Trận “Điện Biên Phủ trên không” năm 1972 không chỉ là một cuộc đối đầu quân sự có ý nghĩa quyết định trong tiến trình cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam, mà còn là một sự kiện thu hút sự quan tâm sâu rộng của dư luận quốc tế.
Trong những ngày cuối tháng 12 năm
1972, quân và dân tại nhiều thành phố lớn ở miền Bắc đã kiên cường chống trả lại
các trận không kích điên cuồng của Mỹ trong cái gọi là Chiến dịch Linebacker II
(hay chiến dịch ném bom lễ Giáng Sinh - The Christmas Bombing). Mỹ đã huy động
các loại máy bay ném bom chiến thuật hiện đại nhất, trong đó có B-52, niềm tự
hào của không quân Hoa Kỳ tham gia chiến dịch. Các trận không kích của Mỹ đã gây
ra những thiệt hại nghiêm trọng cho cơ sở hạ tầng, kho tàng quân sự của ta. Tuy
nhiên, với tinh thần chiến đấu anh dũng, “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”,
quân và dân miền Bắc đã đánh bại hoàn toàn chiến dịch ném bom Linebacker II, đập
tan âm mưu của chính quyền Nixon, buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán và ký kết
Hiệp định Paris vào tháng 1/1973. Chiến thắng vang dội này đã đi vào lịch sử
dân tộc dưới tên gọi “Điện Biên Phủ trên không”. Ảnh hưởng của sự kiện này
không chỉ tác động đến Mỹ hay Việt Nam mà còn lan rộng trên khắp thế giới. Dư
luận quốc tế đã dành sự quan tâm đặc biệt đến những diễn biến trong trận đánh
quyết chiến chiến lược này.

Máy bay B-52 của Mỹ oanh tạc bầu trời miền Bắc và sự chuẩn bị chiến đấu của nhân dân Việt Nam. Nguồn: https://vov.vn/chinh-tri/chien-thang-dien-bien-phu-tren-khong-suc-manh-van-hoa-giu-nuoc-dac-sac-viet-nam-post989690.vov, truy cập 28-10-2026.
Trận Điện Biên Phủ trên không năm
1972, còn được phía Mỹ gọi là Chiến dịch Linebacker II hay “Chiến dịch ném bom
Giáng sinh” (Christmas Bombing), là chiến dịch tập kích đường không chiến lược
diễn ra trong 12 ngày đêm cuối tháng 12 năm 1972, nhằm vào Hà Nội, Hải Phòng và
nhiều địa phương khác ở miền Bắc Việt Nam. Lý do mà phía Mỹ đưa ra để biện minh
cho việc thực hiện một chiến dịch không kích điên cuồng là “nhằm buộc phía Bắc
Việt phải quay lại bàn đàm phán”[1]. Thế
nhưng, trên thực tế, tham vọng của chính quyền Nixon còn nhiều hơn thế, theo tờ
New York Times, mục tiêu mà chính quyền Mỹ đặt ra khi tiến hành các cuộc
ném bom ác liệt ở Hà Nội và Hải Phòng bao gồm: “Thứ nhất, làm suy giảm số lượng
binh sĩ và viện trợ từ miền Bắc vào miền Nam; Thứ hai, khiến cho “Bắc Việt” phải
trả một cái giá đắt khi tiến hành hỗ trợ cho cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam; Thứ
ba, bẻ gãy ý chí của Bắc Việt; Thứ tư, buộc Bắc Việt phải nhượng bộ trong đàm
phán hòa bình; Thứ năm, sốc lại tinh thần cho chính quyền Sài Gòn và quân Mỹ ở
miền Nam Việt Nam”[2].
