image banner

Về quan điểm "Cần, Kiệm" của Hồ Chí Minh
Tấm gương đạo đức trong sạch, lối sống giản dị tiết kiệm của Hồ Chí Minh là chuẩn mực để người dân Việt Nam noi theo. Ở Hồ Chí Minh, tư tưởng gắn liền với thực hành, tạo nên nét độc đáo riêng của Người mà không một nhà tư tưởng nào của Việt Nam có được. Cần, kiệm trong quan niệm của Hồ Chí Minh xuất phát từ thực trạng đất nước, từ quá trình kháng chiến chống Pháp, đó là điều kiện để xây dựng đời sống và nền văn hóa mới. Quan điểm của Người được thực hiện rộng khắp trong các tầng lớp nhân dân càng chứng tỏ tính đúng đắn của nó. Trong giai đoạn hiện nay, phát huy tinh thần cần, kiệm không chỉ giúp mỗi cá nhân có đời sống ổn định, làm giàu cho bản thân mà còn góp phần làm cho quốc gia vững mạnh. Để có tính cần, kiệm, cần phải tránh xa tệ lãng phí của cải, thời gian, sức lực của bản thân và người khác. Hơn nữa phải hết sức tiết kiệm các nguồn lực của mình, cuộc sống có kế hoạch hợp lý. Đến nay, quan điểm “Cần, Kiệm” của Hồ Chí Minh vẫn có giá trị hiện thực và cấp thiết, là những nội dung mà thế hệ trẻ cần phải học tập làm theo.

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của Đảng, của dân tộc Việt Nam đã để lại cho thế hệ trẻ kho tàng những kinh nghiệm quý báu cũng như đạo đức cách mạng sáng ngời. Tư tưởng của Người, không chỉ đúng đắn trong tình thế cách mạng ở thế kỷ XX mà đến nay, trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa và đi lên Chủ nghĩa xã hội, vẫn có những giá trị thực tiễn quan trọng. Hồ Chí Minh từ những ngày đi tìm đường cứu nước đã luôn có ý thức cần cù, tiết kiệm. Thời gian ở Pháp, Nga, vào những mùa đông lạnh giá, Người từng phải đốt gạch sưởi ấm, cho đến khi giữ cương vị là Chủ tịch nước, Người vẫn tiết kiệm. Hồ Chí Minh khẳng định rằng: “Cần mà không kiệm, thì làm chừng nào xào chừng ấy, cũng như một cái thùng không có đáy, nước đổ vào chừng nào chảy hết ra chừng ấy, không lại hoàn không”.

Những năm 1948-1950, Việt Nam bước vào thời kỳ xây dựng và củng cố hậu phương, đẩy mạnh kháng chiến toàn dân, toàn diện trên nhiều lĩnh vực. Chính phủ, Quốc hội và nhân dân, chính quyền các cấp ở địa phương có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Từ năm 1947, Chính phủ Trung ương được cải tổ. Bên cạnh đó, phong trào Thi đua ái quốc được Trung ương Đảng phát động năm 1948 đã thu hút được sự tham gia hưởng ứng của các cơ quan chính quyền, đoàn thể quần chúng, các  nhà máy, quân đội,..v..v…Các tổ chức đoàn thể được củng cố, mở rộng nhằm tăng cường sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân. Trong đó, lĩnh vực văn hóa đã được chính quyền hết sức quan tâm: “Dưới ánh sáng của đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng và sự nỗ lực lớn lao của những cán bộ hoạt động văn hóa và đông đảo quần chúng nhân dân, nền văn hóa kháng chiến đã vươn lên mạnh mẽ. Các ngành văn hóa đều thu được những thành tích đáng tự hào, có nhiều đóng góp tích cực trong việc động viên quân đội và nhân dân tham gia kháng chiến và góp phần cải thiện đời sống văn hóa tinh thần cho cán bộ, bộ đội và nhân dân”[1].

