image banner

CHÍNH SÁCH VIỆC LÀM VÀ GIÁO DỤC ĐỐI VỚI THƯƠNG BỆNH BINH VÀ GIA ĐÌNH LIỆT SĨ TRONG GIAI ĐOẠN 1975-1985
Giai đoạn 1975-1985, chính sách việc làm và giáo dục đối với thương binh, gia đình liệt sĩ được Đảng và Nhà nước xác định là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách đối với người có công với cách mạng. Thông qua các biện pháp sắp xếp, bố trí việc làm, tổ chức đào tạo nghề và thực hiện các chế độ ưu đãi trong giáo dục, Nhà nước từng bước tạo điều kiện để thương binh, gia đình liệt sĩ ổn định đời sống, phát huy khả năng lao động và tiếp tục đóng góp cho công cuộc xây dựng đất nước. Những chính sách này không chỉ thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đối với người có công mà còn góp phần hiện thực hóa truyền thống đạo lý “uống nước, nhớ nguồn”, “đền ơn, đáp nghĩa” của dân tộc Việt Nam, đồng thời tạo nền tảng cho việc hoàn thiện chính sách ưu đãi người có công trong những giai đoạn tiếp theo.

 

    Với truyền thống "Uống nước nhớ nguồn", "Ăn quả nhớ người trồng cây", Đảng và Nhà nước luôn luôn quan tâm đến vấn đề thương binh, liệt sĩ và coi đây là một trong những chính sách xã hội quan trọng. Ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chính sách sách thương binh - liệt sĩ đã được ban hành và không ngừng được bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với từng thời kỳ cách mạng. Chính sách này ngày càng hoàn thiện và thể hiện tính nhân văn đối với thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng.

Anh-tin-bai
    Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm và chúc Tết các đồng chí thương binh ở Trường Thương binh hỏng mắt, ngày 11/2/1956. Ảnh: Bảo tàng Hồ Chí Minh

    Năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam kết thúc và giành được thắng lợi vẻ vang, đất nước được thống nhất. Tuy vậy, nhiều vấn đề quan trọng, cấp bách trên mọi mặt lĩnh vực công tác của Đảng và Nhà nước được đặt ra, trong đó có việc thực hiện chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng đòi hỏi phải được giải quyết chủ động, khẩn trương, chu đáo để góp phần mau chóng khắc phục hậu quả chiến tranh, ổn định đời sống nhân dân và đẩy mạnh sản xuất.

    1. Chủ trương của Đảng, Nhà nước về công tác thương binh, liệt sĩ

    Chính sách thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng là một bộ phận quan trọng trong chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước ta nhằm thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: "Thương binh, bệnh binh, gia đình quân nhân và gia đình liệt sĩ là những người có công với Tổ quốc, với nhân dân. Cho nên bổn phận chúng ta là phải biết ơn, phải yêu thương và giúp đỡ họ"[1]. Ngày 16/2/1947, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ban hành Sắc lệnh số 20/SL về Chế độ hưu bổng thương tật đối với thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng. Đây là văn bản đầu tiên về chính sách ưu đãi xã hội đối với người có công với nước của Đảng và Nhà nước. Theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tháng 6/1947, đại biểu của Tổng bộ Việt Minh, Hội Phụ nữ cứu quốc, Cục Chính trị quân đội quốc gia Việt Nam, Nha Thông tin tuyên truyền và đại diện một số địa phương đã họp tại Đại Từ (Thái Nguyên) để chọn một ngày trong năm làm ngày Thương binh toàn quốc. Sau khi cân nhắc nhiều mặt, Hội nghị nhất trí đề nghị Trung ương lấy ngày 27/7 hằng nằm làm ngày Thương binh toàn quốc[2]. Năm 1955, ngày Thương binh toàn quốc được đổi thành ngày Thương binh liệt sĩ[3]. Từ đó, ngày 27/7 trở thành ngày nhân dân cả nước tri ân, chăm sóc và giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng.

