thiết về an toàn, chất lượng và khả năng vận hành.

Từ năm 2021, ISO, IEC và ITU triển khai thông điệp dài hạn về “Tiêu chuẩn phục vụ các mục tiêu phát triển bền vững - Tầm nhìn chung cho một thế giới tốt đẹp hơn” (Standards for SDGs - Our shared vision for a better world), nhấn mạnh đóng góp của tiêu chuẩn trong thực hiện Chương trình nghị sự 2030 của Liên hợp quốc[3]. Năm 2026, chủ đề Ngày Tiêu chuẩn thế giới tập trung vào Mục tiêu phát triển bền vững số 7 (SDG 7): “Năng lượng sạch với giá thành hợp lý”, làm rõ vai trò của tiêu chuẩn trong bảo đảm hệ thống năng lượng an toàn, hiệu quả và có khả năng tích hợp với công nghệ số, công nghệ truyền thông hiện đại[4].

Chủ đề năm 2026 cho thấy tiêu chuẩn không phải là những quy định kỹ thuật khô cứng, tách rời đời sống, mà là công cụ thiết thực để chuyển các mục tiêu phát triển thành những giải pháp cụ thể. Từ năng lượng sạch, hạ tầng số đến các dịch vụ công và hoạt động quản trị, việc xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn phù hợp góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả sử dụng nguồn lực và thúc đẩy phát triển bền vững.

2. Việt Nam triển khai hoạt động tiêu chuẩn hóa

Đối với Việt Nam, tiêu chuẩn hóa là một bộ phận quan trọng của quá trình phát triển khoa học và công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ và tăng cường năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Cùng với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, hệ thống pháp luật, tổ chức quản lý và hoạt động xây dựng, áp dụng tiêu chuẩn của nước ta từng bước được hoàn thiện.

Một dấu mốc quan trọng là Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật số 68/2006/QH11 được Quốc hội thông qua ngày 29/6/2006. Luật quy định về xây dựng, công bố và áp dụng tiêu chuẩn; xây dựng, ban hành và áp dụng quy chuẩn kỹ thuật; đánh giá sự phù hợp với tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật[5]. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để tổ chức hoạt động tiêu chuẩn hóa theo hướng thống nhất, minh bạch, phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước và thông lệ quốc tế.

Tuy nhiên, cũng cần phân biệt rõ tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật. Theo Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn là những quy định về đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý được sử dụng làm căn cứ đánh giá đối tượng liên quan, về nguyên tắc được công bố để tự nguyện áp dụng. Trong khi đó, quy chuẩn kỹ thuật quy định những giới hạn về đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý mà các đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh phải tuân thủ. Tiêu chuẩn có thể trở thành bắt buộc khi được viện dẫn trong văn bản quy phạm pháp luật hoặc quy chuẩn kỹ thuật theo quy định[6]. Sự phân biệt này có ý nghĩa thiết thực trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Việc áp dụng tiêu chuẩn không thể chỉ dựa trên thói quen hoặc yêu cầu hình thức mà phải căn cứ vào tính chất công việc, phạm vi áp dụng và các quy định pháp luật có liên quan. Đồng thời, không được đồng nhất tiêu chuẩn với quy chuẩn kỹ thuật hoặc tùy tiện coi những yêu cầu bắt buộc là nội dung có thể lựa chọn thực hiện.

Trên cơ sở hệ thống pháp luật, Việt Nam từng bước mở rộng hoạt động xây dựng, công bố và áp dụng Tiêu chuẩn quốc gia (TCVN), Tiêu chuẩn cơ sở (TCCS), Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) và các quy chuẩn kỹ thuật thuộc phạm vi quản lý tương ứng. Hoạt động tiêu chuẩn hóa được triển khai trong nhiều lĩnh vực, gắn với yêu cầu quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa, đo lường, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, bảo đảm an toàn và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế[7].