1. Về quan niệm “Cần, Kiệm” của Hồ Chí Minh

Năm 1947, trong bài viết Cán bộ và đời sống mới, Hồ Chí Minh đã đề cập đến vấn đề cần, kiệm, khẳng định đó là nền tảng của đời sống mới, Thi đua ái quốc. Người viết như sau: “Cán bộ muốn cho xứng đáng phải làm được việc. Muốn làm được việc, thì phải được dân tin, dân phục, dân yêu. Muốn được dân tin, dân phục, dân yêu, cán bộ phải tự mình làm đúng đời sống mới. Nghĩa là phải siêng năng, tiết kiệm, trong sạch, chính đáng. […] Ta phải ra sức tiết kiệm. Hoang phí là một tội ác. Có tiết kiệm, không hoang phí xa xỉ, thì mới giữ được liêm khiết, trong sạch. Có cần mới kiệm. Có cần, kiệm mới liêm. Có cần, kiệm, liêm mới chính”[2].

Theo Hồ Chí Minh, đạo đức của con người nằm trong bốn yếu tố “Cần, kiệm, liêm, chính”, Người nhấn mạnh:

Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông

Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc

Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính

Thiếu một mùa thì không thành trời

Thiếu một phương thì không thành đất

Thiếu một đức thì không thành người.

Trong đoạn viết về “Cần”, Hồ Chí Minh giải thích rõ: “Cần tức là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai”. Theo Bác “người siêng năng thì mau tiến bộ, cả nhà siêng năng thì chắc ấm no; cả làng siêng năng thì làng phồn thịnh, cả nước siêng năng thì nước mạnh giàu”. Đối lập với siêng năng là sự lười biếng, theo Người, nó là kẻ thù của siêng năng. Lười biếng cũng là kẻ địch của dân tộc, người lười biếng cũng là người có tội với Tổ quốc.

Khi đề cập đến “Kiệm”, Bác khẳng định Kiệm là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, bừa bãi. Cần và kiệm phải đi đôi với nhau như hai chân của cơ thể, kiệm mà không cần thì không tăng thêm, không phát triển được. Muốn thực hành được tiết kiệm thì việc gì cũng phải làm cho nhanh chóng, mau lẹ, không nên chậm rãi mà tốn thời giờ của dân. Như vậy, khi cần và kiệm gắn liền với nhau sẽ tạo ra kết quả là bộ đội đầy đủ, nhân dân ấm no, kháng chiến sẽ mau thắng lợi, nước ta sẽ mau giàu mạnh ngang hàng với các nước tiên tiến trên thế giới.

Hồ Chí Minh cho rằng cần tính toán các nguồn lực để chi phí bỏ ra nhỏ nhất nhưng vẫn đạt được mục tiêu cao nhất. Người đưa ra phương châm: 1 giờ làm xong việc của 2,3 giờ, 1 người làm việc bằng 2, 3 người, 1 đồng dùng bằng 2,3 đồng. Để tiết kiệm thì việc thực hành chống lãng phí rất quan trọng. Hồ Chí Minh chỉ ra tính lãng phí xuất phát từ chủ nghĩa cá nhân. Trong bài viết “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” ngày 03 tháng 02 năm 1969, Người nêu rõ: “Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa”. Người nhấn mạnh đến việc phải chống lãng phí, coi đó như kẻ thù của đất nước, của cách mạng. Đặc biệt, phải chống cách tiêu dùng bừa bãi tiền của của nhân dân và chính phủ, cần phải chấm dứt nạn phô trương xa xỉ. Hơn nữa, lãng phí cũng xuất phát từ trình độ năng lực yếu kém, nên dẫn đến xử lý công việc sai phạm, gây thất thoát tài sản của nhà nước, hoặc vì bệnh hình thức, xa xỉ, phô trương. Tất cả những yếu tố đó là nguyên nhân gây thiệt hại đến kinh tế của đất nước, của nhân dân.