    Trong giai đoạn đầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975-1985), sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi hoàn toàn, Đảng và Nhà nước ta phải đối mặt với những hậu quả xã hội to lớn và phức tạp, trong đó có vấn đề hàng chục vạn người bị tàn tật sau chiến tranh. Để ổn định đời sống cho các đối tượng chính sách, việc thực hiện các chủ trương về sắp xếp lao động và giáo dục không chỉ mang ý nghĩa đền ơn đáp nghĩa mà còn là một phần quan trọng của chính sách xã hội.

    Giai đoạn 1975-1985, chính sách ưu đãi người có công có những thay đổi bổ sung cho phù hợp tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước sau khi Tổ quốc thống nhất. Chính sách ưu đãi người có công tập trung vào các nhiệm vụ như giải quyết các tồn đọng sau chiến tranh, thống nhất các chế độ ưu đãi trong cả nước. Trong giai đoạn này, Đảng và Nhà nước đã ban hành 523 văn bản pháp luật ưu đãi người có công, điển hình như: Chỉ thị 223/CT-TƯ ngày 8/7/1975 của Ban Bí thư Trung ương Đảng xác định yêu cầu nhiệm vụ của công tác thương binh, liệt sĩ sau chiến tranh. Ban Đại diện Trung ương Đảng ở miền Nam có Chỉ thị số 15/CT-76 về việc tăng cuờng công tác thương binh xã hội ở miền Nam, tập trung vào công tác xác nhận thương binh, liệt sĩ, cất bốc quy tập mộ liệt sĩ, xây dựng nghĩa trang liệt sĩ, tổ chức ổn định cuộc sống của người có công... Thực hiện thống nhất chính sách ưu đãi trong cả nước, Nhà nước đã bổ sung, sửa đổi một số quy định về chế độ đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, về công tác mộ liệt sĩ (Nghị định số 45/CP ngày 13/01/1976; Quyết định số 60/CP ngày 05/4/1976); bổ sung quy định ưu đãi người có công giúp đỡ cách mạng (Quyết định số 208/CP ngày 20/7/1977) và bệnh binh (Quyết định số 78/CP ngày 13/4/1978) là đối tượng người có công với cách mạng. Bổ sung đối tượng, tiêu chuẩn xác nhận thương binh, bệnh binh, liệt sĩ trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế (Quyết định số 301/CP ngày 20/9/1980).

    Đối với việc bồi dưỡng, đào tạo, sử dụng thương binh sau chiến tranh, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 223/CP-TW ngày 8/7/1975, trong đó khẳng định: "Chăm lo phục hồi sức khỏe, săn sóc đời sống, sắp xếp việc làm, tổ chức lao động sản xuất cho các đối tượng, và bồi dưỡng tinh thần cách mạng, hướng mọi người tùy theo sức mình hăng hái tham gia xây dựng lại đất nước, làm cho nhân dân đều có đời sống ổn định và từng bước được cải thiện và có những đóng góp thích hợp trong giai đoạn cách mạng mới"[4]. Để thực hiện đầy đủ và triệt để những yêu cầu trên, Nhà nước đã tập trung giải quyết các chính sách dành cho thương binh một cách quyết tâm, tích cực, chủ động, sáng tạo, toàn diện, vững chắc và thống nhất trong phạm vi cả nước, phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh thực tế.

    2. Bố trí việc làm cho thương binh sau điều trị

    Đảng và Chính phủ xác định việc phục hồi sức khỏe, sắp xếp việc làm và tổ chức lao động sản xuất cho thương binh là nhiệm vụ trọng tâm của công tác thương binh sau chiến tranh. Tư tưởng chủ đạo xuyên suốt công tác này là tinh thần "tàn nhưng không phế" do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng. Theo đó, thương binh sau khi hồi phục sức khỏe được tạo điều kiện tham gia lao động phù hợp với khả năng, góp phần khôi phục và xây dựng đất nước.