Việc tham gia các tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế và tăng cường hài hòa tiêu chuẩn trong nước với tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực phù hợp với điều kiện Việt Nam cũng là hướng đi quan trọng. Quá trình này giúp tạo thuận lợi cho trao đổi công nghệ, nâng cao khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường, đồng thời tạo cơ sở để các cơ quan quản lý, tổ chức nghiên cứu và doanh nghiệp tiếp cận những phương pháp, yêu cầu kỹ thuật tiên tiến. Tuy nhiên, hội nhập tiêu chuẩn không đồng nghĩa với việc sao chép máy móc mọi quy định từ bên ngoài. Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật xác định việc xây dựng tiêu chuẩn phải dựa trên tiến bộ khoa học, công nghệ, kinh nghiệm thực tiễn, nhu cầu và xu hướng phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời xem xét sử dụng tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực và tiêu chuẩn nước ngoài làm cơ sở, trừ trường hợp không phù hợp với điều kiện Việt Nam hoặc ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia[8]. Đây là nguyên tắc cần được nhận thức đầy đủ để kết hợp hài hòa giữa chủ động hội nhập, tiếp thu thành tựu quốc tế và bảo đảm lợi ích chính đáng của đất nước.

Trong bối cảnh chuyển đổi số, yêu cầu tiêu chuẩn hóa càng trở nên cấp thiết. Dữ liệu, quy trình xử lý thông tin, hệ thống phần mềm, phương thức trao đổi và lưu trữ tài liệu cần được tổ chức theo những yêu cầu thống nhất, phù hợp với pháp luật và điều kiện thực tế. Nếu thiếu chuẩn hóa, việc kết nối dữ liệu có thể gặp khó khăn, thông tin dễ bị phân tán, trùng lặp hoặc sai lệch, làm giảm hiệu quả quản lý và khả năng khai thác nguồn lực số.

 Vì vậy, hưởng ứng Ngày Tiêu chuẩn thế giới cần được nhìn nhận như một hoạt động gắn với yêu cầu nâng cao chất lượng phát triển, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và hoàn thiện phương thức quản trị. Đối với các cơ quan nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, nội dung này còn có ý nghĩa trong chuẩn hóa quy trình nghiên cứu, quản lý tư liệu, số hóa tài liệu, xây dựng cơ sở dữ liệu, biên tập và phổ biến kết quả nghiên cứu, bảo đảm tính chính xác, khả năng truy xuất và giá trị sử dụng lâu dài của thông tin khoa học.

3. Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong xây dựng văn hóa tiêu chuẩn, chất lượng

Ngày Tiêu chuẩn thế giới không chỉ là dịp tuyên truyền về một lĩnh vực chuyên môn mà còn gợi mở yêu cầu nâng cao ý thức trách nhiệm, tác phong làm việc khoa học và tinh thần tuân thủ chuẩn mực của đội ngũ cán bộ, đảng viên, viên chức. Trong hoạt động công vụ, tiêu chuẩn hóa cần được hiểu rộng hơn việc áp dụng một quy định kỹ thuật cụ thể: đó còn là cách tiếp cận công việc dựa trên căn cứ, quy trình, yêu cầu chất lượng và khả năng kiểm tra, đánh giá kết quả.

Thứ nhất, nhận thức đúng vai trò của tiêu chuẩn đối với chất lượng và hiệu quả công việc: Mỗi cán bộ, đảng viên cần hiểu rằng tiêu chuẩn là một trong những công cụ hỗ trợ nâng cao chất lượng, tính thống nhất và khả năng kiểm soát công việc. Thực hiện đúng các quy định, quy trình và yêu cầu chuyên môn giúp hạn chế sai sót, nâng cao hiệu quả phối hợp, tiết kiệm thời gian và nguồn lực. Ngược lại, làm việc tùy tiện, thiếu căn cứ, không tuân thủ quy trình hoặc coi nhẹ chất lượng đầu ra có thể gây lãng phí, ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan và làm giảm hiệu quả thực thi nhiệm vụ. Nhận thức này cần được chuyển hóa thành hành động cụ thể trong từng vị trí công tác. Cán bộ quản lý phải chú trọng xây dựng và tổ chức thực hiện quy trình rõ ràng; cán bộ chuyên môn cần tuân thủ các yêu cầu nghiệp vụ và chịu trách nhiệm về sản phẩm được giao; cán bộ tham mưu phải bảo đảm thông tin, số liệu và căn cứ pháp lý chính xác, có thể kiểm chứng. Mỗi nhiệm vụ cần được thực hiện theo nguyên tắc rõ nội dung, rõ trách nhiệm, rõ tiến độ và rõ kết quả.