Đối với việc rèn luyện đạo đức cách mạng, Hồ Chí Minh rất coi trọng. Không chỉ thế, Hồ Chí Minh còn là một tấm gương mẫu mực trong việc thực hành phẩm chất cần, kiệm. Tư tưởng của Người về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí thể hiện năng lực tư duy khoa học, sáng tạo và phẩm chất đạo đức của một người đã trải qua quá trình gian khổ đi tìm đường cứu nước cho dân tộc. Đó cũng xuất phát từ lối sống thanh cao, giản dị nhưng gần gũi với người dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Có nhiều câu chuyện kể lại về lối sống của Người rất giản dị, cần kiệm như sử dụng lại chiếc phong bì, đi dép cao su, mặc áo sờn vai, cách sử dụng ô tô và những bữa ăn hàng ngày. Trước khi về Phủ Chủ tịch, Hồ Chí Minh vẫn ở trong căn phòng nhỏ, nóng bức của anh thợ điện của nhà thương Đồn Thủy (nay là Bệnh viện Quân y 108). Đặc biệt, ngay cả khi làm việc trong Phủ Chủ tịch, Người cũng chỉ mặc bộ quần áo ka ki màu kem.

Anh-tin-bai

Bộ quần áo ka ki của Hồ Chí Minh
Lưu trữ tại: Khu lưu niệm nhà ở của Hồ Chí Minh ở Liễu Châu, thành phố Quảng Tây, Trung Quốc (Ảnh: Mai Huyền)

Trong cuốn sách Bác Hồ tấm gương tiết kiệm có những đoạn kể về việc thực hành tiết kiệm của Người. Câu chuyện kể về việc tiết kiệm những chiếc phong bì của Hồ Chí Minh, dù chỉ là chi tiết rất nhỏ, nhưng lại có thể giúp ích rất lớn đối với nền kinh tế. Câu chuyện kể lại: “Lần thứ nhất, tháng 5 năm 1949, Bác nói: “Trung bình một cái phong bì có kích thước giấy 180 phân vuông. Mỗi ngày các cơ quan, đoàn thể và tư nhân ít nhất cũng dùng hết một vạn cái phong bì, tức là 180 thước vuông giấy. Mỗi năm là 64.800 thước vuông giấy. Nếu ai cũng tiết kiệm, dùng một cái phong bì hai lần, thì mỗi năm chỉ tốn một nửa số giấy, tức là 32.400 thước vuông. Còn 32.400 thước để dành cho các lớp bình dân học vụ thì chẳng tốt hơn sao? Hơn nữa, nhờ sự tiết kiệm giấy, mà tiền bạc và công phu làm giấy có thể làm thêm việc kiến thiết khác, thì càng ích lợi hơn nữa”[3]. Hồ Chí Minh thực hành nói thì phải làm, người chủ trương nói đi đôi với làm, nói ít làm nhiều, đó cũng là biểu hiện của kiệm lời nói. Với các cơ quan đoàn thể, Hồ Chí Minh chủ trương không nên họp nhiều, tránh tình trạng “hội mà không nghị, nghị mà không quyết, quyết rồi mà không làm”. Đối với cá nhân, Người yêu cầu “nói ít, bắt đầu hành động”.

Về phê phán thói lãng phí, Hồ Chí Minh đã phê bình một địa phương về tệ mổ bò bừa bãi trong bài viết ngày 20-6-1959. Người viết: “Tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm- Đó là khẩu hiệu chúng ta phải quyết tâm thực hiện, để không ngừng phát triển kinh tế và không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân. Nhiều đồng bào đã thấm nhuần và thực hiện khẩu hiệu ấy. Song cũng có nơi chưa hiểu thấu và chưa chấp hành. Huyện Phú Bình (tỉnh Thái Nguyên) thuộc về hạng này. Ví dụ, chỉ trong vài ba tháng đầu năm nay, xã Dương Thành đã mổ 23 con bò và xã Hương Sơn mổ 31 con, đổ đồng mỗi xã mổ 27 con. Bất kỳ hội nghị to hay là nhỏ, hễ có hội nghị là mổ bò. […] Phải “Cần kiệm để xây dựng hợp tác xã”. Khẩu hiệu này, cán bộ và quần chúng các xã ấy đã quên mất rồi! Đó là lãng phí rất nghiêm trọng và khá phổ biến trong cả huyện. […] Các cơ quan và các đồng chí ấy cần phải kiểm thảo sâu sắc, sửa chữa kịp thời, phải lãnh đạo nông dân chống mổ bò bừa bãi, tăng cường việc chăn nuôi và thực hiện khẩu hiệu: Tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm”[4].

