image banner

DƯ LUẬN QUỐC TẾ VỀ TRẬN “ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG” NĂM 1972
Trận “Điện Biên Phủ trên không” năm 1972 không chỉ là một cuộc đối đầu quân sự có ý nghĩa quyết định trong tiến trình cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam, mà còn là một sự kiện thu hút sự quan tâm sâu rộng của dư luận quốc tế.
 

Trong những ngày cuối tháng 12 năm 1972, quân và dân tại nhiều thành phố lớn ở miền Bắc đã kiên cường chống trả lại các trận không kích điên cuồng của Mỹ trong cái gọi là Chiến dịch Linebacker II (hay chiến dịch ném bom lễ Giáng Sinh - The Christmas Bombing). Mỹ đã huy động các loại máy bay ném bom chiến thuật hiện đại nhất, trong đó có B-52, niềm tự hào của không quân Hoa Kỳ tham gia chiến dịch. Các trận không kích của Mỹ đã gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho cơ sở hạ tầng, kho tàng quân sự của ta. Tuy nhiên, với tinh thần chiến đấu anh dũng, “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”, quân và dân miền Bắc đã đánh bại hoàn toàn chiến dịch ném bom Linebacker II, đập tan âm mưu của chính quyền Nixon, buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán và ký kết Hiệp định Paris vào tháng 1/1973. Chiến thắng vang dội này đã đi vào lịch sử dân tộc dưới tên gọi “Điện Biên Phủ trên không”. Ảnh hưởng của sự kiện này không chỉ tác động đến Mỹ hay Việt Nam mà còn lan rộng trên khắp thế giới. Dư luận quốc tế đã dành sự quan tâm đặc biệt đến những diễn biến trong trận đánh quyết chiến chiến lược này.

Anh-tin-bai

Máy bay B-52 của Mỹ oanh tạc bầu trời miền Bắc và sự chuẩn bị chiến đấu của nhân dân Việt Nam. Nguồn: https://vov.vn/chinh-tri/chien-thang-dien-bien-phu-tren-khong-suc-manh-van-hoa-giu-nuoc-dac-sac-viet-nam-post989690.vov, truy cập 28-10-2026.

Trận Điện Biên Phủ trên không năm 1972, còn được phía Mỹ gọi là Chiến dịch Linebacker II hay “Chiến dịch ném bom Giáng sinh” (Christmas Bombing), là chiến dịch tập kích đường không chiến lược diễn ra trong 12 ngày đêm cuối tháng 12 năm 1972, nhằm vào Hà Nội, Hải Phòng và nhiều địa phương khác ở miền Bắc Việt Nam. Lý do mà phía Mỹ đưa ra để biện minh cho việc thực hiện một chiến dịch không kích điên cuồng là “nhằm buộc phía Bắc Việt phải quay lại bàn đàm phán”[1]. Thế nhưng, trên thực tế, tham vọng của chính quyền Nixon còn nhiều hơn thế, theo tờ New York Times, mục tiêu mà chính quyền Mỹ đặt ra khi tiến hành các cuộc ném bom ác liệt ở Hà Nội và Hải Phòng bao gồm: “Thứ nhất, làm suy giảm số lượng binh sĩ và viện trợ từ miền Bắc vào miền Nam; Thứ hai, khiến cho “Bắc Việt” phải trả một cái giá đắt khi tiến hành hỗ trợ cho cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam; Thứ ba, bẻ gãy ý chí của Bắc Việt; Thứ tư, buộc Bắc Việt phải nhượng bộ trong đàm phán hòa bình; Thứ năm, sốc lại tinh thần cho chính quyền Sài Gòn và quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam”[2]. Trong các lí do vừa nêu, lí do thứ tư được xem là lí do quan trọng nhất. Với Chiến dịch Linebacker II, Mỹ muốn đánh một đòn phủ đầu để đảm bảo thế thượng phong trên bàn đàm phán, buộc chính quyền cách mạng Việt Nam phải chấp nhận các điều khoản có lợi cho Mỹ nhằm kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam trên thế thắng. Để đạt được âm mưu của mình, Mỹ đã triển khai một lượng lớn máy bay ném bom chiến thuật B-52 - loại máy bay hiện đại nhất của Mỹ lúc đó cùng nhiều loại máy bay hỗ trợ và phương tiện chiến tranh khác trong Chiến dịch Linebacker II. Tác giả Milan N. Vego cho rằng có tới hơn 200 máy bay B-52 đã được sử dụng trong suốt chiến dịch này[3]. Còn theo cuốn sách “Giới thiệu về lực lượng không quân Mỹ”, Mỹ đã huy động khoảng 99 máy bay B-52G và 50 máy bay B-52D từ căn cứ quân sự GUAM và 54 máy bay B-52D từ căn cứ không quân ở Thái Lan để triển khai Chiến dịch Linebacker II[4]. Chính vì sự huy động lực lượng lớn này, Chiến dịch Linebacker II được đánh giá là chiến dịch ném bom lớn nhất mà Mỹ từng triển khai kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ Hai[5].

Anh-tin-bai
Những khẩu đội pháo cao xạ bảo vệ bầu trời Hà Nội. Nguồn: https://vov.vn/chinh-tri/chien-thang-dien-bien-phu-tren-khong-suc-manh-van-hoa-giu-nuoc-dac-sac-viet-nam-post989690.vov, truy cập 28-10-2026.

 

Về diễn biến của trận chiến Điện Biên Phủ trên không, nhà nghiên cứu Walter J Boyne đã nhận định như sau: “Trong chiến dịch này, các máy bay B-52 đã thực hiện 729 lượt trong tổng số 741 lượt không kích và thả xuống 15.000 tấn bom. Trong khi đó, phía quân đội miền Bắc Việt Nam đã khai hỏa khoảng 1.240 tên lửa SAM. Không quân Mỹ mất 15 máy bay B-52, với tỷ lệ tổn thất khoảng 2%. Khoảng 92 thành viên của các phi hành đoàn B-52 chịu thương vong, trong đó 26 phi công bị thương (phục hồi sau đó), 25 người bị cho là mất tích trong khi làm nhiệm vụ, 33 phi công trở thành tù nhân chiến tranh, 8 người bị chết khi đang làm nhiệm vụ. Bên cạnh đó, Mỹ còn mất hai chiếc máy bay chiến đấu F-111A, ba chiến F-4, hai A-6, một EB-66, một HH-53 và một RA-5C”.

Về kết quả của trận chiến Điện Biên Phủ trên không, xuất hiện ngày càng nhiều ý kiến từ phía dư luận quốc tế, đặc biệt là các học giả, nhà nghiên cứu sử học cho rằng Mỹ đã thất bại, hoặc chí ít đã không đạt được các mục tiêu đề ra khi tiến hành triển khai chiến dịch ném bom miền Bắc Việt Nam. Phía Mỹ luôn tự hào cho rằng B-52 là “pháo đài bay” bất khả chiến bại và việc đưa máy bay B-52 vào không kích các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng… sẽ khiến miền Bắc phải hứng chịu sự thiệt hại nặng nề, từ đó sẽ nhượng bộ Mỹ trên bàn đàm phán với những điều khoản có lợi cho nước Mỹ. Nhưng thực tế đã chứng minh điều ngược lại. Tờ New York Times đã đăng tải một loạt bài viết, thẳng thắn đánh giá những thiệt hại của Mỹ trong Chiến dịch Linebacker II. Trong bài viết “Việc ngừng ném bom ở miền Bắc Việt Nam được tuyên bố tiếp tục diễn ra”, đăng tải trên New York Times ngày 26/12/1972, nhà báo Joseph B. Treaster đã thẳng thắn chỉ ra những nguyên nhân buộc Nhà Trắng và Lầu Năm góc phải tạm dừng các cuộc ném bom, trong đó có những thiệt hại ngoài dự kiến của Mỹ khi tiến hành cuộc ném bom miền Bắc. Người phát ngôn của Bộ Quốc phòng Mỹ đã phải thừa nhận có ít nhất 11 pháo đài bay B-52 trị giá 8 triệu USD và 6 máy bay ném bom cỡ nhỏ hơn đã bị hạ khi đang làm nhiệm vụ[6]. Danh sách phi công Mỹ mất tích trong Chiến dịch Linebacker II cũng ngày một dài thêm. Tính đến ngày 26/12/1972, 57 phi công được phía Mỹ tuyên bố “hi sinh” hoặc mất tích khi đang làm nhiệm vụ[7]. Thực trạng thiệt hại nặng nề của quân đội Mỹ trong chiến dịch ném bom dịp giáng sinh đã khiến một quan chức quốc phòng cấp cao của Mỹ phải thốt lên rằng “Chúng ta đã mất quá nhiều máy bay. Tôi không nghĩ rằng chúng ta đang nhận ra cái giá mà chúng ta phải trả là quá cao”[8]. Các quan chức Mỹ thậm chí còn cho rằng thiệt hại của Mỹ thậm chí còn cao hơn so với những công bố chính thức. Điều này giải thích sự chênh lệch giữa các công bố từ phía Mỹ và chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa[9]. Chính quyền Mỹ muốn đưa ra một số liệu “hợp lí” nhằm tránh làm trầm trọng hơn làn sóng phản chiến vốn đang diễn ra rộng khắp nước Mỹ khi đó và đảm bảo cho vị thế của Tổng thống Nixon trên chính trường Mỹ.

Marshall Michael, chuyên gia nghiên cứu về Chiến dịch Linebacker II trong lịch sử không quân Mỹ cũng nhận định rằng: “Sau này hai phía mới chỉ dừng ở việc cùng công nhận rằng Linebacker II là trận đấu quan trọng quyết định cục diện chiến tranh. Đối với người Mỹ, Hiệp định hòa bình Paris đã giúp Tổng thống Nixon hoàn thành mục tiêu đưa tù binh về nước và chấm dứt sự can dự của Mỹ vào cuộc chiến Việt Nam mà vẫn thực hiện cam kết làm chỗ dựa cho chính quyền Nam Việt Nam. Người Việt Nam lại cho rằng chiến dịch ném bom của Mỹ là nhằm mục đích buộc họ khuất phục và rút quân khỏi miền Nam. Vậy nên khi bản Hiệp định cho phép họ vẫn được giữ quân ở miền Nam, người Việt Nam cho rằng chiến dịch Linebacker II đã thất bại và niềm tin này càng được củng cố khi quân đội của họ trú quân ở phía nam tiến hành chiến dịch tổng tiến công thống nhất đất nước vào năm 1975. Nhưng để hiểu một cách tường tận sự khác biệt quan điểm này, tôi đã phải ghi nhận cách hiểu của người Việt rằng Linebacker II đơn giản chỉ là một thắng lợi trong chuỗi thắng lợi trong suốt 30 năm kháng chiến giành độc lập. Bằng chứng cho thắng lợi đó là việc họ đã hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước”[10].

Charles Barrows, đại úy hoa tiêu B-52 bị bắt làm tù binh đặt vấn đề ngay khi còn ngồi ở Hỏa Lò: “Hệ thống điện tử trên máy bay B-52 rất tinh vi và đắt tiền nhưng vẫn không gây nhiễu nổi rađa Bắc Việt. Siêu pháo đài bay B-52 đã cải tiến nhiều lần, máy móc rất tốt... Các phi công B-52 được huấn luyện công phu, thành thạo các chiến thuật hiện đại và B-52 được bảo vệ dày đặc, nhưng vẫn bị bắn rơi vì đạn phòng không... Không quân chiến lược của Mỹ không thể chịu đựng nổi tỷ lệ tổn thất về B-52 trên bầu trời Hà Nội”[11].

Còn nhà nghiên cứu Dale Walton nhận định về thất bại của Mỹ như sau: “Chiến dịch Linebacker II không đơn giản chỉ là một chiến dịch ít tốn kém đối với phía Mỹ. Trong ba đêm đầu tiên của chiến dịch này, Mỹ đã mất tới 9 máy bay B-52”[12]. Tương tự với ý kiến của Dale Walton, nhà nghiên cứu Geoffrey Perret cho rằng trên bàn đàm phán năm 1973, Tổng thống Nixon cuối cùng cũng phải thuận theo những yêu cầu của chính quyền cách mạng Việt Nam. Đặc biệt, phía Mỹ phải thừa nhận rằng quân và dân miền Bắc Việt Nam đã “đánh bại chiến dịch Linebacker II”[13].

Về phản ứng của dư luận quốc tế đối với trận Điện Biên Phủ trên không, nhiều nhà lãnh đạo và các lực lượng tiến bộ trên thế giới đã lên án mạnh mẽ chiến dịch không kích quy mô lớn của chính quyền Mỹ nhằm vào các tỉnh thành ở miền Bắc Việt Nam trong dịp Giáng sinh, cho rằng đây là hành động tàn bạo và gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với dân thường.

Thụy Điển là một trong những quốc gia phương Tây đi đầu trong nỗ lực phản đối chiến tranh ở Việt Nam, đặc biệt là Chiến dịch Linebacker II của Mỹ. Khi tin tức Mỹ ném bom vào Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội), nơi Thụy Điển có những trợ giúp về trang thiết bị y tế cho phía Việt Nam, lãnh đạo quốc gia Bắc Âu này đã lên tiếng phản đối rất gay gắt. Thủ tướng Thụy Điển Olof Palme đã soạn thảo một bài phát biểu, trong đó ông so sánh việc Mỹ ném bom ở miền Bắc Việt Nam không khác gì hàng loạt tội ác của phát xít Đức trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai[14]. Bài phát biểu này sau đó đã được thông tin trên báo chí. Sự phản đối gay gắt của một nguyên thủ quốc gia ở châu Âu đối với Mỹ là một đòn giáng vào uy tín chính trị của Tổng thống Nixon trong bối cảnh Nixon đang vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của dư luận Mỹ liên quan đến cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam. Quan hệ giữa Mỹ và Thụy Điển trở nên căng thẳng ngay sau đó. Mỹ đã không tiến hành các nghi thức ngoại giao chào đón đại sứ mới của Thụy Điển Yngve Möller cũng như cắt giảm một số nhân sự ngoại giao của Mỹ tại Stockholm[15]. Thụy Điển không phải là trường hợp duy nhất, làn sóng phản đối trong các nhà lãnh đạo, trong dư luận quốc tế đối với chiến dịch ném bom lễ giáng sinh của Mỹ ở Việt Nam tiếp tục dâng cao, tạo ra áp lực lớn đối với chính quyền Nixon. Australia, quốc gia từng tham chiến với Mỹ trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam, đã gửi công hàm phản đối về quyết định ném bom trở lại miền Bắc Việt Nam của Tổng thống Nixon[16]. Chính quyền của Thủ tướng Australia Gough Whitlam thậm chí còn chỉ trích công khai trên truyền thông về quyết định trên của chính quyền Mỹ. Phản ứng của Australia đã khiến những người đứng đầu chính quyền Mỹ bất ngờ và tức giận. Cố vấn an ninh Kissinger thậm chí phải thốt lên rằng “Làm sao một đồng minh (của Mỹ) lại có thể cư xử như thế”[17]. Vatican cũng đã lên tiếng. Trong thông điệp hàng năm của Giáo hội ở Vatican đối với thế giới, Giáo hoàng Paul VI đã chỉ trích việc Mỹ tiến hành ném bom miền Bắc Việt Nam tạo ra “sự trì hoãn đau khổ”[18] đối với những người dân vô tội. Báo chí quốc tế cũng đã lên tiếng phản ứng trước chiến dịch ném bom của chính quyền Mỹ. Tờ London Daily Mirror (Anh) cho rằng các cuộc ném bom của Mỹ ở miền Bắc Việt Nam đã khiến cho “toàn bộ thế giới phải giật mình trong giận dữ”. Còn tờ Hamburg’s Die Zeit phản ứng mạnh mẽ rằng “ngay cả đồng minh cũng phải gọi đây là một tội ác chống lại loài người”[19].

Không chỉ phải đối mặt với làn sóng phản đối từ dư luận quốc tế, cuộc tập kích bằng B-52 của Mỹ trong chiến dịch ném bom lễ giáng sinh cũng gặp phải sự chỉ trích gay gắt của chính dư luận Mỹ[20]. Theo tờ Congressional Quarterly (Washington), trong một cuộc thăm dò được thực hiện vào tháng 12/1972 về phản ứng của 73 thượng nghị sĩ Mỹ về việc Mỹ ném bom ở Hà Nội, Hải Phòng, có tới 45 người phản đối vụ đánh bom và chỉ có 19 người ủng hộ trong khi một số khác không có ý kiến. Quan trọng hơn, 45 trong số 73 thượng nghị sĩ cho biết họ sẽ ủng hộ luật chấm dứt chiến tranh (trong khi chỉ có 25 người phản đối và 3 người chưa quyết định)[21]. Thượng nghị sĩ Mike Mansfield của bang Montana, một thành viên của Đảng Dân chủ cho rằng “Chiến thuật đánh bom đến nay đã triển khai được 8 năm. Chiến thuật này đã không tạo ra được bất cứ kết quả nào trong quá khứ… Đây là một trò chơi quyền lực thô bạo đối với cuộc sống của những người dân Mỹ, cũng như người dân nước khác, và do đó, nó thật ghê rợn”[22]. Đồng quan điểm với Thượng nghị sĩ Mike Mansfield, Thượng nghị sĩ Harold E. Hughes của bang Iowa cũng đưa ra nhận định rằng “Chiến dịch ném bom là vô ích và vô đạo đức”. Ông còn so sánh chiến dịch ném bom mùa lễ giáng sinh năm 1972 là một tội ác man rợ không khác những gì đã xảy ra ở Hiroshima and Nagasaki (Nhật Bản)”[23]. Rõ ràng, quyết định ném bom trở lại miền Bắc đã tạo ra những hiệu ứng tiêu cực đối với chính quyền Mỹ. Những toan tính của Nixon khi triển khai Chiến dịch Linebacker II đã thất bại ngay tại Washington DC.

Như vậy, chiến dịch ném bom tại miền Bắc Việt Nam của chính quyền Mỹ trong những ngày cuối tháng 12/1972 đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận quốc tế. Đặc biệt, chiến dịch này đã tạo ra làn sóng phản đối dữ dội trong dư luận quốc tế. Ngay cả những quốc gia đã từng sát cánh hoặc ủng hộ Mỹ trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam như Australia, Anh, hay Italia cũng bày tỏ thái độ phản đối Mỹ. Như Kissinger đã phải thốt lên: “Không một đồng minh nào ủng hộ chúng ta hay thậm chí tỏ ra thông cảm cho vị trí của chúng ta”[24]. Rõ ràng, trước hành động ngoan cố, tàn bạo của chính quyền Nixon trước giờ đàm phán đã khiến Mỹ gần như bị “cô lập” trên trường quốc tế. Ở trong nước, chính quyền Mỹ đã thất bại trong việc thuyết phục người dân Mỹ tiếp tục theo đuổi cuộc chiến tranh kéo dài, tốn kém cả về nhân mạng lẫn tài chính ở Việt Nam. Nói cách khác, nước Mỹ đã thất bại ngay chính trên sân nhà của họ. Sức ép từ dư luận trong nước và quốc tế cùng với sự bùng phát mạnh mẽ của phong trào phản chiến trở thành một trong những nhân tố thúc đẩy chính quyền Mỹ phải đi đến quyết định kết thúc cuộc chiến tranh phi nghĩa ở Việt Nam.

Trong khi chỉ trích chiến dịch ném bom của Mỹ ở Hà Nội và Hải Phòng, dư luận quốc tế cũng dành những lời ca ngợi cho cuộc chiến đấu quả cảm 12 ngày đêm của quân và dân miền Bắc. Đại tá Markov Lev Nicolayevich (người từng giảng dạy tại Trường Sĩ quan Phòng không và huấn luyện các kíp trắc thủ tên lửa cho Việt Nam từ tháng 10-1971 đến tháng 8-1972) ca ngợi rằng: “Tôi đã nghiên cứu kỹ chiến lược chiến tranh của nhiều nước và thấy rằng, trên thế giới ít có cuộc chiến nào mà bên phòng vệ thắng bên tấn công, nhất là khi có sự chênh lệch quá lớn về tiềm lực quân sự, vũ khí trang bị như giữa quân đội Việt Nam và quân đội Mỹ, đặc biệt là “siêu pháo đài bay B-52”, mà người Mỹ khoe là không thể bị bắn hạ! Vậy mà Việt Nam đã đánh thắng rất giòn giã. Đó thực sự là cuộc chiến tranh của trí tuệ với trí tuệ, thông minh “chọi” thông minh, chứ không phải là cuộc chiến tranh thông thường!”.