Thứ hai, đề cao tính khoa học, khách quan, chính xác và trách nhiệm giải trình: Tiêu chuẩn hóa gắn chặt với việc hình thành tác phong làm việc có căn cứ, có phương pháp và có khả năng kiểm chứng. Đối với cán bộ, đảng viên, điều đó đòi hỏi phải tôn trọng sự thật, sử dụng thông tin đáng tin cậy, kiểm tra nguồn dữ liệu và chịu trách nhiệm về nội dung tham mưu, báo cáo, công bố hoặc phổ biến. Trong hoạt động nghiên cứu khoa học, yêu cầu này càng có ý nghĩa quan trọng. Một kết quả nghiên cứu có giá trị không chỉ ở cách trình bày mà còn ở chất lượng tư liệu, phương pháp xử lý, tính logic của lập luận và khả năng kiểm chứng. Việc chuẩn hóa quy trình thu thập, phân loại, lưu trữ, trích dẫn và công bố tư liệu góp phần nâng cao độ tin cậy, khả năng kế thừa và giá trị sử dụng của kết quả nghiên cứu. Cán bộ, đảng viên cần tránh tư duy hình thức, chạy theo số lượng hoặc coi việc hoàn thành thủ tục là mục tiêu cuối cùng. Tuân thủ quy trình phải đi liền với chất lượng thực chất; áp dụng tiêu chuẩn phải gắn với hiệu quả và yêu cầu thực tiễn. Đây là cơ sở để xây dựng môi trường làm việc chuyên nghiệp, liêm chính, minh bạch và có trách nhiệm.

Thứ ba, gắn tiêu chuẩn hóa với chuyển đổi số và đổi mới phương thức làm việc: Chuyển đổi số không đơn thuần là đưa tài liệu giấy lên môi trường điện tử hoặc sử dụng phần mềm thay cho phương pháp thủ công. Về bản chất, chuyển đổi số đòi hỏi phải đổi mới quy trình, phương thức tổ chức công việc, quản lý dữ liệu và khai thác thông tin. Vì vậy, chuẩn hóa là một điều kiện quan trọng để các hoạt động số hóa có thể vận hành thống nhất, liên thông và phát huy hiệu quả. Đối với cán bộ, viên chức, yêu cầu đặt ra là nâng cao năng lực sử dụng công nghệ, tuân thủ quy trình quản lý dữ liệu, bảo đảm an toàn thông tin và chủ động thích ứng với phương thức làm việc mới. Các cơ quan, đơn vị cần quan tâm xây dựng quy trình nghiệp vụ phù hợp, thống nhất cách thức tạo lập, đặt tên, phân loại, lưu trữ và khai thác dữ liệu; đồng thời xác định rõ trách nhiệm cập nhật, kiểm tra và bảo quản thông tin. Đối với hoạt động nghiên cứu lịch sử, chẳng hạn, số hóa tư liệu chỉ thực sự có giá trị khi đi kèm thông tin mô tả đầy đủ, nguồn gốc rõ ràng, khả năng tra cứu và cơ chế kiểm soát chất lượng. Một cơ sở dữ liệu được xây dựng thiếu thống nhất hoặc không kiểm chứng thông tin có thể làm giảm độ tin cậy của sản phẩm nghiên cứu và gây khó khăn cho việc sử dụng lâu dài. Do đó, cán bộ nghiên cứu, biên tập viên và người quản lý dữ liệu cần nhận thức rõ mối quan hệ giữa chuẩn hóa, chuyển đổi số và bảo đảm chất lượng tri thức.