2. Cán bộ, nhân dân học tập đức tính “Cần, Kiệm” của Hồ Chí Minh

Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa đồng thời với quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, người dân cần phải chung sức với nhà nước trong việc tiết kiệm, chống lãng phí. Do vậy, cần cù, tiết kiệm vẫn là một phẩm chất đạo đức tốt đẹp của nhân dân để phát triển đất nước.

Đối với mỗi cá nhân, để cụ thể hóa tinh thần cần cù, tiết kiệm thì việc làm đầu tiên chính là nêu cao tinh thần trách nhiệm với công việc. Mặt khác, cần phải học tập nâng cao trình độ chuyên môn, ngoại ngữ để thích ứng với tình hình chuyển đổi số trong thời  kỳ mới cũng như hội nhập với quốc tế trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay. Trong quá trình đó, tiết kiệm các nguồn lực, tài nguyên, tài chính của bản thân để có cuộc sống ổn định, góp phần tạo ra xã hội ổn định cũng là điều kiện góp phần phát triển đất nước.

Trên thực tế, nhằm cụ thể hóa chủ trương của Đảng, thực hiện theo tinh thần học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Quốc hội đã ban hành Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2005 và 2013, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 2544/QĐ-TTg về ban hành Chương trình tổng thể của Chính phủ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí giai đoạn 2016-2020 kèm theo các văn bản pháp quy về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Sau đó, vào ngày 23-01-2020, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định 166/QĐ- TTg ban hành Chương trình tổng thể của Chính phủ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí….Đây là những việc làm thể hiện sự vận dụng sáng tạo, linh hoạt và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm ở nước ta.

Ở nhiều địa phương, các đoàn thể đã thực hiện chương trình “ngày thứ Bảy tình nguyện” nhằm giải quyết công việc hồ sơ, giấy tờ cho người dân được kịp thời. Ví như ở thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước, sau 4 tháng thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp , Trung tâm phục vụ hành chính công phường đã tiếp nhận 3.129 hồ sơ và có tới 97,41% hồ sơ được giải quyết đúng hạn và trước hạn đạt. Điều này đã giúp việc giải quyết thủ tục hành chính được nhanh chóng, tiết kiệm thời gian và công sức của nhân dân.

Đối với các cấp cơ sở, việc chống lãng phí được triển khai bằng công tác tuyên truyền, phổ biến Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đến các cán bộ, nhân viên. Đồng thời phối hợp các đợt thi đua, phát động phong trào phấn đấu thực hiện tốt tiết kiệm với thực hiện nhiệm vụ chuyên môn phù hợp với tình hình thực tế ở các đơn vị. Trên cơ sở đó từng bước nâng cao nhận thức về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong toàn thể đảng viên và quần chúng trong các cơ quan. Đồng thời, tại các đơn vị sự nghiệp, cần phải xây dựng quy chế làm căn cứ xác định nghĩa vụ, quyền lợi nhằm đánh giá khen thưởng một cách khách quan, gắn liền với kỷ luật, dân chủ. Cùng với đó là việc không ngừng tăng cường giáo dục đạo đức công vụ, xây dựng phát huy văn hóa “Cần, Kiệm” nơi công sở, cần có sự tính toán, lập kế hoạch để tránh lãng phí nguồn lực.

3. Kết luận

Tấm gương đạo đức trong sạch, lối sống giản dị tiết kiệm của Hồ Chí Minh là chuẩn mực để người dân Việt Nam noi theo. Ở Hồ Chí Minh, tư tưởng gắn liền với thực hành, tạo nên nét độc đáo riêng của Người mà không một nhà tư tưởng nào của Việt Nam có được.

Cần, kiệm trong quan niệm của Hồ Chí Minh xuất phát từ thực trạng đất nước, từ quá trình kháng chiến chống Pháp, đó là điều kiện để xây dựng đời sống và nền văn hóa mới. Quan điểm của Người được thực hiện rộng khắp trong các tầng lớp nhân dân càng chứng tỏ tính đúng đắn của nó. Trong giai đoạn hiện nay, phát huy tinh thần cần, kiệm không chỉ giúp mỗi cá nhân có đời sống ổn định, làm giàu cho bản thân mà còn góp phần làm cho quốc gia vững mạnh. Để có tính cần, kiệm, cần phải tránh xa tệ lãng phí của cải, thời gian, sức lực của bản thân và người khác. Hơn nữa phải hết sức tiết kiệm các nguồn lực của mình, cuộc sống có kế hoạch hợp lý. Đến nay, quan điểm “Cần, Kiệm” của Hồ Chí Minh vẫn có giá trị hiện thực và cấp thiết, là những nội dung mà thế hệ trẻ cần phải học tập làm theo.



[1] Đinh Thị Thu Cúc (Chủ biên), Lịch sử Việt Nam, tập 10, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2013, tr. 519.

[2] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, Nxb. Chính trị Quốc gia- Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 240-241.

[3] Tạ Văn Sang, Bác Hồ tấm gương tiết kiệm, Nxb. Kim Đồng, 2024, tr. 29.

[4] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, Nxb. Chính trị Quốc gia- Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 235-236.

Avarta: https://btgdvtukhanhhoa.vn/hoc-tap-va-lam-theo-tam-guong-dao-duc-ho-chi-minh/van-dung-tu-tuong-cua-chu-tich-ho-chi-minh-ve-can-kiem-liem-chinh-trong-dao-ta

ThS. Mai Thị Huyền, Viện Sử học - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
  • Bộ sách gồm 10 tập, Viện Sử học dịch, Nxb KHXH xuất bản.
    23/04/2013
  • Đại Nam nhất thống chí đời Tự Đức là bộ sách địa lý học Việt Nam đầy đủ nhất dưới thời phong kiến. Đại Nam nhất thống chí theo bộ Đại Thanh nhất thống chí của Trung Quốc mà chia ra các mục như: phương vi, phân dã, kiến trí, duyên cách, phủ huyện, hình thế, khí hậu, phong tục, thành trì, học hiệu, hộ khẩu, điền phú, sơn xuyên, quan tấn, dịch trạm, thị lập, tứ miếu, tự quán, phân việt, thổ sản, v.v... Ngoài ra, Đại Nam nhất thống chí còn có quyển chép riêng về Cao Miên (Campuchia), Xiêm La, Miến Điện, Nam Chưởng, Vạn Tượng.
    22/04/2013
  • Trong tập sách này, các tác giả không chỉ trình bày các sự kiện về quân sự, chính trị mà còn nêu lên nhiều sự kiện khác thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại....
    27/09/2012
  • "Việt Nam những sự kiện lịch sử (Từ khởi thủy đến 1858)" là cuốn sách ghi lại các sự kiện lịch sử nước nhà từ khởi thủy đến khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược vào giữa thế kỷ XIX.
    27/09/2012
  • Đại Nam liệt truyện là một bộ sách có quy mô khá đồ sộ trong kho tàng thư tịch cổ viết bằng chữ Hán của Việt Nam, do cơ quan làm sử chính thức của nhà Nguyễn là Quốc sử quán biên soạn vào giữa thế kỷ XIX.
    24/09/2012
  • Lịch triều hiến chương loại chí là bộ bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam. Có nghĩa là Phép tắc các triều đại chép theo thể phân loại do Phan Huy Chú soạn trong 10 năm (1809-1819).
    23/09/2012
  • Là bộ sử có giá trị to lớn và quan trọng bậc nhất trong nền sử học Việt Nam thời kỳ cổ trung đại. Bộ chính sử do Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê biên soạn.
    22/09/2012
  • Cuốn sách Cổ luật Việt Nam gốm 2 bộ Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ. Quốc triều hình luật (còn gọi là bộ luật Hồng Đức) và Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là bộ luật Gia Long) là hai bộ cổ luật duy nhất còn lại cho đến nay của các triều đại phong kiến Việt Nam; là những di sản quý giá có giá trị tham khảo về nhiều mặt cho chúng ta ngày nay.
    19/09/2012
  • Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ là một bộ sách được biên soạn dưới triều Nguyễn theo thể loại Hội điển. Thể loại này được đặt ra nhằm ghi chép lại các điển pháp, quy chuẩn và các dữ kiện liên quan đến tổ chức và hoạt động của một triều đại, một Nhà nước.
    19/09/2012
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1