image banner

NGUYÊN PHI Ỷ LAN VỚI VƯƠNG TRIỀU LÝ
Sinh thời, Nguyên phi Ỷ Lan là người tài sắc vẹn toàn, có nhiều đóng góp cho triều đình Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông nói riêng cũng như vương triều Lý nói chung trên các mặt: chính trị, văn hóa, tư tưởng, đặc biệt là về Phật giáo
 

Ỷ Lan (? - 1117)[1], là vợ vua Lý Thánh Tông, quê ở hương Thổ Lỗi, sau đổi là hương Siêu Loại, hương Siêu Loại thuộc địa phận huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh; các xã Lệ Chi (nay là xã Thuận An), Dương Quang (nay là xã Thuận An) và Dương Xá (nay là xã Gia Lâm), huyện Gia Lâm, Hà Nội; các xã Lạc Đạo (nay là xã Lạc Đạo và xã Đại Đồng), Chỉ Đạo (nay thuộc xã Lạc Đạo), Đại Đồng (nay vẫn là xã Đại Đồng), huyện Văn Lâm và Thị trấn Như Quỳnh (nay là xã Như Quỳnh), tỉnh Hưng Yên ngày nay[2]. Bà còn có các tên gọi khác là Lê Khiết Nương hoặc Lê Thị Khiết Nương, Lê Thị Yến Loan, Bà Tấm,... xuất thân trong một gia đình nông dân[3] làm nghề trồng dâu, nuôi tằm. Năm 1063, vua Lý Thánh Tông trên đường đi cầu tự, cảm mến tài sắc của bà, bèn đưa vào cung và lấy làm vợ, cũng từ đây, bà được gọi là Nguyên phi Ỷ Lan.

Anh-tin-bai
Tượng đài Hoàng Thái hậu Ỷ Lan tại chùa Bà Tấm, (ở Dương Xá, Gia Lâm, Hà Nội) (Nguồn: Đ.D.H)    

Thời vua Lý Thánh Tông (1055-1072), Nguyên phi Ỷ Lan đã có nhiều đóng góp cho triều đình, trong đó có việc bà đã thay vua Lý Thánh Tông lo việc nước khi vua đi phủ dụ Chiêm Thành, bà đã cho mở mang đạo Phật và quan tâm đến đời sống của nhân dân.       

Chiêm Thành là quốc gia ở phía Nam Đại Việt, thỉnh thoảng vẫn xâm lấn lãnh thổ nhà Lý, nên vào năm 1069, vua Lý Thánh Tông đã dẫn quân phủ dụ Chiêm Thành để làm yên biên giới phía Nam. Trong lần dẫn quân này, triều đình đã bắt được vua Chiêm Thành là Chế Củ, cùng 50.000 dân. Tuy nhiên, cuộc thân chinh này vẫn chưa đạt được mục đích, nên vua liền trở về Đại Việt. Trên đường về Thăng Long, vua nghe tin Nguyên phi Ỷ Lan đã sắp đặt mọi việc triều chính trong những tháng ngày vua đi xa. Nghe tin như vậy, vua nói rằng: "Nguyên phi là phụ nữ còn làm được như thế, ta là nam nhi lại chẳng được việc gì hay sao?"[4]. Sau đó, vua Lý Thánh Tông đã đem quân quay lại và giành thắng lợi trên đất Chiêm Thành.

 Thắng trận, tháng 7-1069 vua về tới Kinh đô Thăng Long, làm lễ báo công ở Thái miếu và cho biết vua Chiêm Thành là Chế Củ đã dâng đất gồm các châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính nay thuộc tỉnh Quảng Trị, để chuộc tội với Đại Việt[5].          

Năm 1072, sau khi vua Lý Thánh Tông qua đời, Hoàng Thái tử Lý Càn Đức mới 7 tuổi, được đưa lên nối ngôi, trở thành vua Lý Nhân Tông. Trong bối cảnh đó, Nguyên phi Ỷ Lan cùng Lý Thường Kiệt, Lý Đạo Thành,... đồng lòng lo việc nước. Trong thời gian này, triều đình nhà Lý phải sắp đặt nhiều việc lớn như: năm 1075, xuống chiếu tuyển Minh kinh bác học và thi Nho học tam trường; trong các năm từ 1075 đến 1077, triều đình đã cử lực lượng quân đội dưới sự chỉ huy của Lý Thường Kiệt đánh tan cuộc xâm lược của nhà Tống.   