Trong các lí do vừa nêu, lí do thứ tư được xem là lí do quan trọng nhất. Với
Chiến dịch Linebacker II, Mỹ muốn đánh một đòn phủ đầu để đảm bảo thế thượng
phong trên bàn đàm phán, buộc chính quyền cách mạng Việt Nam phải chấp nhận các
điều khoản có lợi cho Mỹ nhằm kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam trên
thế thắng. Để đạt được âm mưu của mình, Mỹ đã triển khai một lượng lớn máy bay
ném bom chiến thuật B-52 - loại máy bay hiện đại nhất của Mỹ lúc đó cùng nhiều
loại máy bay hỗ trợ và phương tiện chiến tranh khác trong Chiến dịch Linebacker
II. Tác giả Milan N. Vego cho rằng có tới hơn 200 máy bay B-52 đã được sử dụng
trong suốt chiến dịch này[3].
Còn theo cuốn sách “Giới thiệu về lực lượng không quân Mỹ”, Mỹ đã huy động
khoảng 99 máy bay B-52G và 50 máy bay B-52D từ căn cứ quân sự GUAM và 54 máy
bay B-52D từ căn cứ không quân ở Thái Lan để triển khai Chiến dịch Linebacker
II[4].
Chính vì sự huy động lực lượng lớn này, Chiến dịch Linebacker II được đánh giá
là chiến dịch ném bom lớn nhất mà Mỹ từng triển khai kể từ sau Chiến tranh thế giới
thứ Hai[5].
Những khẩu đội pháo cao xạ bảo vệ bầu trời Hà Nội. Nguồn: https://vov.vn/chinh-tri/chien-thang-dien-bien-phu-tren-khong-suc-manh-van-hoa-giu-nuoc-dac-sac-viet-nam-post989690.vov, truy cập 28-10-2026.
Về diễn biến của trận chiến Điện Biên Phủ trên không, nhà nghiên cứu Walter J Boyne đã nhận định như
sau: “Trong chiến dịch này, các máy bay B-52 đã thực hiện 729 lượt trong tổng
số 741 lượt không kích và thả xuống 15.000 tấn bom. Trong khi đó, phía quân đội
miền Bắc Việt Nam đã khai hỏa khoảng 1.240 tên lửa SAM. Không quân Mỹ mất 15
máy bay B-52, với tỷ lệ tổn thất khoảng 2%. Khoảng 92 thành viên của các phi
hành đoàn B-52 chịu thương vong, trong đó 26 phi công bị thương (phục hồi sau
đó), 25 người bị cho là mất tích trong khi làm nhiệm vụ, 33 phi công trở thành
tù nhân chiến tranh, 8 người bị chết khi đang làm nhiệm vụ. Bên cạnh đó, Mỹ còn
mất hai chiếc máy bay chiến đấu F-111A, ba chiến F-4, hai A-6, một EB-66, một
HH-53 và một RA-5C”.
Về kết quả của trận
chiến Điện Biên Phủ trên không, xuất hiện ngày
càng nhiều ý kiến từ phía dư luận quốc tế, đặc biệt là các học giả, nhà nghiên
cứu sử học cho rằng Mỹ đã thất bại, hoặc chí ít đã không đạt được các mục tiêu
đề ra khi tiến hành triển khai chiến dịch ném bom miền Bắc Việt Nam. Phía Mỹ
luôn tự hào cho rằng B-52 là “pháo đài bay” bất khả chiến bại và việc đưa máy
bay B-52 vào không kích các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng… sẽ khiến miền
Bắc phải hứng chịu sự thiệt hại nặng nề, từ đó sẽ nhượng bộ Mỹ trên bàn đàm
phán với những điều khoản có lợi cho nước Mỹ. Nhưng thực tế đã chứng minh điều
ngược lại. Tờ New York Times đã đăng
tải một loạt bài viết, thẳng thắn đánh giá những thiệt hại của Mỹ trong Chiến dịch
Linebacker II. Trong bài viết “Việc ngừng
ném bom ở miền Bắc Việt Nam được tuyên bố tiếp tục diễn ra”, đăng tải trên New
York Times ngày 26/12/1972, nhà báo Joseph B. Treaster đã thẳng thắn chỉ ra
những nguyên nhân buộc Nhà Trắng và Lầu Năm góc phải tạm dừng các cuộc ném bom,
trong đó có những thiệt hại ngoài dự kiến của Mỹ khi tiến hành cuộc ném bom miền
Bắc. Người phát ngôn của Bộ Quốc phòng Mỹ đã phải thừa nhận có ít nhất 11 pháo
đài bay B-52 trị giá 8 triệu USD và 6 máy bay ném bom cỡ nhỏ hơn đã bị hạ khi
đang làm nhiệm vụ[6].
Danh sách phi công Mỹ mất tích trong Chiến dịch Linebacker II cũng ngày một dài
thêm. Tính đến ngày 26/12/1972, 57 phi công được phía Mỹ tuyên bố “hi sinh” hoặc
mất tích khi đang làm nhiệm vụ[7].
Thực trạng thiệt hại nặng nề của quân đội Mỹ trong chiến dịch ném bom dịp giáng
sinh đã khiến một quan chức quốc phòng cấp cao của Mỹ phải thốt lên rằng “Chúng
ta đã mất quá nhiều máy bay. Tôi không nghĩ rằng chúng ta đang nhận ra cái giá
mà chúng ta phải trả là quá cao”[8]. Các quan
chức Mỹ thậm chí còn cho rằng thiệt hại của Mỹ thậm chí còn cao hơn so với những
công bố chính thức. Điều này giải thích sự chênh lệch giữa các công bố từ phía
Mỹ và chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa[9]. Chính quyền
Mỹ muốn đưa ra một số liệu “hợp lí” nhằm tránh làm trầm trọng hơn làn sóng phản
chiến vốn đang diễn ra rộng khắp nước Mỹ khi đó và đảm bảo cho vị thế của Tổng
thống Nixon trên chính trường Mỹ.
Marshall Michael, chuyên gia nghiên cứu về Chiến dịch
Linebacker II trong lịch sử không quân Mỹ cũng nhận định rằng: “Sau này hai
phía mới chỉ dừng ở việc cùng công nhận rằng Linebacker II là trận đấu quan trọng
quyết định cục diện chiến tranh. Đối với người Mỹ, Hiệp định hòa bình Paris đã
giúp Tổng thống Nixon hoàn thành mục tiêu đưa tù binh về nước và chấm dứt sự
can dự của Mỹ vào cuộc chiến Việt Nam mà vẫn thực hiện cam kết làm chỗ dựa cho
chính quyền Nam Việt Nam. Người Việt Nam lại cho rằng chiến dịch ném bom của Mỹ
là nhằm mục đích buộc họ khuất phục và rút quân khỏi miền Nam. Vậy nên khi bản
Hiệp định cho phép họ vẫn được giữ quân ở miền Nam, người Việt Nam cho rằng chiến
dịch Linebacker II đã thất bại và niềm tin này càng được củng cố khi quân đội của
họ trú quân ở phía nam tiến hành chiến dịch tổng tiến công thống nhất đất nước
vào năm 1975. Nhưng để hiểu một cách tường tận sự khác biệt quan điểm này, tôi
đã phải ghi nhận cách hiểu của người Việt rằng Linebacker II đơn giản chỉ là một
thắng lợi trong chuỗi thắng lợi trong suốt 30 năm kháng chiến giành độc lập. Bằng
chứng cho thắng lợi đó là việc họ đã hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước”[10].
Charles Barrows, đại úy hoa tiêu B-52 bị bắt làm tù binh
đặt vấn đề ngay khi còn ngồi ở Hỏa Lò: “Hệ thống điện tử trên máy bay B-52 rất
tinh vi và đắt tiền nhưng vẫn không gây nhiễu nổi rađa Bắc Việt. Siêu pháo đài
bay B-52 đã cải tiến nhiều lần, máy móc rất tốt... Các phi công B-52 được huấn
luyện công phu, thành thạo các chiến thuật hiện đại và B-52 được bảo vệ dày đặc,
nhưng vẫn bị bắn rơi vì đạn phòng không... Không quân chiến lược của Mỹ không
thể chịu đựng nổi tỷ lệ tổn thất về B-52 trên bầu trời Hà Nội”[11].
Còn nhà nghiên cứu Dale Walton nhận
định về thất bại của Mỹ như sau: “Chiến dịch Linebacker II không đơn giản chỉ
là một chiến dịch ít tốn kém đối với phía Mỹ. Trong ba đêm đầu tiên của chiến dịch
này, Mỹ đã mất tới 9 máy bay B-52”[12]. Tương tự
với ý kiến của Dale Walton, nhà nghiên cứu Geoffrey Perret cho rằng trên bàn đàm
phán năm 1973, Tổng thống Nixon cuối cùng cũng phải thuận theo những yêu cầu của
chính quyền cách mạng Việt Nam. Đặc biệt, phía Mỹ phải thừa nhận rằng quân và
dân miền Bắc Việt Nam đã “đánh bại chiến dịch Linebacker II”[13].
Về phản ứng của dư luận quốc tế đối với trận Điện
Biên Phủ trên không, nhiều nhà lãnh đạo và
các lực lượng tiến bộ trên thế giới đã lên án mạnh mẽ chiến dịch không kích quy
mô lớn của chính quyền Mỹ nhằm vào các tỉnh thành ở miền Bắc Việt Nam trong dịp
Giáng sinh, cho rằng đây là hành động tàn bạo và gây ra những hậu quả nghiêm trọng
đối với dân thường.
Thụy Điển là một trong những quốc
gia phương Tây đi đầu trong nỗ lực phản đối chiến tranh ở Việt Nam, đặc biệt là
Chiến dịch Linebacker II của Mỹ. Khi tin tức Mỹ ném bom vào Bệnh viện Bạch Mai (Hà
Nội), nơi Thụy Điển có những trợ giúp về trang thiết bị y tế cho phía Việt Nam,
lãnh đạo quốc gia Bắc Âu này đã lên tiếng phản đối rất gay gắt. Thủ tướng Thụy
Điển Olof Palme đã soạn thảo một bài phát biểu, trong đó ông so sánh việc Mỹ
ném bom ở miền Bắc Việt Nam không khác gì hàng loạt tội ác của phát xít Đức
trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai[14]. Bài phát
biểu này sau đó đã được thông tin trên báo chí. Sự phản đối gay gắt của một
nguyên thủ quốc gia ở châu Âu đối với Mỹ là một đòn giáng vào uy tín chính trị
của Tổng thống Nixon trong bối cảnh Nixon đang vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của
dư luận Mỹ liên quan đến cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam. Quan hệ giữa Mỹ
và Thụy Điển trở nên căng thẳng ngay sau đó. Mỹ đã không tiến hành các nghi thức
ngoại giao chào đón đại sứ mới của Thụy Điển Yngve Möller cũng như cắt giảm một
số nhân sự ngoại giao của Mỹ tại Stockholm[15]. Thụy Điển
không phải là trường hợp duy nhất, làn sóng phản đối trong các nhà lãnh đạo,
trong dư luận quốc tế đối với chiến dịch ném bom lễ giáng sinh của Mỹ ở Việt
Nam tiếp tục dâng cao, tạo ra áp lực lớn đối với chính quyền Nixon. Australia,
quốc gia từng tham chiến với Mỹ trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam, đã gửi công
hàm phản đối về quyết định ném bom trở lại miền Bắc Việt Nam của Tổng thống
Nixon[16].
Chính quyền của Thủ tướng Australia Gough Whitlam thậm chí còn chỉ trích công
khai trên truyền thông về quyết định trên của chính quyền Mỹ. Phản ứng của Australia
đã khiến những người đứng đầu chính quyền Mỹ bất ngờ và tức giận. Cố vấn an
ninh Kissinger thậm chí phải thốt lên rằng “Làm sao một đồng minh (của Mỹ) lại
có thể cư xử như thế”[17].