    Đối với những thương binh đã điều trị ổn định tại các trại điều dưỡng, yêu cầu đặt ra là phải bố trí công việc phù hợp với sức khỏe và năng lực. Công tác sắp xếp việc làm nhằm ổn định đời sống cho thương binh đã được các địa phương triển khai tích cực. Chủ trương chung là thương binh trước khi đi bộ đội ở đâu thì sau khi xuất ngũ lại trở về nơi đó để được tiếp tục làm việc. Do đó, phần lớn thương binh đã về địa phương tham gia sản xuất trong các hợp tác xã nông nghiệp, thủ công nghiệp; gần 1/3 số thương binh được sắp xếp vào làm việc trong các cơ quan, xí nghiệp nhà nước. Thương binh trở về địa phương tham gia công tác và sản xuất chiếm 73% tổng số chuyển ngành, phần lớn đã được sắp xếp việc làm và ổn định đời sống[5]. Đến năm 1981, Bộ Lao động thương binh xã hội đã sắp xếp việc làm cho khoảng 2.860 thương binh. Việc tiếp nhận và sắp xếp việc làm được thực hiện tốt ở một số tỉnh có nhiều thương binh như Hà Nam Ninh, Thái Bình, Hải Hưng, Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh. Đặc biệt tỉnh Bình Trị Thiên đã sắp xếp được 166 thương binh[6]. Một số ít thương binh nặng, hoàn cảnh gia đình có khó khăn, đã được sắp xếp vào làm việc trong các xí nghiệp tổ chức riêng dành cho thương binh[7]. Năm 1982, Nhà nước tiếp tục giải quyết chế độ cho 1.318 thương binh, bao gồm chuyển ngành (231 người), đi học ở các trường Đại học và Trung học chuyên nghiệp (258 người), về hưu và nghỉ mất sức lao động (513 người), phục viên (316 người)[8]. Ngoài ra còn giải quyết cho 316 thương binh nặng về an dưỡng với gia đình. Việc đưa thương binh nặng về an dưỡng được thực hiện trên cơ sở xem xét nguyện vọng của thương binh và điều kiện bảo đảm của gia đình.

    Đối với thương binh nhẹ còn khả năng lao động, chính sách tập trung hỗ trợ họ tự ổn định và cải thiện đời sống. Người còn sức lao động được tạo điều kiện nhận ruộng khoán; những trường hợp sức khỏe hạn chế được bố trí làm việc tại các vườn cây hoặc tổ sản xuất ở địa phương. Các gia đình chính sách cũng được hỗ trợ phát triển kinh tế hộ thông qua làm vườn, chăn nuôi và nghề thủ công. Tại một số địa phương, đặc biệt là Thái Bình và Nghĩa Bình, việc tạo việc làm cho thương binh, thân nhân liệt sĩ và các đối tượng chính sách đạt kết quả tích cực, góp phần cải thiện thu nhập và ổn định đời sống. Tuy nhiên, trong giai đoạn 1975-1985, mô hình này chưa được triển khai phổ biến trên phạm vi cả nước; nhiều địa phương vẫn ưu tiên tổ chức các cơ sở sản xuất tập trung hơn là tạo điều kiện để người hưởng chính sách lao động tại gia đình. Cách làm này tuy đáp ứng được nhu cầu việc làm của một bộ phận thương binh nhưng phạm vi tác động còn hạn chế. Tại một số cơ sở điều dưỡng thương binh việc tổ chức lao động tạo thêm thu nhập đã góp phần cải thiện đời sống và nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị.

    Chủ trương sắp xếp việc làm cho thương binh, bệnh binh còn khả năng lao động có ý nghĩa quan trọng trong chính sách ưu đãi người có công sau chiến tranh. Việc đưa đông đảo thương binh trở lại lao động sản xuất và công tác không chỉ góp phần ổn định đời sống mà còn tạo điều kiện để họ tiếp tục cống hiến cho quá trình khôi phục và phát triển đất nước.

    3. Tổ chức dạy nghề và ổn định việc làm cho thương binh

     Bên cạnh việc bố trí việc làm, đào tạo nghề được xác định là giải pháp lâu dài nhằm giúp thương binh còn khả năng lao động ổn định cuộc sống và tái hòa nhập xã hội. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với các địa phương tổ chức các lớp đào tạo nghề phù hợp với tình trạng sức khỏe và khả năng lao động của thương binh. Cuối năm 1975, sau khi tiếp nhận hơn 40.000 thương binh, bệnh binh từ Bộ Quốc phòng, Bộ đã tổ chức bồi dưỡng văn hóa, đào tạo nghề và bố trí khoảng 30.000 người vào làm việc tại các cơ quan, xí nghiệp[9]. Đến năm 1982 công tác đào tạo nghề đã thu hút 3.320 người tham gia, trong đó có khoảng 1.200 thương binh, bệnh binh miền Nam được chuyển từ học văn hóa sang học nghề để sớm trở về địa phương công tác[10].

    Cùng với đào tạo nghề, hệ thống xí nghiệp thương binh từng bước được mở rộng, trở thành mô hình kết hợp giữa giải quyết việc làm và tổ chức sản xuất. Năm 1981, ngành Lao động - Thương binh và Xã hội đào tạo nghề cho 528 thương binh, đồng thời thành lập thêm hai xí nghiệp, nâng tổng số lên 43 xí nghiệp với 2.863 thương binh làm việc[11]. Đến năm 1982, có 544 thương binh được đào tạo và bố trí việc làm phù hợp; 42 xí nghiệp thương binh do ngành quản lý hoàn thành kế hoạch sản xuất với tổng giá trị sản lượng hơn 36 triệu đồng, bảo đảm thu nhập và đời sống cho người lao động. Nhà nước và các địa phương đã xây dựng 54 xí nghiệp thương binh cùng 18 cơ sở dạy nghề, tạo điều kiện cho hơn 4.000 thương binh, bệnh binh học nghề và trên 2.000 người tham gia lao động sản xuất; nhiều cơ sở sau đó được chuyển thành xí nghiệp quốc doanh[12]. Để duy trì hoạt động của các cơ sở sản xuất, ngành Lao động - Thương binh và Xã hội chủ động phối hợp với các bộ, ngành nhằm tìm kiếm đơn hàng, cung ứng nguyên liệu và đa dạng hóa sản phẩm. Những biện pháp này góp phần duy trì sản xuất, ổn định việc làm và từng bước cải thiện đời sống của thương binh. Tuy nhiên, do nền kinh tế còn nhiều khó khăn, nhiều xí nghiệp vẫn thiếu nguyên liệu, mặt bằng và thị trường tiêu thụ nên hoạt động chưa thật sự ổn định.

    Việc kết hợp giữa đào tạo nghề, tổ chức sản xuất và giải quyết việc làm đã trở thành một hướng đi quan trọng trong chính sách chăm sóc thương binh giai đoạn 1975-1985. Đối với các cơ sở điều dưỡng thương binh nặng, việc tổ chức lao động phù hợp với sức khỏe không chỉ tạo thêm thu nhập mà còn hỗ trợ quá trình điều trị, phục hồi chức năng và nâng cao đời sống tinh thần của thương binh.

    4. Chính sách giáo dục đối với thương binhcon liệt sĩ

    Song song với chính sách việc làm, Nhà nước coi giáo dục và đào tạo là một giải pháp quan trọng nhằm nâng cao trình độ, tạo điều kiện để thương binh tiếp tục cống hiến trong thời kỳ xây dựng đất nước. Các chương trình bổ túc văn hóa, ôn thi và đào tạo chuyên môn được triển khai tại nhiều địa phương, đặc biệt ở Hà Nam Ninh, Thái Bình và Hải Hưng. Năm 1975, có 1.042 thương binh trúng tuyển vào các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và cơ sở đào tạo nghề[13]. Năm 1976, khoảng 1.800 thương binh tham gia ôn thi; trong đó có 1/2 dự thi vào các trường trung học chuyên nghiệp, 1/4 dự thi đại học và 1/4 dự thi vào các trường công nhân kỹ thuật. Đến năm 1982, Nhà nước tiếp tục bố trí 258 thương binh theo học tại các trường đại học và trung học chuyên nghiệp[14].

    Chính sách giáo dục trong giai đoạn 1975-1985 không chỉ hướng tới bản thân thương binh, bệnh binh mà còn mở rộng đến con em và gia đình người có công. Theo đó, con thương binh, bệnh binh và đặc biệt là con liệt sĩ được hưởng nhiều chính sách ưu tiên về học phí, điều kiện học tập, đào tạo nghề và tiếp cận khoa học, kỹ thuật mới. Nhờ đó, hàng vạn con em gia đình chính sách tại các địa phương được tạo điều kiện học tập, góp phần nâng cao trình độ và tạo nền tảng nghề nghiệp.

    Đối với con liệt sĩ, nhất là trẻ em mồ côi hoặc không nơi nương tựa, Nhà nước dành sự quan tâm đặc biệt. Chỉ thị 223/CT-TW (năm 1975) yêu cầu các cấp chính quyền tăng cường chăm sóc và giáo dục con liệt sĩ, đồng thời tiếp tục duy trì truyền thống nhận con liệt sĩ làm con nuôi đã được hình thành từ trước đây. Tại các vùng mới giải phóng, hệ thống trường học và cơ sở nuôi dưỡng trẻ mồ côi được tiếp quản, củng cố và duy trì hoạt động dưới sự quản lý của chính quyền địa phương nhằm bảo đảm điều kiện học tập và sinh hoạt cho các em.

    Trong những năm tiếp theo, hệ thống chính sách ưu đãi về giáo dục, đào tạo và dạy nghề đối với người có công tiếp tục được hoàn thiện thông qua việc bổ sung và sửa đổi các văn bản pháp luật. Đồng thời, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo và đào tạo nghề được lồng ghép với chính sách ưu đãi người có công, nhất là tại vùng sâu, vùng xa và vùng đặc biệt khó khăn. Những chính sách này không chỉ góp phần nâng cao trình độ học vấn và nghề nghiệp của thương binh, con em người có công mà còn hướng tới mục tiêu lâu dài là bảo đảm đời sống của các gia đình chính sách.

    5. Kết luận

    Chính sách việc làm và giáo dục đối với thương binh và gia đình liệt sĩ giai đoạn 1975-1985 đã thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa trách nhiệm quốc gia và đạo lý dân tộc. Bằng cách sắp xếp lao động, tổ chức đào tạo và thực hiện các ưu đãi giáo dục, Đảng và Nhà nước đã tạo ra điểm tựa vững chắc để các đối tượng chính sách vượt qua khó khăn, ổn định đời sống và tiếp tục đóng góp cho sự nghiệp xây dựng Tổ quốc.

    Chính sách thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng là một trong những chính sách lớn của Đảng và nhà nước ta. Đây là một vấn đề chính trị-xã hội của quốc gia, dân tộc. Trong những năm qua, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta luôn quan tâm và dành những tình cảm, trách nhiệm để chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ và người có công bằng những chính sách cụ thể, thiết thực và phù hợp với từng giai đoạn cách mạng. Điều đó thể hiện đạo lý và truyền thống "uống nước, nhớ nguồn", "đền ơn, đáp nghĩa" của dân tộc Việt Nam.

 

Chú thích:


[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2011, tập 10, tr.372.

[2] Nguyễn Thị Thanh Huyền - Nguyễn Thị Thanh Nhàn, "Sự ra đời của ngày thương binh liệt sĩ - dấu mốc lịch sử của những hoạt động tri ân đối với người có công với cách mạng", Tạp chí Giáo dục lý luận, số 263 (7/2017), tr.28.

[3] Ngô Hoàng Nam, "Chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về công tác thương binh, liệt sĩ trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Tạp chí Lịch sử Đảng, số 7/2022.

[4] Trung tâm lưu trữ quốc gia III, Hội nghị tổng kết công tác thương binh và xã hội năm 1975 (do Phủ Thủ tướng triệu tập từ 15-17/12/1975)

[5] Trung tâm lưu trữ quốc gia III, Hội nghị tổng kết công tác thương binh và xã hội năm 1975 (do Phủ Thủ tướng triệu tập từ 15-17/12/1975)

[6] Trung tâm lưu trữ quốc gia III, Báo cáo thực hiện kế hoạch năm 1981 của ngành thương binh và xã hội

[7] Trung tâm lưu trữ quốc gia III, Hồ sơ kỳ họp thứ 6 của Ủy ban Y tế và Xã hội của Quốc hội khóa VI từ ngày 22-27/6/1978 về tình hình và nhiệm vụ công tác thương binh, liệt sĩ hiện nay.