Cuộc kháng chiến chống Tống (1075-1077) thắng lợi và những khó khăn của đất nước tạm qua đi, triều đình nhà Lý đã có chiến lược ổn định tình hình biên giới phía Nam và phía Bắc, bằng việc năm 1073, cử Thái sư Lý Đạo Thành vào trấn giữ châu Nghệ An, đến năm 1084, lại cử Lê Văn Thịnh lên trại Vĩnh Bình[6] bàn việc cương giới với nhà Tống. Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết vào năm 1097: "Bấy giờ trong nước giàu đủ, Thái hậu làm nhiều chùa Phật"[7]. Trước đó, sách này cũng cho biết vào các năm 1080, triều đình đã đúc chuông Quy điền ở chùa Diên Hựu (tức chùa Một cột, Hà Nội ngày nay); năm 1086, làm chùa ở núi Đại Lãm (tức Chùa Dạm); năm 1088, xây tháp chùa Lãm Sơn (cũng là chùa Dạm, nay thuộc phường Nam Sơn, tỉnh Bắc Ninh)[8]. Ngoài ra, nhiều ngôi chùa, tháp khác đều được xây dựng trong thời gian vua Lý Nhân Tông trị vì cùng những cố gắng của Nguyên phi Ỷ Lan như: Chùa Một Mái xây năm 1099 (ở thôn Hoàng Xá, xã Quốc Oai, Hà Nội); chùa Phật Tích xây năm 1100 (ở xã Phật Tích, tỉnh Bắc Ninh); chùa Báo Ân xây năm 1057 (ở tỉnh Thanh Hóa); Tháp Chương Sơn xây năm 1108 (ở xã Tân Minh, tỉnh Ninh Bình). Năm 1115, Nguyên phi Ỷ Lan đã cho xây dựng Linh Nhân Tư Phúc tự, dân gian gọi là Chùa Bà Tấm[9] (ở Dương Xá, xã Gia Lâm, Hà Nội).   

Thái hậu Ỷ Lan là người coi trọng Phật giáo, lấy tư tưởng từ bi của đạo Phật làm lẽ sống, nên vào năm 1103 bà đã phát tiền trong kho ở Kinh thành Thăng Long làm việc thiện, việc này đã được Đại Việt sử ký toàn thư chép: "Con gái nhà nghèo đến phải cầm thân làm mướn, con trai nhà nghèo đến nỗi không có vợ, đó là cùng dân trong thiên hạ. Thái hậu đổi đời cho họ, cũng là việc làm nhân chính vậy"[10].       

Năm 1116, Thái hậu Ỷ Lan đã đến thăm chùa Phổ Ninh[11] và nói chuyện về đạo Phật với Quốc sư Thông Biện trụ trì ở đây. Bài kệ Sắc không dưới đây phản ảnh một phần cuộc gặp gỡ này:   

                           "Sắc thị không, không tức sắc,

                           Không thị sắc, sắc tức không.

                           Sắc, không câu bất quản,

                           Phương đắc khế chân tông".

                Dịch nghĩa

                          "Sắc là không, không tức là sắc,

                           Không là sắc, sắc tức không.

                           Sắc không đều chẳng quản,

                           Mới khế hợp chân tông"[12].  

Đặc biệt, vào năm 1117 trước nạn trộm trâu và nhận thấy vai trò quan trọng của sức kéo trong sản xuất nông nghiệp, Thái hậu Ỷ Lan đã lên tiếng: "Gần đây ở Kinh thành, hương ấp, có nhiều người trốn tránh, lấy việc ăn trộm trâu làm nghề nghiệp, trăm họ cùng quẫn, mấy nhà cày chung một con trâu. Trước đây, ta đã từng nói đến việc ấy nhà nước đã có lệnh cấm. Nay giết trâu lại càng nhiều hơn trước"[13].        

Trong khi nền thái bình của Đại Việt đang được củng cố, thì ngày 25 tháng 7 năm 1117, Thái hậu Ỷ Lan qua đời, bà được đưa về an táng ở Thọ Lăng, phủ Thiên Đức, quê hương nhà Lý (thuộc vùng Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh ngày nay)[14].