Thứ tư, chủ động học tập, cập nhật kiến thức và vận dụng tiêu chuẩn phù hợp với nhiệm vụ được giao: Trong điều kiện khoa học, công nghệ và yêu cầu quản lý liên tục thay đổi, cán bộ, đảng viên không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm sẵn có. Việc thường xuyên cập nhật quy định pháp luật, kiến thức chuyên môn, phương pháp làm việc và yêu cầu kỹ thuật mới là điều kiện để nâng cao năng lực thực thi nhiệm vụ. Các cơ quan, đơn vị cần tăng cường tuyên truyền, phổ biến kiến thức về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng và đổi mới sáng tạo; lồng ghép nội dung này trong sinh hoạt chuyên môn, tập huấn nghiệp vụ và đánh giá chất lượng công việc. Việc học tập cần hướng tới khả năng vận dụng thực tế, giúp cán bộ hiểu rõ quy định nào phải tuân thủ, tiêu chuẩn nào phù hợp và cách thức kiểm tra chất lượng kết quả thực hiện. Đồng thời, cần phát huy tinh thần chủ động đề xuất cải tiến quy trình, khắc phục những khâu còn bất cập và chia sẻ kinh nghiệm tốt trong cơ quan. Mỗi sáng kiến phải được xem xét trên cơ sở tính khả thi, hiệu quả và sự phù hợp với quy định hiện hành, tránh đổi mới hình thức hoặc áp dụng máy móc những mô hình không phù hợp với đặc điểm công việc.

Thứ năm, phát huy trách nhiệm nêu gương, xây dựng văn hóa chất lượng trong cơ quan, đơn vị: Văn hóa chất lượng không thể hình thành chỉ từ các văn bản hoặc khẩu hiệu tuyên truyền mà phải được xây dựng thông qua hành vi và trách nhiệm hằng ngày. Cán bộ lãnh đạo, quản lý cần nêu gương trong chấp hành quy trình, tôn trọng căn cứ khoa học, thực hiện công khai, minh bạch và đánh giá công việc dựa trên kết quả thực chất. Mỗi cán bộ, đảng viên cần chủ động khắc phục biểu hiện tùy tiện, thiếu trách nhiệm, ngại đổi mới hoặc làm việc theo kinh nghiệm chủ quan. Cùng với đó, cần xây dựng môi trường làm việc khuyến khích sáng kiến, tôn trọng ý kiến chuyên môn và coi trọng việc phát hiện, sửa chữa sai sót. Việc kiểm tra, đánh giá cần hướng đến cải tiến chất lượng, nâng cao hiệu quả hoạt động và tăng cường trách nhiệm giải trình, thay vì chỉ chú trọng hoàn thiện hồ sơ hình thức. Đối với các đơn vị nghiên cứu khoa học, xây dựng văn hóa chất lượng còn thể hiện ở việc tôn trọng đạo đức nghiên cứu, bảo đảm tính trung thực trong sử dụng tư liệu, minh bạch về nguồn trích dẫn, nghiêm túc trong phản biện và thẩm định sản phẩm khoa học. Đây là những yêu cầu có ý nghĩa trực tiếp đối với uy tín của cơ quan nghiên cứu và niềm tin của xã hội đối với tri thức khoa học.

4. Hưởng ứng Ngày Tiêu chuẩn thế giới năm 2026 bằng những hành động thiết thực

Thực hiện Công văn số 2659-CV/VHLKHXHVN ngày 9/10/2026 của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam về việc hưởng ứng kỷ niệm Ngày Tiêu chuẩn thế giới năm 2026, các đơn vị trực thuộc được đề nghị tổ chức thông tin, tuyên truyền, phổ biến nội dung về Ngày Tiêu chuẩn thế giới đến viên chức, người lao động; đồng thời chủ động lồng ghép nội dung về tiêu chuẩn, chất lượng, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững trong các hoạt động chuyên môn phù hợp[9]. Để việc hưởng ứng đạt hiệu quả thực chất, các cơ quan, đơn vị cần triển khai một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

 Một là, tăng cường tuyên truyền để cán bộ, đảng viên, viên chức hiểu đúng về ý nghĩa của Ngày Tiêu chuẩn thế giới, vai trò của tiêu chuẩn hóa và mối liên hệ giữa tiêu chuẩn, chất lượng, đổi mới sáng tạo với phát triển bền vững.

Hai là, rà soát các quy trình chuyên môn, quy trình quản lý và yêu cầu kỹ thuật đang áp dụng; kịp thời cập nhật những quy định mới, khắc phục các khâu thiếu thống nhất hoặc chưa phù hợp với thực tiễn.

Ba là, gắn tiêu chuẩn hóa với chuyển đổi số, nâng cao chất lượng dữ liệu, chuẩn hóa hồ sơ điện tử, tăng cường khả năng kết nối, tra cứu và khai thác thông tin; đồng thời bảo đảm tuân thủ các quy định về bảo mật, an toàn thông tin và quản lý tài liệu.

Bốn là, nâng cao chất lượng công tác tham mưu, nghiên cứu và quản lý; đề cao tính chính xác, minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Đối với sản phẩm khoa học, cần chú trọng chuẩn hóa phương pháp, tư liệu, trích dẫn và quy trình thẩm định để bảo đảm chất lượng, tính tin cậy và khả năng kế thừa.

Năm là, xây dựng môi trường làm việc khuyến khích học tập, sáng tạo và cải tiến liên tục. Mỗi cán bộ, viên chức cần coi việc tuân thủ chuẩn mực chuyên môn, nâng cao chất lượng sản phẩm và đổi mới phương thức làm việc là trách nhiệm thường xuyên, gắn trực tiếp với kết quả thực hiện nhiệm vụ.

Những hoạt động này cần được triển khai phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và điều kiện thực tế của từng đơn vị, tránh hình thức, dàn trải hoặc tách rời yêu cầu chuyên môn. Điều quan trọng nhất là chuyển nhận thức thành hành động, biến tinh thần hưởng ứng Ngày Tiêu chuẩn thế giới thành động lực cải tiến công việc và nâng cao chất lượng hoạt động của cơ quan, tổ chức.

* * *

Như vậy, Ngày Tiêu chuẩn thế giới 14/10 là dịp khẳng định giá trị của hợp tác quốc tế trong xây dựng và áp dụng các chuẩn mực chung, đồng thời nhấn mạnh vai trò của tiêu chuẩn đối với chất lượng, an toàn, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững. Đối với Việt Nam, việc tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực tiêu chuẩn hóa và tăng cường áp dụng các chuẩn mực phù hợp với điều kiện thực tiễn là yêu cầu quan trọng trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế.

Đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên, viên chức, hưởng ứng Ngày Tiêu chuẩn thế giới trước hết phải bắt đầu từ nhận thức đúng và trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ: làm việc có căn cứ, tuân thủ quy trình, tôn trọng sự thật, đề cao chất lượng và chủ động đổi mới. Trong môi trường số, yêu cầu ấy càng trở nên cấp thiết, bởi chất lượng quản trị và chất lượng tri thức phụ thuộc trực tiếp vào độ tin cậy của dữ liệu, tính thống nhất của quy trình và trách nhiệm của mỗi cá nhân.

Xây dựng văn hóa tiêu chuẩn, chất lượng vì thế không phải là công việc riêng của ngành tiêu chuẩn đo lường chất lượng, mà là trách nhiệm chung của các cơ quan, tổ chức và từng cán bộ trong hệ thống chính trị. Khi các chuẩn mực được nhận thức đúng, vận dụng phù hợp và thực hiện nghiêm túc, chúng sẽ trở thành nền tảng thiết thực để nâng cao hiệu quả công vụ, thúc đẩy chuyển đổi số, phát huy đổi mới sáng tạo và góp phần thực hiện mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của đất nước.

 
Chú thích:

[1] Xem thêm: https://www.iso.org/world-standards-day.html; https://www.worldstandardsday.org/home.html.

[2] ISO, IEC và ITU, World Standards Day - Standards for SDGs: Our shared vision for a better world. https://www.iso.org/world-standards-day.html, truy cập 10-10-2026.

[3] ISO, IEC và ITU, World Standards Day - Standards for SDGs: Our shared vision for a better world. https://www.iso.org/world-standards-day.html, truy cập 10-10-2026.

[4] World Standards Day 2026, Shared vision for a better world: Spotlight on SDG 7 - Affordable and Clean Energy. https://www.worldstandardsday.org/home.html; Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia, “Thông điệp Ngày Tiêu chuẩn thế giới 14/10/2026”, ngày 28/9/2026. https://tcvn.gov.vn/thong-diep-ngay-tieu-chuan-the-gioi-2026-nang-luong-sach-ket-noi-cong-dong/28/09/2026/, truy cập 10-10-2026.