[8] Trung tâm lưu trữ quốc gia III, Báo cáo năm 1982 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội.

[9] Trung tâm lưu trữ quốc gia III, Tờ trình số 56/TBXH ngày 30/10/1975 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội

[10] Trung tâm lưu trữ quốc gia III, Hội nghị tổng kết công tác thương binh và xã hội năm 1975 (do Phủ Thủ tướng triệu tập từ 15-17/12/1975)

[11] Trung tâm lưu trữ quốc gia III, Báo cáo thực hiện kế hoạch năm 1981 của ngành thương binh và xã hội

[12] Trung tâm lưu trữ quốc gia III, Báo cáo năm 1982 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội

[13] Trung tâm lưu trữ quốc gia III, Hội nghị tổng kết công tác thương binh và xã hội năm 1975 (do Phủ Thủ tướng triệu tập từ 15-17/12/1975).

[14] Trung tâm lưu trữ quốc gia III, Báo cáo năm 1982 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội.

 

TS. Lương Thị Hồng, Viện Sử học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Tin nổi bật
  • Bộ sách gồm 10 tập, Viện Sử học dịch, Nxb KHXH xuất bản.
    23/04/2013
  • Đại Nam nhất thống chí đời Tự Đức là bộ sách địa lý học Việt Nam đầy đủ nhất dưới thời phong kiến. Đại Nam nhất thống chí theo bộ Đại Thanh nhất thống chí của Trung Quốc mà chia ra các mục như: phương vi, phân dã, kiến trí, duyên cách, phủ huyện, hình thế, khí hậu, phong tục, thành trì, học hiệu, hộ khẩu, điền phú, sơn xuyên, quan tấn, dịch trạm, thị lập, tứ miếu, tự quán, phân việt, thổ sản, v.v... Ngoài ra, Đại Nam nhất thống chí còn có quyển chép riêng về Cao Miên (Campuchia), Xiêm La, Miến Điện, Nam Chưởng, Vạn Tượng.
    22/04/2013
  • Trong tập sách này, các tác giả không chỉ trình bày các sự kiện về quân sự, chính trị mà còn nêu lên nhiều sự kiện khác thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại....
    27/09/2012
  • "Việt Nam những sự kiện lịch sử (Từ khởi thủy đến 1858)" là cuốn sách ghi lại các sự kiện lịch sử nước nhà từ khởi thủy đến khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược vào giữa thế kỷ XIX.
    27/09/2012
  • Đại Nam liệt truyện là một bộ sách có quy mô khá đồ sộ trong kho tàng thư tịch cổ viết bằng chữ Hán của Việt Nam, do cơ quan làm sử chính thức của nhà Nguyễn là Quốc sử quán biên soạn vào giữa thế kỷ XIX.
    24/09/2012
  • Lịch triều hiến chương loại chí là bộ bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam. Có nghĩa là Phép tắc các triều đại chép theo thể phân loại do Phan Huy Chú soạn trong 10 năm (1809-1819).
    23/09/2012
  • Là bộ sử có giá trị to lớn và quan trọng bậc nhất trong nền sử học Việt Nam thời kỳ cổ trung đại. Bộ chính sử do Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê biên soạn.
    22/09/2012
  • Cuốn sách Cổ luật Việt Nam gốm 2 bộ Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ. Quốc triều hình luật (còn gọi là bộ luật Hồng Đức) và Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là bộ luật Gia Long) là hai bộ cổ luật duy nhất còn lại cho đến nay của các triều đại phong kiến Việt Nam; là những di sản quý giá có giá trị tham khảo về nhiều mặt cho chúng ta ngày nay.
    19/09/2012
  • Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ là một bộ sách được biên soạn dưới triều Nguyễn theo thể loại Hội điển. Thể loại này được đặt ra nhằm ghi chép lại các điển pháp, quy chuẩn và các dữ kiện liên quan đến tổ chức và hoạt động của một triều đại, một Nhà nước.
    19/09/2012
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1