Như vậy, trận “Điện Biên Phủ trên không” năm 1972 không chỉ là một cuộc đối đầu quân sự có ý nghĩa quyết định trong tiến trình cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam, mà còn là một sự kiện thu hút sự quan tâm sâu rộng của dư luận quốc tế. Chiến dịch Linebacker II của chính quyền Nixon, với quy mô ném bom lớn chưa từng có kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ Hai, được kỳ vọng sẽ tạo sức ép buộc Việt Nam phải chấp nhận những điều kiện có lợi cho Mỹ trên bàn đàm phán. Tuy nhiên, thực tiễn lịch sử đã chứng minh rằng những tính toán chiến lược đó không đạt được mục tiêu đề ra. Sự kiên cường chiến đấu của quân và dân miền Bắc, cùng với khả năng tổ chức phòng không hiệu quả, đã làm thất bại ý đồ sử dụng sức mạnh không quân để khuất phục ý chí của Việt Nam. Từ góc nhìn quốc tế, chiến dịch ném bom cuối tháng 12/1972 đã tạo ra một làn sóng phản ứng mạnh mẽ, trong đó phần lớn dư luận, các nhà lãnh đạo và giới nghiên cứu tại nhiều quốc gia đều bày tỏ sự phản đối trước mức độ tàn phá và những tổn thất mà chiến dịch gây ra đối với nhân dân Việt Nam. Những tiếng nói phản đối từ các quốc gia đồng minh của Mỹ, các tổ chức tôn giáo, giới chính trị và truyền thông quốc tế cho thấy cuộc chiến tranh Việt Nam ngày càng làm suy giảm hình ảnh và vị thế của Mỹ trên trường quốc tế. Đồng thời, phong trào phản chiến trong chính nước Mỹ cũng phản ánh sự thay đổi trong nhận thức của một bộ phận lớn người dân và giới chính trị Mỹ về tính chất, mục tiêu và hệ quả của cuộc chiến tranh. Đối lập với thái độ phản đối chính quyền Mỹ, dư luận quốc tế giành sự ủng hộ lớn lao đối với cuộc đấu tranh của quân và dân ta. Sự ủng hộ của dư luận thế giới đối với Việt Nam trong trận Điện Biên Phủ trên không năm 1972 đã thể hiện tinh thần đoàn kết quốc tế, tạo thêm nguồn động viên to lớn về tinh thần và chính trị, góp phần củng cố ý chí chiến đấu, tiếp thêm sức mạnh cho nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền dân tộc.

       Chú thích:

[1] Spencer C. Tucker, The encyclopedia of the Vietnam war: A political, social and military history (second edition), Volume I: A-G, ABC-CLIO, LLC, US, 2011, p.661

[2] David E. Rosenbaum, Issue and Debate, The New York Times, US, December 26, 1972, p.10

[3] Milan N. Vego, Joint Operational Warfare: Theory and Practice, p.79

[4] B Chance Saltzman and Thomas R Searle, Introduction to the United States Air Force, Air Power Research Institute, US, 2001, p.75

[5] B Chance Saltzman and Thomas R Searle, Introduction to the United States Air Force, Air Power Research Institute, US, 2001, p.75

[6] Joseph B. Treaster, Pause in bombing of the North Vietnam said to continue, The New York Times, US, December 26, 1972, p.69

[7] Joseph B. Treaster, Pause in bombing of the North Vietnam said to continue, The New York Times, US, December 26, 1972, p.69

[8] Joseph B. Treaster, Pause in bombing of the North Vietnam said to continue, The New York Times, US, December 26, 1972, p.69

[9] Tính đến ngày 26/12/1972, theo số liệu của Việt Nam đưa ra, quân và dân ta đã bắn rơi 53 máy bay Mỹ, trong đó có 18 chiếc B-52

[10]Marshall Michael, The Christmas Bombing, Air and Space magazine, US, January 2001 (Available at: https://www.smithsonianmag.com/air-space-magazine/the-christmas-bombing-1813815/, accessed November 11 2022 )

[11] Hoàng Liêm, Điện Biên Phủ trên không - 35 năm ôn lại, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, 18/12/2007

[12] C. Dale Walton, The Myth of Inevitable US Defeat in Vietnam, Frank Cass Publishers, London, 2002, p.120

[13] Geoffrey Perret, Commander in Chief: How Truman, Johnson, and Bush Turned a Presidential Power into a Threat to America's Future, Farrar, Straus and Giroux, New York, 2007, p.296

[14] Alvin Shuster, Swedish Chilliness Toward U.S. Is Limited to Vietnam, The New York Times, US, January 8, 1973, p.8

[15] Alvin Shuster, Swedish Chilliness Toward U.S. Is Limited to Vietnam, The New York Times, US, January 8, 1973, p..8

[16] Bernard Gwertzman, U. S. to Continue Bombing; Says Next Move Is Hanoi's, The New York Times, US, December 23, 1972, p.58

[17] Randall Doyle, The Australian Nexus: At the Center of the Storm, Lexington Books - Rowman & Littlefield Publishing Group, Inc, US, 2018,  p.41

[18] Bernard Gwertzman, U. S. to Continue Bombing; Says Next Move Is Hanoi's, The New York Times, US, December 23, 1972, p.58

[19] Mac Jason Gilbert (ed), Why the North Won the Vietnam War, Palgrave, US 2002,  p.92

[20] John Karaagac, John McCain: An Essay in Military and Political History, Lexington Books, US, 2000, p.102

[21] Bernard Gwertzman, U. S. to Continue Bombing; Says Next Move Is Hanoi's, The New York Times, US, December 23, 1972, p.58

[22] David E. Rosenbaum, Issue and Debate, The New York Times, US, December 26, 1972, p.10

[23] David E. Rosenbaum, Issue and Debate, The New York Times, US, December 26, 1972, p.10

[24] Mac Jason Gilbert (ed), Why the North Won the Vietnam War, Palgrave, US 2002,  p.92

TS. Nguyễn Thu Hạnh, Viện Sử học, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam
Tin nổi bật
  • Bộ sách gồm 10 tập, Viện Sử học dịch, Nxb KHXH xuất bản.
    23/04/2013
  • Đại Nam nhất thống chí đời Tự Đức là bộ sách địa lý học Việt Nam đầy đủ nhất dưới thời phong kiến. Đại Nam nhất thống chí theo bộ Đại Thanh nhất thống chí của Trung Quốc mà chia ra các mục như: phương vi, phân dã, kiến trí, duyên cách, phủ huyện, hình thế, khí hậu, phong tục, thành trì, học hiệu, hộ khẩu, điền phú, sơn xuyên, quan tấn, dịch trạm, thị lập, tứ miếu, tự quán, phân việt, thổ sản, v.v... Ngoài ra, Đại Nam nhất thống chí còn có quyển chép riêng về Cao Miên (Campuchia), Xiêm La, Miến Điện, Nam Chưởng, Vạn Tượng.
    22/04/2013
  • Trong tập sách này, các tác giả không chỉ trình bày các sự kiện về quân sự, chính trị mà còn nêu lên nhiều sự kiện khác thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại....
    27/09/2012
  • "Việt Nam những sự kiện lịch sử (Từ khởi thủy đến 1858)" là cuốn sách ghi lại các sự kiện lịch sử nước nhà từ khởi thủy đến khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược vào giữa thế kỷ XIX.
    27/09/2012
  • Đại Nam liệt truyện là một bộ sách có quy mô khá đồ sộ trong kho tàng thư tịch cổ viết bằng chữ Hán của Việt Nam, do cơ quan làm sử chính thức của nhà Nguyễn là Quốc sử quán biên soạn vào giữa thế kỷ XIX.
    24/09/2012
  • Lịch triều hiến chương loại chí là bộ bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam. Có nghĩa là Phép tắc các triều đại chép theo thể phân loại do Phan Huy Chú soạn trong 10 năm (1809-1819).
    23/09/2012
  • Là bộ sử có giá trị to lớn và quan trọng bậc nhất trong nền sử học Việt Nam thời kỳ cổ trung đại. Bộ chính sử do Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê biên soạn.
    22/09/2012
  • Cuốn sách Cổ luật Việt Nam gốm 2 bộ Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ. Quốc triều hình luật (còn gọi là bộ luật Hồng Đức) và Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là bộ luật Gia Long) là hai bộ cổ luật duy nhất còn lại cho đến nay của các triều đại phong kiến Việt Nam; là những di sản quý giá có giá trị tham khảo về nhiều mặt cho chúng ta ngày nay.
    19/09/2012
  • Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ là một bộ sách được biên soạn dưới triều Nguyễn theo thể loại Hội điển. Thể loại này được đặt ra nhằm ghi chép lại các điển pháp, quy chuẩn và các dữ kiện liên quan đến tổ chức và hoạt động của một triều đại, một Nhà nước.
    19/09/2012
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1