Anh-tin-bai

Hoành phi ghi chữ: "Linh Nhân Tư phúc tự", tại chùa Bà Tấm (ở Dương Xá,Gia Lâm, Hà Nội) (Nguồn: Đ.D.H)

Sinh thời, Nguyên phi Ỷ Lan là người tài sắc vẹn toàn, có nhiều đóng góp cho triều đình Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông nói riêng cũng như vương triều Lý nói chung trên các mặt: chính trị, văn hóa, tư tưởng, đặc biệt là về Phật giáo. Nhiều chùa, tháp được xây dựng trong thời gian Thái hậu Ỷ Lan ngự cung, đến nay vẫn để lại dấu tích và giá trị cho việc nhận diện sự phát triển của Phật giáo thời Lý.   

Ngày nay, một số nơi có đền phụng thờ bà, phân bố trên địa bàn Gia Lâm, Hà Nội; Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên; Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh[15]... Sâu đậm hơn, trong đời sống một số làng xã của các khu vực nêu trên, đã chuyển hóa hình tượng của bà thành hình tượng cô Tấm theo truyền thuyết dân gian. Qua sân khấu chèo, tác phẩm Bài ca giữ nước của tác giả Tào Mạt ra đời trong những năm 80 của thế kỷ XX, đã tái hiện sinh động hình ảnh của Nguyên phi Ỷ Lan trong bối cảnh Đại Việt khi đó. Ngoài ra, một số nhà nghiên cứu đã cho rằng: Cuối thế kỷ XI đầu thế kỷ XII, có thể gọi là "thời đại Ỷ Lan" của Thăng Long-Đại Việt[16]. Cùng với đó, Thành phố Hà Nội đã đặt tên một tuyến đường ở Gia Lâm mang tên đường Ỷ Lan.

Chú thích:


[1] Sách Đại Việt sử ký toàn thư và các sách sau này viết về Ỷ Lan đều không biết bà sinh năm nào, nhưng tượng đài của Ỷ Lan tại chùa Bà Tấm, xã Gia Lâm, Hà Nội, ghi: Hoàng Thái hậu Ỷ Lan (1044-1117).

[2] Xem: Hà Mạnh Khoa, Lê Quang Chắn (2015), Về đơn vị hành chính cấp hương và địa giới Hương Thổ Lỗi (Siêu Loại) thời Lý, trong Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam - Ủy ban Nhân dân tỉnh Hưng Yên (2015), Tài liệu Hội thảo khoa học: Linh nhân Hoàng thái hậu và Khu di tích đền Ghênh, Thị trấn Như Quỳnh, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, Hưng Yên, tháng 8, tr. 42.

[3] Về quê hương của bà vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau: Có ý kiến cho rằng bà sinh ra ở làng Phú Thị, tên Nôm là làng Sủi, thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội (xem: Trần Quốc Vượng, Vũ Tuấn Sán (2004), Hà Nội nghìn xưa, Nxb. Quân đội Nhân dân, Hà Nội, tr. 221; Đoàn Minh Tuấn, Ỷ Lan, trong Hội Văn nghệ Hà Nội (1976), Danh nhân Hà Nội, tập II, tr. 41; Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2005), Các triều đại Việt Nam, Nxb. Thanh Niên, Hà Nội,tr. 92); Có ý kiến cho rằng quê bà chưa được xác định cụ thể, mà nó nằm trong một không gian rộng, gồm Phú Thị, Yên Bình, Dương Xá (Gia Lâm-Hà Nội); Như Quỳnh (Văn Lâm-Hưng Yên) (xem: Xuân Châm (2007), Đâu là làng quê của Nguyên phi Ỷ Lan, Tạp chí Xưa và Nay, số 281, tháng 4, tr. 13).

[4] Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, sđd, tr. 275.

[5] Xem thêm Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, sđd, tr. 274-275.

[6] Trại Vĩnh Bình,Đại Việt sử ký toàn thư chú: Trại Vĩnh Bình của Tống thuộc đất châuUng, giáp với vùng Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn của Việt Nam. Xem Đại Việt sử ký toàn thư (1998), bản dịch, tập 2, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.18. 

[7] Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, sđd, tr. 283.

[8] Xem Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, sđd, tr. 280-282.

[9] Xem thêm Nguyễn Văn Đoàn (2014), Khảo cổ học với tu bổ, tôn tạo di tích (Qua trường hợp di tích đền-chùa Bà Tấm, Gia Lâm, Hà Nội), Tạp chí Di sản Văn hóa, số 4 (49), tr. 34.

[10] Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, sđd, tr. 284.   

[11] Chưa rõ chùa ở đâu.

[12] Viện Văn học (1977), Thơ văn Lý-Trần, tập 1, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 353.

[13] Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, sđd, tr. 287.

[14] Xem Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, sđd, tr. 288.

[15] Lê Hồng Lý (2015),Một vùng văn hóa về Nguyên phi Ỷ Lan, trongViện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam - Ủy ban Nhân dân tỉnh Hưng Yên (2015), Tài liệu Hội thảo khoa học: Linh nhân Hoàng thái hậu và Khu di tích đền Ghênh, Thị trấn Như Quỳnh, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, Hưng Yên, tháng 8, tr. 84.

[16] Trần Quốc Vượng, Vũ Tuấn Sán (2004), Hà Nội nghìn xưa, sđd, tr. 219.

TS. Đỗ Danh Huấn, Viện Sử học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Tin nổi bật
  • Bộ sách gồm 10 tập, Viện Sử học dịch, Nxb KHXH xuất bản.
    23/04/2013
  • Đại Nam nhất thống chí đời Tự Đức là bộ sách địa lý học Việt Nam đầy đủ nhất dưới thời phong kiến. Đại Nam nhất thống chí theo bộ Đại Thanh nhất thống chí của Trung Quốc mà chia ra các mục như: phương vi, phân dã, kiến trí, duyên cách, phủ huyện, hình thế, khí hậu, phong tục, thành trì, học hiệu, hộ khẩu, điền phú, sơn xuyên, quan tấn, dịch trạm, thị lập, tứ miếu, tự quán, phân việt, thổ sản, v.v... Ngoài ra, Đại Nam nhất thống chí còn có quyển chép riêng về Cao Miên (Campuchia), Xiêm La, Miến Điện, Nam Chưởng, Vạn Tượng.
    22/04/2013
  • Trong tập sách này, các tác giả không chỉ trình bày các sự kiện về quân sự, chính trị mà còn nêu lên nhiều sự kiện khác thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại....
    27/09/2012
  • "Việt Nam những sự kiện lịch sử (Từ khởi thủy đến 1858)" là cuốn sách ghi lại các sự kiện lịch sử nước nhà từ khởi thủy đến khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược vào giữa thế kỷ XIX.
    27/09/2012
  • Đại Nam liệt truyện là một bộ sách có quy mô khá đồ sộ trong kho tàng thư tịch cổ viết bằng chữ Hán của Việt Nam, do cơ quan làm sử chính thức của nhà Nguyễn là Quốc sử quán biên soạn vào giữa thế kỷ XIX.
    24/09/2012
  • Lịch triều hiến chương loại chí là bộ bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam. Có nghĩa là Phép tắc các triều đại chép theo thể phân loại do Phan Huy Chú soạn trong 10 năm (1809-1819).
    23/09/2012
  • Là bộ sử có giá trị to lớn và quan trọng bậc nhất trong nền sử học Việt Nam thời kỳ cổ trung đại. Bộ chính sử do Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê biên soạn.
    22/09/2012
  • Cuốn sách Cổ luật Việt Nam gốm 2 bộ Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ. Quốc triều hình luật (còn gọi là bộ luật Hồng Đức) và Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là bộ luật Gia Long) là hai bộ cổ luật duy nhất còn lại cho đến nay của các triều đại phong kiến Việt Nam; là những di sản quý giá có giá trị tham khảo về nhiều mặt cho chúng ta ngày nay.
    19/09/2012
  • Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ là một bộ sách được biên soạn dưới triều Nguyễn theo thể loại Hội điển. Thể loại này được đặt ra nhằm ghi chép lại các điển pháp, quy chuẩn và các dữ kiện liên quan đến tổ chức và hoạt động của một triều đại, một Nhà nước.
    19/09/2012
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1