Vatican cũng đã lên tiếng. Trong thông điệp hàng năm của Giáo hội ở Vatican đối
với thế giới, Giáo hoàng Paul VI đã chỉ trích việc Mỹ tiến hành ném bom miền Bắc
Việt Nam tạo ra “sự trì hoãn đau khổ”[18] đối với
những người dân vô tội. Báo chí quốc tế cũng đã lên tiếng phản ứng trước chiến
dịch ném bom của chính quyền Mỹ. Tờ London Daily Mirror (Anh) cho rằng các cuộc
ném bom của Mỹ ở miền Bắc Việt Nam đã khiến cho “toàn bộ thế giới phải giật
mình trong giận dữ”. Còn tờ Hamburg’s Die Zeit phản ứng mạnh mẽ rằng “ngay
cả đồng minh cũng phải gọi đây là một tội ác chống lại loài người”[19].
Không chỉ phải đối mặt với làn sóng
phản đối từ dư luận quốc tế, cuộc tập kích bằng B-52 của Mỹ trong chiến dịch
ném bom lễ giáng sinh cũng gặp phải sự chỉ trích gay gắt của chính dư luận Mỹ[20].
Theo tờ Congressional Quarterly (Washington), trong một cuộc thăm dò được
thực hiện vào tháng 12/1972 về phản ứng của 73 thượng nghị sĩ Mỹ về việc Mỹ ném
bom ở Hà Nội, Hải Phòng, có tới 45 người phản đối vụ đánh bom và chỉ có 19 người
ủng hộ trong khi một số khác không có ý kiến. Quan trọng hơn, 45 trong số 73 thượng
nghị sĩ cho biết họ sẽ ủng hộ luật chấm dứt chiến tranh (trong khi chỉ có 25
người phản đối và 3 người chưa quyết định)[21]. Thượng
nghị sĩ Mike Mansfield của bang Montana, một thành viên của Đảng Dân chủ cho rằng
“Chiến thuật đánh bom đến nay đã triển khai được 8 năm. Chiến thuật này đã
không tạo ra được bất cứ kết quả nào trong quá khứ… Đây là một trò chơi quyền lực
thô bạo đối với cuộc sống của những người dân Mỹ, cũng như người dân nước khác,
và do đó, nó thật ghê rợn”[22].
Đồng quan điểm với Thượng nghị sĩ Mike Mansfield, Thượng nghị sĩ Harold E. Hughes của bang Iowa cũng đưa ra nhận định rằng
“Chiến dịch ném bom là vô ích và vô đạo đức”. Ông còn so sánh chiến dịch ném
bom mùa lễ giáng sinh năm 1972 là một tội ác man rợ không khác những gì đã xảy
ra ở Hiroshima and Nagasaki (Nhật Bản)”[23]. Rõ ràng,
quyết định ném bom trở lại miền Bắc đã tạo ra những hiệu ứng tiêu cực đối với
chính quyền Mỹ. Những toan tính của Nixon khi triển khai Chiến dịch Linebacker
II đã thất bại ngay tại Washington DC.
Như vậy, chiến dịch ném bom tại miền Bắc Việt Nam của
chính quyền Mỹ trong những ngày cuối tháng 12/1972 đã thu hút sự quan tâm đặc
biệt của dư luận quốc tế. Đặc biệt, chiến dịch này đã tạo ra làn sóng phản đối
dữ dội trong dư luận quốc tế. Ngay cả những quốc gia đã từng sát cánh hoặc ủng
hộ Mỹ trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam như Australia, Anh, hay Italia cũng bày
tỏ thái độ phản đối Mỹ. Như Kissinger đã phải thốt lên: “Không một đồng minh
nào ủng hộ chúng ta hay thậm chí tỏ ra thông cảm cho vị trí của chúng ta”[24]. Rõ
ràng, trước hành động ngoan cố, tàn bạo của chính quyền Nixon trước giờ đàm
phán đã khiến Mỹ gần như bị “cô lập” trên trường quốc tế. Ở trong nước, chính
quyền Mỹ đã thất bại trong việc thuyết phục người dân Mỹ tiếp tục theo đuổi cuộc
chiến tranh kéo dài, tốn kém cả về nhân mạng lẫn tài chính ở Việt Nam. Nói cách
khác, nước Mỹ đã thất bại ngay chính trên sân nhà của họ. Sức ép từ dư luận
trong nước và quốc tế cùng với sự bùng phát mạnh mẽ của phong trào phản chiến
trở thành một trong những nhân tố thúc đẩy chính quyền Mỹ phải đi đến quyết định
kết thúc cuộc chiến tranh phi nghĩa ở Việt Nam.
Trong khi chỉ trích chiến dịch ném bom của Mỹ ở Hà Nội và
Hải Phòng, dư luận quốc tế cũng dành những lời ca ngợi cho cuộc chiến đấu quả cảm
12 ngày đêm của quân và dân miền Bắc. Đại tá Markov Lev Nicolayevich (người từng
giảng dạy tại Trường Sĩ quan Phòng không và huấn luyện các kíp trắc thủ tên lửa
cho Việt Nam từ tháng 10-1971 đến
tháng 8-1972) ca ngợi rằng: “Tôi đã nghiên cứu kỹ chiến lược chiến tranh của
nhiều nước và thấy rằng, trên thế giới ít có cuộc chiến nào mà bên phòng vệ thắng
bên tấn công, nhất là khi có sự chênh lệch quá lớn về tiềm lực quân sự, vũ khí
trang bị như giữa quân đội Việt Nam và quân đội Mỹ, đặc biệt là “siêu pháo đài
bay B-52”, mà người Mỹ khoe là không thể bị bắn hạ! Vậy mà Việt Nam đã đánh thắng
rất giòn giã. Đó thực sự là cuộc chiến tranh của trí tuệ với trí tuệ, thông
minh “chọi” thông minh, chứ không phải là cuộc chiến tranh thông thường!”.
Như vậy, trận “Điện Biên Phủ trên không”
năm 1972 không chỉ là một cuộc đối đầu quân sự có ý nghĩa quyết định trong tiến
trình cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam, mà còn là một
sự kiện thu hút sự quan tâm sâu rộng của dư luận quốc tế. Chiến dịch Linebacker
II của chính quyền Nixon, với quy mô ném bom lớn chưa từng có kể từ sau Chiến
tranh thế giới thứ Hai, được kỳ vọng sẽ tạo sức ép buộc Việt Nam phải chấp nhận
những điều kiện có lợi cho Mỹ trên bàn đàm phán. Tuy nhiên, thực tiễn lịch sử
đã chứng minh rằng những tính toán chiến lược đó không đạt được mục tiêu đề ra.
Sự kiên cường chiến đấu của quân và dân miền Bắc, cùng với khả năng tổ chức
phòng không hiệu quả, đã làm thất bại ý đồ sử dụng sức mạnh không quân để khuất
phục ý chí của Việt Nam. Từ góc nhìn quốc tế, chiến dịch ném bom cuối tháng
12/1972 đã tạo ra một làn sóng phản ứng mạnh mẽ, trong đó phần lớn dư luận, các
nhà lãnh đạo và giới nghiên cứu tại nhiều quốc gia đều bày tỏ sự phản đối trước
mức độ tàn phá và những tổn thất mà chiến dịch gây ra đối với nhân dân Việt
Nam. Những tiếng nói phản đối từ các quốc gia đồng minh của Mỹ, các tổ chức tôn
giáo, giới chính trị và truyền thông quốc tế cho thấy cuộc chiến tranh Việt Nam
ngày càng làm suy giảm hình ảnh và vị thế của Mỹ trên trường quốc tế. Đồng thời,
phong trào phản chiến trong chính nước Mỹ cũng phản ánh sự thay đổi trong nhận
thức của một bộ phận lớn người dân và giới chính trị Mỹ về tính chất, mục tiêu
và hệ quả của cuộc chiến tranh. Đối lập với thái độ phản đối chính quyền Mỹ, dư
luận quốc tế giành sự ủng hộ lớn lao đối với cuộc đấu tranh của quân và dân ta.
Sự ủng hộ của dư luận thế giới đối với Việt Nam trong trận Điện Biên Phủ trên
không năm 1972 đã thể hiện tinh thần đoàn kết quốc tế, tạo thêm nguồn động viên
to lớn về tinh thần và chính trị, góp phần củng cố ý chí chiến đấu, tiếp thêm sức
mạnh cho nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền dân tộc.
Chú thích: