image banner

Chiến thắng Điện Biên Phủ - "mốc vàng" của cách mạng Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới
Ngày 7/5/1954, cuộc đại tấn công vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ - căn cứ quân sự mạnh nhất của Pháp với sự giúp đỡ của Mỹ tại Đông Dương đã kết thúc với sự toàn thắng của quân đội và nhân dân Việt Nam. Toàn bộ Bộ chỉ huy quân đội Pháp tại đây đã bị tiêu diệt và bị bắt sống. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã dẫn đến việc ký kết Hiệp định Giơnevơ chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương. Chiến thắng Điện Biên Phủ được coi là một trong những thắng lợi rực rỡ nhất trong lịch sử đấu tranh giành độc lập và giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam như Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa..., và chiến thắng Điện Biên Phủ được nhân dân Việt Nam tiếp nối bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước vào tháng 5 năm 1975. Tinh thần của chiến thắng Điện Biên Phủ của Việt Nam đã cổ vũ và mở ra thời kỳ mới của phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, mà nổi bật nhất là phong trào đấu tranh giành độc lập của các nước châu Phi, Mỹ-latin vào những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ XX.  

 

1. Chiến thắng Điện Biên Phủ - "Mốc bằng vàng" của lịch sử Việt Nam

1.1. Chiến thắng Điện Biên tạo ra một thế trận mới, dẫn đến việc ký kết Hiệp định Giơnevơ, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương

Từ giữa năm 1953, thế giới xuất hiện một số yếu tố mới tác động đến cuộc chiến tranh Đông Dương. Cuộc chiến tranh lạnh trên thế giới diễn ra quyết liệt giữa hai phe, hiệp định đình chiến ở Triều Tiên được ký kết, Pháp bị sa lầy trong cuộc chiến tranh Đông Dương, quân đội Việt Nam đang thắng lớn, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa sẵn sàng thương lượng để kết thúc chiến tranh trong hòa bình v.v...

Trước tình hình đó, ngày 25 tháng 1 năm 1954, Hội nghị tứ cường gồm Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp khai mạc tại Berlin (Đức) đã đi đến nhất trí triệu tập Hội nghị Giơnevơ để bản giải pháp hòa bình cho Triều Tiên và Đông Dương. Tuy vậy, hai tháng sau, hội nghị vẫn chưa được triệu tập.

Với âm mưu tiếp tục can thiệp duy trì sự có mặt của Pháp ở Đông Dương, Mỹ tăng cường viện trợ cho quân đội Pháp và cùng chính quyền thực dân đẩy mạnh hoạt động quân sự, thực hiện kế hoạch Navare hòng giành thắng lợi quyết định trên chiến trường. Trong khi đó, kế hoạch Navare của Pháp và Mỹ đang đứng trước nguy cơ phá sản do kế hoạch tấn công quân sự của Việt Nam trên khắp chiến trường Đông Dương.

Những yếu tố đó cộng với sức ép của lực lượng hòa bình và tiến bộ trên thế giới, ngày 26 tháng 4 năm 1954, Hội nghị Giơnevơ đã được triệu tập. Tuy vậy, Chính phủ Pháp, một mặt vẫn cố sức giành thắng lợi quân sự trên chiến trường, mặt khác chủ trương khai thác mọi khả năng của Hội nghị để tìm kiếm một giải pháp có lợi cho việc chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương.

Mặc dù Hội nghị Giơnevơ đã được triệu tập, song nội dung chính của Hội nghị vẫn chưa được đề cập. Các bên mất khá nhiều thời gian cho việc bàn cãi thành phần tham dự, và tất nhiên Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng như lực lượng kháng chiến của Lào và Campuchia không có trong thành phần của Hội nghị.

Khi Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương đang trong giai đoạn bàn cãi thành phần tham dự, thì ngày 7-5-1954, trận Điện Biên Phủ kết thúc với sự thắng lợi trọng vẹn của quân đội và nhân dân Việt Nam. Sáng ngày 8 tháng 5, tại Paris, Thủ tướng Laniel công bố sự thất thủ ở Điện Biên Phủ trước Quốc hội Pháp; và cũng chiều ngày 8 tháng 5, tại Washington, Tổng thống E.U Eisenhower triệu tập cuộc họp khẩn cấp của Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ để thông báo sự kiện Điện Biên Phủ.

Ngày 8-5-1954, một ngày sau khi Điện Biên Phủ thất thủ và khi nội các Pháp quyết định điều gấp hai tiểu đoàn bộ binh và một số máy bay sang tăng viện nhằm cứu nguy cho quân đội viễn chinh ở Đông Dương thì Hội nghị Quốc tế về Đông Dương bắt đầu khai mạc. Và với thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ, đại diện của Chính phủ Việt Nam được chính thức tham dự Hội nghị.

Tại Đông Dương, trên đà thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ, lực lượng vũ trang của Việt Nam triển khai mạnh mẽ các hoạt động quân sự, đẩy quân đội viễn chinh Pháp lún sâu và thế bị động và đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt. Trước thất bại liên tiếp tại chiến trường Đông Dương, trước sức ép của lực lượng tiến bộ và hòa bình và trước sự đấu tranh kiên quyết của Việt Nam cũng như các nước đồng minh, Chính phủ Pháp cùng các bên tại Hội nghị (trừ Mỹ) đã phải ký kết Hiệp nghị Giơnevơ, chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Đông Dương ngày 21 tháng 7 năm 1954.

Chiến thắng Điện Biên Phủ có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, quyết định thắng lợi đối với mặt trận ngoại giao. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã đẩy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương vào tình thế sẽ bị tiêu diệt, làm lung lay ý đồ tiếp tục chiếm đóng Việt Nam của thực dân Pháp. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã nâng cao địa vị của Việt Nam trên trường quốc tế và với những ý nghĩa to lớn đó, chiến thắng Lịch sử Điện Biên Phủ đã đưa đến việc các bên tham gia Hội nghị (trừ Mỹ) cùng ký kết Hiệp nghị Giơnevơ chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp ở Đông Dương. Với chiến thắng Điện Biên Phủ và việc ký kết Hiệp nghị Giơnevơ, miền Bắc Việt Nam đã được giải phóng. Ngày 10-10-1954, Chính phủ Việt Nam tiếp quản Thủ đô Hà Nội, và ngày 13-5-1955, lính viễn chinh Pháp cuối cùng rút khỏi Hải Phòng, miền Bắc hoàn toàn giải phóng. Từ đỉnh cao của thắng lợi này, Việt Nam bước vào một thời kỳ cách mạng mới.

1.2. Với chiến thắng Điện Biên Phủ và việc ký kết Hiệp định Gơnevơ, miền Bắc Việt Nam được giải phóng, tiến hành xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội, tạo nền tảng vững chắc tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Miền Bắc được giải phóng, Việt Nam có một căn cứ cách mạng rộng lớn và vững chắc chưa từng có kể từ khi Đảng Cộng sản ra đời và lãnh đạo sự nghiệp cách mạng. Miền Bắc giải phóng trở thành hậu phương vững chắc của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nơi đóng của cơ quan đầu não cách mạng, nơi xây dựng lực lượng quân sự cơ động chiến lược cho cả nước, nơi sản xuất ra của cải vật chất, nơi tiếp nhận sự chi viện quốc tế của các nước anh em và bầu bạn trên thế giới. Trên thực tế, miền Bắc xã hội chủ nghĩa đã trở thành thành trì kiên cố trong cuộc đụng đầu lịch sử giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc Mỹ, hậu phương vững chắc cả về tinh thần và vật chất cho cách mạng miền Nam.

Ngay từ Đại hội toàn quốc lần thứ III năm 1960, Đảng Lao động Việt Nam đã xác định: “Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc rõ ràng có tác dụng quyết định nhất đối với sự phát triển của tòan bộ cách mạng nước ta, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà của nhân dân ta". Và thực tế đến năm 1964, sau 10 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng đã khẳng định “miền Bắc đã trở thành căn cứ địa vững chắc cho cách mạng Việt Nam trong cả nước, với chế độ chính trị ưu việt, với lực lượng kinh tế và quốc phòng lớn mạnh” . Khi đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, miền Bắc vừa là căn cứ địa cách mạng của cả nước vừa là tiền tuyến trực tiếp chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của không quân và hải quân Mỹ. Miền Bắc còn là trung tâm lãnh đạo và chỉ huy của Đảng và Bộ Tổng tư lệnh, lãnh đạo toàn bộ cuộc cách mạng Việt Nam và điều hành, chỉ huy chiến tranh trên cả hai miền giành thắng lợi.

Giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc có nhiều khó khăn, nhưng xã hội luôn ổn định và có phần phát triển, ngay cả trong thời kỳ chiến tranh ác liệt. Hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa không chỉ làm yên tâm người lên đường đi chiến đấu, mà còn chi viện ngày càng lớn cho cách mạng miền Nam và những thành tựu cũng như đóng góp của miền Bắc đã củng cô lòng tin của nhân dân miền Nam vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến.

Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước sau khi thắng lợi, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định rằng : “Không thể nào có thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước nếu không có miền Bắc xã hội chủ nghĩa" . Miền Bắc đã dốc vào chiến tranh cứu nước và giữ nước toàn bộ sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa và đã làm tròn một cách xuất sắc nghĩa vụ căn cứ địa cách mạng của cả nước.

Chiến thắng Điện Biên Phủ - đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã khẳng định đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, và đường lối kháng chiến này tiếp tục được vận dụng và nâng cao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Anh-tin-bai
Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí trong Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp quyết định mở Chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 và Chiến dịch Điện Biên Phủ (xã Phú Đình, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên cuối năm 1953). Nguồn: https://hochiminh.vn/tu-tuong-dao-duc-ho-chi-minh/nghien-cuu-tu-tuong-dao-duc-ho-chi-minh/chu-tich-ho-chi-minh-voi-chien-dich-dien-bien-phu-10711

 

Đường lối kháng chiến của Đảng Cộng sản Việt Nam trong suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh, là đường lối phát huy lòng quả cảm, thông minh của một dân tộc nhỏ để đương đầu và giành thắng lợi trước cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc lớn và mạnh là thực dân Pháp.

Qua 9 năm kháng chiến cũng như qua chiến dịch Điện Biên Phủ hào hùng, Đảng, quân đội và nhân dân Việt Nam đã có kinh nghiệm tiến hành một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, chiến tranh cách mạng, chiến tranh nhân dân. Đó là kinh nghiệm của một dân tộc nhỏ, đánh thắng một đế quốc to, một thành công điển hình của nghệ thuật “lấy yếu thắng mạnh, “lấy ít địch nhiều”. Đó là kinh nghiệm lãnh đạo chiến tranh của Đảng, kinh nghiệm trực tiếp đánh giặc cứu nước của hàng triệu nhân dân, kinh nghiệm chỉ đạo đấu tranh, kinh nghiệm động viên, tổ chức lực lượng của các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể ở cả Trung ương và địa phương, kinh nghiệm tổ chức các trận đánh từ đánh du kích đến vận động chiến, phối hợp tác chiến của các cấp chỉ huy của quân đội nhân dân Việt Nam.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ khẳng định sức mạnh to lớn và vô bờ bến của nhân dân Việt Nam. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, có thể nói thực dân Pháp và can thiệp Mỹ hoàn toàn bất ngờ trước sức mạnh của quân đội và nhân dân Việt Nam, trước việc “Việt Minh” có đủ lương thực, đạn dược để chiến đấu liên tục trong suốt gần hai tháng trên địa bàn hiểm trở xa hậu cứ, trước việc xuất hiện của trọng pháo trên trận địa đỉnh núi. Từ thực tế lịch sử này, Đảng đã khẳng định chắc chắn rằng chiến tranh nhân dân Việt Nam là vô địch.

Anh-tin-bai
Bộ đội ta kéo pháo cao xạ vào chiến trường Điện Biên Phủ. Ảnh Tư liệu TTXVN phát hành. Nguồn: https://www.qdnd.vn/quoc-phong-an-ninh/chien-thang-dien-bien-phu-moc-son-lich-su/dien-bien-chien-dich/chien-thang-dien-bien-phu-gia-tri-lich-su-va-tam-voc-y-nghia-thoi-dai-771599

 

Ý nghĩa to lớn và những kinh nghiệm thực tế từ trong chiến thắng này sẽ trở thành vốn quý cho Đảng, quân đội và nhân dân Việt Nam trước khi bước vào cuộc chiến đấu mới với một đế quốc hùng mạnh nhất là đế quốc Mỹ.

1.3. Chiến thắng Điện Biên Phủ cũng như thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã khẳng định sự lớn mạnh vượt bậc của Quân đội nhân dân Việt Nam, để lại nhiều kinh nghiệm về xây dựng, hoàn chỉnh đường lối quân sự khi bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ

Khi tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Việt Nam tuy đã sớm xây dựng đường lối quân sự, song phải qua từng giai đoạn phát triển từ chiến thắng trong chiến dịch Việt Bắc Thu Đông 1947, chiến dịch Biên giới năm 1950, chiến dịch Hòa bình, Tây Bắc… đến giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến thì đường lối chiến tranh nhân dân của Việt Nam mới được hoàn chỉnh.

Đường lối quân sự của Việt Nam là đường lối “toàn dân đánh giặc” và “đánh giặc toàn diện”, phát triển chiến tranh du kích kết hợp với chiến tranh chính quy, phát huy sức mạnh của lực lượng vũ trang nhân dân, của cả ba thứ quân, kết hợp tác chiến với địch vận… Nhiều vấn đề cơ bản của đường lối chiến tranh nhân dân được rút ra từ kháng chiến chống Pháp đã được áp dụng ngay vào cuộc kháng chiến chống Mỹ như chiến tranh toàn dân, toàn diện; tấn công địch bằng cả hai lực lượng vũ trang và chính trị; kết hợp các hình thức đấu tranh: quân sự, chính trị và ngoại giao; đánh địch bằng cả ba mũi giáp công: chính trị, quân sự, binh vận; tiến công địch trên cả ba vùng chiến lược: rừng núi, nông thôn và đô thị, v.v…

Về chiến lược quân sự, trong cuộc chiến tranh chống Pháp, Quân đội Việt Nam đã từng bước trưởng thành từ chỉ đạo cuộc tấn công đồng loạt ở nhiều thành phố trên miền Bắc trong những ngày toàn quốc kháng chiến, chỉ đạo đánh bại cuộc tấn công chiến lược của địch lên Việt Bắc năm 1947, chỉ đạo chiến dịch Biên giới năm 1950 đến chỉ đạo tấn công chiến lược Đông Xuân 1953-1954, mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ.

Nhờ có kinh nghiệm cực kỳ phong phú đó, bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, Quân đội Việt Nam đã có nhiều thành công về chỉ đạo chiến lược trước đối phương mạnh hơn nhiều lần, đó là chỉ đạo cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, chỉ đạo cuộc tấn công chiến lược năm 1972, mà đặc biệt là chỉ đạo thắng lợi cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân 1975, với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Về nghệ thuật chiến dịch, trong kháng chiến chống Pháp, Quân đội Việt Nam đã tiến hành hơn 40 chiến dịch từ quy mô nhỏ 1-2 trung đoàn đến quy mô lớn 3-5 đại đoàn, trong đó có những chiến dịch điển hình như chiến dịch Biên Giới, chiến dịch Hòa Bình, chiến dịch Tây Bắc, nhất là chiến dịch Điện Biên Phủ. Từ những kinh nghiệm đó, Quân đội Việt Nam đã vận dụng, nâng cao và tiến hành thắng lợi những chiến dịch từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trong vòng 10 năm trực tiếp đánh Mỹ (1965-1975), Quân đội Việt Nam đã tiến hành hơn 50 chiến dịch, trong đó có những chiến dịch điển hình như chiến dịch Khe Sanh, chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, chiến dịch Trị - Thiên, chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch Huế - Đà Nẵng và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Có thể khẳng định rằng nếu không có kinh nghiệm phong phú trong kháng chiến chống Pháp, nhất là trong chiến dịch Điện Biên Phủ thì cách mạng Việt Nam không thể có bước phát triển sớm, nhanh và thành công trong kháng chiến chống Mỹ.

Về nghệ thuật quân sự, trong 9 năm chống Pháp, cách đánh của Quân đội Việt Nam được từng bước hoàn chỉnh, cả “du kích chiến” và “vận động chiến”, cả đánh phục kích, tập kích và công kiên, chống càn. Vào năm cuối của cuộc kháng chiến, Quân đội Việt Nam đã thực hiện thành công cả những trận tấn công trận địa, những trận đánh vào các cứ điểm, và trận Điện Biên Phủ là điển hình và là đỉnh cao của chiến thuật tấn công tập đoàn cứ điểm mạnh của địch. Những bước trưởng thành và những kinh nghiệm qua từng chiến thuật đã tạo điều kiện và giúp Quân đội Việt Nam vận dụng, nâng cao trong các trận đánh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ sau này.

Như vậy, chiến thắng Điện Biên Phủ cũng như thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, khẳng định sự đúng đắn của đường lối chiến tranh nhân dân, sự chỉ đạo chiến lược, chiến thuật sáng tạo của Đảng và Quân đội Việt Nam, sự trưởng thành vượt bậc của các lực lượng vũ trang và nhân dân Việt Nam, tạo thế và lực để quân và dân Việt Nam bước vào cuộc chiến đấu mới. Chiến thắng Điện Biên Phủ “là hồi kèn chiến thắng của nhân dân ta trong trận đấu chống bọn can thiệp Mỹ, là khúc nhạc mở màn cho bản trường ca chống Mỹ cứu nước và chuẩn bị cuộc đụng đầu Lịch sử giữa nhân dân Việt Nam với đế quốc Mỹ sau này” . Cái tên Điện Biên Phủ cũng như ý nghĩa to lớn của nó luôn hiện diện trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam. “Điện Biên Phủ” đã tái diễn ở Khe Sanh năm 1972, ở bầu trời Hà Nội trong 12 ngày đêm cuối năm 1972; và tinh thần Điện Biên Phủ đã theo chân các chiến sỹ Quân giải Phóng tiến vào Sài Gòn trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ trên phạm vi cả nước.

Với những ý nghĩa trên, chiến thắng Điện Biên Phủ đúng là "mốc vàng" mở ra một thời kỳ mới cho cách mạng Việt Nam.

2. Chiến thắng Điện Biên Phủ "chấn động địa cầu"

1. Chiến thắng Điện Biên Phủ buộc đề quốc Pháp và Mỹ phải điều chỉnh chiến lược quân sự toàn cầu

Bị thất bại nặng nề trong trận Điện Biên Phủ, chiến lược quân sự của Pháp ở Đông Dương bị đảo lộn. Thực dân Pháp không dám nghĩ tới việc duy trì và bảo vệ các căn cứ quân sự ở Bắc Bộ Việt Nam, mà chỉ nghĩ tới việc cứu đội quân viễn chinh còn lại khỏi bị tiêu diệt. Trên thực tế, thất bại ở Điện Biên Phủ đã làm cho kế hoạch Nava phá sản, dẫn tới việc ký Hiệp định Giơnevơ, kết thúc chiến tranh, buộc quân đội Pháp phải rút khỏi Việt Nam và Đông Dương, chấm dứt vĩnh viễn sự có mặt của người Pháp ở khu vực này.

Anh-tin-bai
17 giờ 30 phút ngày 7-5-1954, bộ đội Việt Nam chiếm sở chỉ huy trung tâm, tướng Đờ Caxtơri cùng toàn bộ Bộ Tham mưu và binh lính tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ kéo cờ trắng ra hàng. Nguồn: https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ho-so-su-kien-nhan-chung/su-kien-va-nhan-chung/chien-thang-lich-su-dien-bien-phu-751954-3368

 

Thất bại của Pháp ở Điện Biên Phủ cũng là thất bại của Mỹ, kẻ tiếp tay cho Pháp trong chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. Điện Biên Phủ đã làm cho Mỹ thấy được những hạn chế của mình trong chiến lược quân sự toàn cầu. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ tập trung chạy đua vũ trang, đối phó với Liên Xô, Trung Quốc, xem nhẹ phong trào nổi dậy của các dân tộc Á, Phi, Mỹ-latin. Với chiến thắng Điện Biên Phủ và việc ký kết hiệp định Gơnevơ, một nửa nước Việt Nam được giải phóng, đã tách khỏi hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, trở thành một bộ phận của chủ nghĩa xã hội. Hệ thống chủ nghĩa xã hội đã lan tới khu vực Đông Nam Á.

 Chiến thắng Điện Biên Phủ của Việt Nam và sự vùng dậy của phong trào giải phóng dân tộc thế giới buộc Mỹ phải điều chỉnh chiến lược toàn cầu. Chiến lược "trả đũa ào ạt" đã tỏ ra không phù hợp, và một chiến lược mới mang tên "phản ứng linh hoạt" đã ra đời. Hạt nhân của chiến lược mới này là chiến tranh "chống nổi dậy", có nghĩa là việc bảo vệ các thuộc địa, chống lại phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc được Mỹ coi trọng. Với chiến lược toàn cầu mới này, chủ nghĩa thực dân cũ được Mỹ thay thế bằng chủ nghĩa thực dân mới và Mỹ lại chọn Việt Nam làm nơi thí điểm áp dụng chiến lược mới này.

2. Chiến thắng Điện Biên Phủ tạo bước ngoặt cho phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới

Suốt từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XX, chủ nghĩa thực dân phương Tây đã tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa từ châu Á, đến châu Phi và Nam Mỹ. Cho đến trước Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, hầu hết các cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cuả nhân dân các nước Á, Phi, Mỹ-latinh đều thất bại. Sau thắng của Cách mạng tháng Mười Nga và sự ra đời, lớn mạnh của chủ nghĩa xã hội Liên Xô, nhân dân hai nước Mông Cổ và Thổ Nhĩ Kỳ đã giành được thắng lợi vào những năm đầu của thập niên 20. Sau năm 1945, với thắng lợi của lực lượng hòa bình đối với chủ nghĩa phát xít trong chiến tranh thế giới thứ hai, phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á phát triển mạnh, và một số quốc gia khu vực này đã giành được độc lập như Indonexia, Việt Nam, Lào và Trung Quốc. Ở các nước khác cuộc đấu tranh giành độc lập thành công ở mức độ khác nhau.

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, chủ nghĩa thực dân phương Tây quay lại tiếp tục xâm lược và thống trị các nước Á, Phi. Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân các khu vực này lại tiếp tục nhưng còn rất nhiều khó khăn.

Trong lúc nhân dân các nước Á, Phi đang bế tắc trong cuộc đấu tranh giành độc lập cho mình thì chiến thắng Điện Biên Phủ của Việt Nam như là "tiếng sấm" thức tỉnh họ cả về ý chí lẫn phương pháp đấu tranh. "Khắp nơi ở châu Phi từ Angieri đến Maroc, từ Côngô đến Nigieria, cuộc chiến đấu giành độc lập dân tộc đã được tấm gương Điện Biên Phủ cổ vũ". Trong vòng 10 năm sau chiến thắng Điện Biên Phủ của Việt Nam, phong trào đấu tranh giành độc lập của nhân dân thế giới đã thu được thắng lợi to lớn. Từ năm 1954 đến năm 1965, 17/22 nước thuộc địa Pháp giành được độc lập. Không chỉ đối với thực dân Pháp, đến thập kỷ 60, thực dân Anh cũng phải trao trả độc lập cho một nửa trong số các quốc gia là thuộc địa Anh ở châu Á và châu Phi. Tổng cộng đến thập kỷ 60 của thế kỷ XX, đã có 60 quốc gia giành được độc lập.

Cũng trong thời gian này, 11 chính phủ của các nước do Mỹ dựng lên ở châu Mỹ đã bị lật đổ như Urugoay, Braxin, Vênêzuela, Cuba, Xanvado...

Có thể khẳng định rằng, trước "Điện Biên Phủ", chưa có một nước nhỏ nào đánh thắng được chiến tranh xâm lược của một đế quốc lớn. Trận Điện Biên Phủ đã được ví như "trận Oateclô" và "Chiến thắng Điện Biên Phủ là cái mốc trong lịch sử loài người. Đó là lần đầu tiên trong lịch sử có một sự kiện như vậy" .

Từ sau chiến thắng Điện Biên Phủ của Việt Nam, xuất hiện hàng loạt các sự kiện chính trị thể hiện sự lớn mạnh của phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới: Hội nghị Băngđung tổ chức ở Indonexia năm 1955; Hội nghị đoàn kết các dân tộc Á-Phi với sự tham gia của 34 nước đã ra nghị quyết chống chủ nghĩa thực dân; năm 1960, Liên hiệp quốc thông qua Nghị quyết phi thực dân hóa; năm 1963, 31 nước châu Phi thành lập Tổ chức thống nhất toàn châu Phi; rồi sau đó là sự ra đời của Phong trào Không liên kết v.v...

Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 của Việt Nam không chỉ là cái "mốc bằng vàng" đối với cách mạng Việt Nam, mà còn là "tiếng sấm" trấn động địa cầu, đánh dấu sự phá sản của chủ nghĩa thực dân cũ, mở ra thời kỳ mới cho phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc của các nước bị áp bức trên thế giới.

Sau này, khi nói về thất bại ở Điện Biên Phủ, người Pháp phải thừa nhận: "Trên toàn thế giới, Oatéclô trước đây không gây tiếng vang bằng, Điện Biên Phủ thất thủ gây nỗi kinh hoàng khủng khiếp. Đó là một trong những thảm bại lớn nhất của phương Tây, báo trước sự sụp đổ của các đế quốc thuộc địa và sự cáo chung của một nền cộng hòa. Tiếng sấm Điện Biên Phủ vẫn hãy còn vang vọng" .

Đánh giá ý nghĩa của chiến thắng Điện Biên Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Điện Biên Phủ như là cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử Việt Nam. Nó ghi rõ nơi chủ nghĩa thực dân lẵn xuống dốc và tan rã, đồng thời phong trào giải phóng dân tộc khắp thế giới đang lên cao đến thắng lợi hoàn toàn." ./.

 

PGS.TS. Nguyễn Văn Nhật, Viện Sử học, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam
  • Bộ sách gồm 10 tập, Viện Sử học dịch, Nxb KHXH xuất bản.
    23/04/2013
  • Đại Nam nhất thống chí đời Tự Đức là bộ sách địa lý học Việt Nam đầy đủ nhất dưới thời phong kiến. Đại Nam nhất thống chí theo bộ Đại Thanh nhất thống chí của Trung Quốc mà chia ra các mục như: phương vi, phân dã, kiến trí, duyên cách, phủ huyện, hình thế, khí hậu, phong tục, thành trì, học hiệu, hộ khẩu, điền phú, sơn xuyên, quan tấn, dịch trạm, thị lập, tứ miếu, tự quán, phân việt, thổ sản, v.v... Ngoài ra, Đại Nam nhất thống chí còn có quyển chép riêng về Cao Miên (Campuchia), Xiêm La, Miến Điện, Nam Chưởng, Vạn Tượng.
    22/04/2013
  • Trong tập sách này, các tác giả không chỉ trình bày các sự kiện về quân sự, chính trị mà còn nêu lên nhiều sự kiện khác thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại....
    27/09/2012
  • "Việt Nam những sự kiện lịch sử (Từ khởi thủy đến 1858)" là cuốn sách ghi lại các sự kiện lịch sử nước nhà từ khởi thủy đến khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược vào giữa thế kỷ XIX.
    27/09/2012
  • Đại Nam liệt truyện là một bộ sách có quy mô khá đồ sộ trong kho tàng thư tịch cổ viết bằng chữ Hán của Việt Nam, do cơ quan làm sử chính thức của nhà Nguyễn là Quốc sử quán biên soạn vào giữa thế kỷ XIX.
    24/09/2012
  • Lịch triều hiến chương loại chí là bộ bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam. Có nghĩa là Phép tắc các triều đại chép theo thể phân loại do Phan Huy Chú soạn trong 10 năm (1809-1819).
    23/09/2012
  • Là bộ sử có giá trị to lớn và quan trọng bậc nhất trong nền sử học Việt Nam thời kỳ cổ trung đại. Bộ chính sử do Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê biên soạn.
    22/09/2012
  • Cuốn sách Cổ luật Việt Nam gốm 2 bộ Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ. Quốc triều hình luật (còn gọi là bộ luật Hồng Đức) và Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là bộ luật Gia Long) là hai bộ cổ luật duy nhất còn lại cho đến nay của các triều đại phong kiến Việt Nam; là những di sản quý giá có giá trị tham khảo về nhiều mặt cho chúng ta ngày nay.
    19/09/2012
  • Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ là một bộ sách được biên soạn dưới triều Nguyễn theo thể loại Hội điển. Thể loại này được đặt ra nhằm ghi chép lại các điển pháp, quy chuẩn và các dữ kiện liên quan đến tổ chức và hoạt động của một triều đại, một Nhà nước.
    19/09/2012
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1