[5] Quốc hội, Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật, số 68/2006/QH11, ngày 29/6/2006. https://chinhphu.vn/?docid=30035&pageid=27160, truy cập 12-10-2026.

[6] Quốc hội, Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật, số 68/2006/QH11, ngày 29/6/2006. https://chinhphu.vn/?docid=30035&pageid=27160, truy cập 12-10-2026.

[7] Bộ Khoa học và Công nghệ, “Các văn bản quản lý về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và quản lý chất lượng”, ngày 12/4/2024. https://mst.gov.vn/cac-van-ban-quan-ly-ve-tieu-chuan-quy-chuan-ky-thuat-19724041214432863.htm, truy cập 10-10-2026.

[8] Quốc hội, Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật, số 68/2006/QH11, ngày 29/6/2006. https://chinhphu.vn/?docid=30035&pageid=27160, truy cập 10-10-2026.

[9] Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Công văn số 2659-CV/VHLKHXHVN ngày 9/10/2026 về việc hưởng ứng kỷ niệm Ngày Tiêu chuẩn thế giới năm 2026.

TS. Ngô Hoàng Nam, Viện Sử học, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam
Tin nổi bật
  • Bộ sách gồm 10 tập, Viện Sử học dịch, Nxb KHXH xuất bản.
    23/04/2013
  • Đại Nam nhất thống chí đời Tự Đức là bộ sách địa lý học Việt Nam đầy đủ nhất dưới thời phong kiến. Đại Nam nhất thống chí theo bộ Đại Thanh nhất thống chí của Trung Quốc mà chia ra các mục như: phương vi, phân dã, kiến trí, duyên cách, phủ huyện, hình thế, khí hậu, phong tục, thành trì, học hiệu, hộ khẩu, điền phú, sơn xuyên, quan tấn, dịch trạm, thị lập, tứ miếu, tự quán, phân việt, thổ sản, v.v... Ngoài ra, Đại Nam nhất thống chí còn có quyển chép riêng về Cao Miên (Campuchia), Xiêm La, Miến Điện, Nam Chưởng, Vạn Tượng.
    22/04/2013
  • Trong tập sách này, các tác giả không chỉ trình bày các sự kiện về quân sự, chính trị mà còn nêu lên nhiều sự kiện khác thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại....
    27/09/2012
  • "Việt Nam những sự kiện lịch sử (Từ khởi thủy đến 1858)" là cuốn sách ghi lại các sự kiện lịch sử nước nhà từ khởi thủy đến khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược vào giữa thế kỷ XIX.
    27/09/2012
  • Đại Nam liệt truyện là một bộ sách có quy mô khá đồ sộ trong kho tàng thư tịch cổ viết bằng chữ Hán của Việt Nam, do cơ quan làm sử chính thức của nhà Nguyễn là Quốc sử quán biên soạn vào giữa thế kỷ XIX.
    24/09/2012
  • Lịch triều hiến chương loại chí là bộ bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam. Có nghĩa là Phép tắc các triều đại chép theo thể phân loại do Phan Huy Chú soạn trong 10 năm (1809-1819).
    23/09/2012
  • Là bộ sử có giá trị to lớn và quan trọng bậc nhất trong nền sử học Việt Nam thời kỳ cổ trung đại. Bộ chính sử do Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê biên soạn.
    22/09/2012
  • Cuốn sách Cổ luật Việt Nam gốm 2 bộ Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ. Quốc triều hình luật (còn gọi là bộ luật Hồng Đức) và Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là bộ luật Gia Long) là hai bộ cổ luật duy nhất còn lại cho đến nay của các triều đại phong kiến Việt Nam; là những di sản quý giá có giá trị tham khảo về nhiều mặt cho chúng ta ngày nay.
    19/09/2012
  • Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ là một bộ sách được biên soạn dưới triều Nguyễn theo thể loại Hội điển. Thể loại này được đặt ra nhằm ghi chép lại các điển pháp, quy chuẩn và các dữ kiện liên quan đến tổ chức và hoạt động của một triều đại, một Nhà nước.
    19/09/2012
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1