Sinh thời, Nguyên phi Ỷ Lan là người tài sắc vẹn toàn, có nhiều đóng góp cho triều đình Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông nói riêng cũng như vương triều Lý nói chung trên các mặt: chính trị, văn hóa, tư tưởng, đặc biệt là về Phật giáo
Ỷ Lan (? - 1117),
là vợ vua Lý Thánh Tông, quê ở hương Thổ Lỗi, sau đổi là hương Siêu Loại, hương
Siêu Loại thuộc địa phận huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh; các xã Lệ Chi (nay
là xã Thuận An), Dương Quang (nay là xã Thuận An) và Dương Xá (nay là xã Gia
Lâm), huyện Gia Lâm, Hà Nội; các xã Lạc Đạo (nay là xã Lạc Đạo và xã Đại Đồng),
Chỉ Đạo (nay thuộc xã Lạc Đạo), Đại Đồng (nay vẫn là xã Đại Đồng), huyện Văn
Lâm và Thị trấn Như Quỳnh (nay là xã Như Quỳnh), tỉnh Hưng Yên ngày nay. Bà còn có các tên gọi khác là Lê
Khiết Nương hoặc Lê Thị Khiết Nương, Lê Thị Yến Loan, Bà Tấm,... xuất thân
trong một gia đình nông dân
làm nghề trồng dâu, nuôi tằm. Năm 1063, vua Lý Thánh Tông trên đường đi cầu tự,
cảm mến tài sắc của bà, bèn đưa vào cung và lấy làm vợ, cũng từ đây, bà được gọi
là Nguyên phi Ỷ Lan.
Tượng đài Hoàng Thái hậu Ỷ Lan tại chùa Bà Tấm, (ở Dương Xá, Gia Lâm, Hà Nội) (Nguồn: Đ.D.H)
Thời
vua Lý Thánh Tông (1055-1072), Nguyên phi Ỷ Lan đã có nhiều đóng góp cho triều
đình, trong đó có việc bà đã thay vua Lý Thánh Tông lo việc nước khi vua đi phủ
dụ Chiêm Thành, bà đã cho mở mang đạo Phật và quan tâm đến đời sống của nhân
dân.
Chiêm
Thành là quốc gia ở phía Nam Đại Việt, thỉnh thoảng vẫn xâm lấn lãnh thổ nhà
Lý, nên vào năm 1069, vua Lý Thánh Tông đã dẫn quân phủ dụ Chiêm Thành để làm
yên biên giới phía Nam. Trong lần dẫn quân này, triều đình đã bắt được vua Chiêm
Thành là Chế Củ, cùng 50.000 dân. Tuy nhiên, cuộc thân chinh này vẫn chưa đạt
được mục đích, nên vua liền trở về Đại Việt. Trên đường về Thăng Long, vua nghe
tin Nguyên phi Ỷ Lan đã sắp đặt mọi việc triều chính trong những tháng ngày vua
đi xa. Nghe tin như vậy, vua nói rằng: "Nguyên
phi là phụ nữ còn làm được như thế, ta là nam nhi lại chẳng được việc gì hay
sao?". Sau
đó, vua Lý Thánh Tông đã đem quân quay lại và giành thắng lợi trên đất Chiêm
Thành.
Thắng
trận, tháng 7-1069 vua về tới Kinh đô Thăng Long, làm lễ báo công ở Thái miếu
và cho biết vua Chiêm Thành là Chế Củ đã dâng đất gồm các châu Địa
Lý, Ma Linh, Bố Chính nay thuộc tỉnh Quảng Trị, để chuộc tội với Đại Việt.
Năm
1072, sau khi vua Lý Thánh Tông qua đời, Hoàng Thái tử Lý Càn Đức mới 7 tuổi,
được đưa lên nối ngôi, trở thành vua Lý Nhân Tông. Trong bối cảnh đó, Nguyên
phi Ỷ Lan cùng Lý Thường Kiệt, Lý Đạo Thành,... đồng lòng lo việc nước. Trong
thời gian này, triều đình nhà Lý phải sắp đặt nhiều việc lớn như: năm 1075, xuống
chiếu tuyển Minh kinh bác học và thi Nho học tam trường; trong các năm từ 1075
đến 1077, triều đình đã cử lực lượng quân đội dưới sự chỉ huy của Lý Thường Kiệt
đánh tan cuộc xâm lược của nhà Tống.
Cuộc
kháng chiến chống Tống (1075-1077) thắng lợi và những khó khăn của đất nước tạm
qua đi, triều đình nhà Lý đã có chiến lược ổn định tình hình biên giới phía Nam
và phía Bắc, bằng việc năm 1073, cử Thái sư Lý Đạo Thành vào trấn giữ châu Nghệ
An, đến năm 1084, lại cử Lê Văn Thịnh lên trại Vĩnh Bình
bàn việc cương giới với nhà Tống. Sách Đại
Việt sử ký toàn thư cho biết vào năm 1097: "Bấy
giờ trong nước giàu đủ, Thái hậu làm nhiều chùa Phật". Trước đó, sách này cũng cho biết vào các năm 1080,
triều đình đã đúc chuông Quy điền ở chùa Diên Hựu (tức chùa Một cột, Hà Nội
ngày nay); năm 1086, làm chùa ở núi Đại Lãm (tức Chùa Dạm); năm 1088, xây tháp chùa Lãm Sơn (cũng
là chùa Dạm, nay thuộc phường
Nam Sơn, tỉnh Bắc Ninh). Ngoài
ra, nhiều ngôi chùa, tháp khác đều được xây dựng trong thời gian vua Lý Nhân
Tông trị vì cùng những cố gắng của Nguyên phi Ỷ Lan như:
Chùa Một Mái xây năm 1099 (ở thôn Hoàng Xá, xã Quốc Oai, Hà Nội); chùa Phật Tích xây năm 1100 (ở xã Phật Tích, tỉnh Bắc Ninh);
chùa Báo Ân xây năm 1057 (ở tỉnh Thanh Hóa); Tháp Chương Sơn xây năm 1108 (ở xã Tân Minh, tỉnh Ninh Bình). Năm
1115, Nguyên phi Ỷ Lan đã cho xây dựng Linh Nhân Tư Phúc tự, dân gian gọi
là Chùa Bà Tấm (ở
Dương Xá, xã Gia Lâm, Hà Nội).
Thái hậu Ỷ Lan là người coi trọng Phật giáo, lấy tư
tưởng từ bi của đạo Phật làm lẽ sống, nên vào năm 1103
bà đã phát tiền trong kho ở Kinh thành Thăng Long làm việc thiện, việc này đã được Đại Việt sử ký toàn thư chép: "Con
gái nhà nghèo đến phải cầm thân làm mướn, con trai nhà nghèo đến nỗi không có vợ,
đó là cùng dân trong thiên hạ. Thái hậu đổi đời cho họ, cũng là việc làm nhân
chính vậy".
Năm
1116, Thái hậu Ỷ Lan đã đến thăm chùa Phổ Ninh
và nói chuyện về đạo Phật với Quốc sư Thông Biện trụ trì ở đây. Bài kệ Sắc không dưới đây phản ảnh một phần cuộc
gặp gỡ này:
"Sắc thị không, không tức sắc,
Không thị sắc, sắc tức không.
Sắc, không câu bất quản,
Phương đắc khế chân tông".
Dịch nghĩa
"Sắc là không, không tức là sắc,
Không là sắc, sắc tức không.
Sắc không đều chẳng quản,
Mới khế hợp chân tông".
Đặc biệt, vào
năm 1117 trước nạn trộm trâu và nhận thấy vai trò quan trọng của sức kéo trong
sản xuất nông nghiệp, Thái hậu Ỷ Lan đã lên tiếng: "Gần
đây ở Kinh thành, hương ấp, có nhiều người trốn tránh, lấy việc ăn trộm trâu
làm nghề nghiệp, trăm họ cùng quẫn, mấy nhà cày chung một con trâu. Trước đây,
ta đã từng nói đến việc ấy nhà nước đã có lệnh cấm. Nay giết trâu lại càng nhiều
hơn trước".
Trong khi nền
thái bình của Đại Việt đang được củng cố, thì ngày
25 tháng 7 năm 1117, Thái hậu Ỷ Lan qua đời, bà được đưa về an táng ở Thọ Lăng,
phủ Thiên Đức, quê hương nhà Lý (thuộc
vùng Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh ngày nay).
Hoành phi ghi chữ: "Linh
Nhân Tư phúc tự", tại chùa Bà Tấm (ở Dương Xá,Gia Lâm,
Hà Nội) (Nguồn: Đ.D.H)
Sinh thời,
Nguyên phi Ỷ Lan là người tài sắc vẹn toàn, có nhiều đóng góp cho triều đình Lý
Thánh Tông và Lý Nhân Tông nói riêng cũng như vương triều Lý nói chung trên các
mặt: chính trị, văn hóa, tư tưởng, đặc biệt là về Phật giáo. Nhiều chùa, tháp
được xây dựng trong thời gian Thái hậu Ỷ Lan ngự cung, đến nay vẫn để lại dấu
tích và giá trị cho việc nhận diện sự phát triển của Phật giáo thời Lý.
Ngày
nay, một số nơi có đền phụng thờ bà, phân bố trên địa bàn Gia Lâm, Hà Nội; Văn
Lâm, tỉnh Hưng Yên; Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh... Sâu đậm hơn, trong đời sống một số làng xã của
các khu vực nêu trên, đã chuyển hóa hình tượng của bà thành hình tượng cô Tấm
theo truyền thuyết dân gian. Qua sân khấu chèo, tác phẩm Bài ca giữ nước của tác giả Tào Mạt ra đời trong những năm 80 của
thế kỷ XX, đã tái hiện sinh động hình ảnh của Nguyên phi Ỷ Lan trong bối cảnh Đại
Việt khi đó. Ngoài ra, một số nhà nghiên cứu đã cho rằng:
Cuối thế kỷ XI đầu
thế kỷ XII, có thể gọi là "thời đại Ỷ Lan" của Thăng Long-Đại Việt. Cùng với đó, Thành
phố Hà Nội đã đặt tên một tuyến đường ở Gia Lâm mang tên đường Ỷ Lan.
Chú thích: