CHÍNH SÁCH VIỆC LÀM VÀ GIÁO DỤC ĐỐI VỚI THƯƠNG BỆNH BINH VÀ GIA ĐÌNH LIỆT SĨ TRONG GIAI ĐOẠN 1975-1985
Giai đoạn 1975-1985, chính sách việc làm và giáo dục đối với thương binh, gia đình liệt sĩ được Đảng và Nhà nước xác định là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách đối với người có công với cách mạng. Thông qua các biện pháp sắp xếp, bố trí việc làm, tổ chức đào tạo nghề và thực hiện các chế độ ưu đãi trong giáo dục, Nhà nước từng bước tạo điều kiện để thương binh, gia đình liệt sĩ ổn định đời sống, phát huy khả năng lao động và tiếp tục đóng góp cho công cuộc xây dựng đất nước. Những chính sách này không chỉ thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đối với người có công mà còn góp phần hiện thực hóa truyền thống đạo lý “uống nước, nhớ nguồn”, “đền ơn, đáp nghĩa” của dân tộc Việt Nam, đồng thời tạo nền tảng cho việc hoàn thiện chính sách ưu đãi người có công trong những giai đoạn tiếp theo.
Với truyền thống "Uống nước nhớ nguồn", "Ăn quả nhớ người trồng
cây", Đảng và Nhà nước luôn luôn quan tâm đến vấn đề thương binh, liệt sĩ
và coi đây là một trong những chính sách xã hội quan trọng. Ngay từ những ngày
đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chính sách sách thương binh - liệt
sĩ đã được ban hành và không ngừng được bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với từng
thời kỳ cách mạng. Chính sách này ngày càng hoàn thiện và thể hiện tính nhân
văn đối với thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm và chúc Tết các đồng chí thương binh ở Trường Thương binh hỏng mắt, ngày 11/2/1956. Ảnh: Bảo tàng Hồ Chí Minh
Năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam kết thúc
và giành được thắng lợi vẻ vang, đất nước được thống nhất. Tuy vậy, nhiều vấn đề
quan trọng, cấp bách trên mọi mặt lĩnh vực công tác của Đảng và Nhà nước được đặt
ra, trong đó có việc thực hiện chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ
và người có công với cách mạng đòi hỏi phải được giải quyết chủ động, khẩn
trương, chu đáo để góp phần mau chóng khắc phục hậu quả chiến tranh, ổn định đời
sống nhân dân và đẩy mạnh sản xuất.
1. Chủ trương của Đảng, Nhà nước về công tác thương binh, liệt sĩ
Chính sách thương binh, liệt sĩ và người có công
với cách mạng là một bộ phận quan trọng trong chính sách xã hội của Đảng và Nhà
nước ta nhằm thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam XHCN. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: "Thương binh, bệnh
binh, gia đình quân nhân và gia đình liệt sĩ là những người có công với Tổ quốc,
với nhân dân. Cho nên bổn phận chúng ta là phải biết ơn, phải yêu thương và
giúp đỡ họ".
Ngày 16/2/1947, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ban hành Sắc lệnh số
20/SL về Chế độ hưu bổng thương tật đối với thương binh, liệt
sĩ và người có công với cách mạng. Đây là văn bản đầu tiên về chính sách ưu đãi
xã hội đối với người có công với nước của Đảng và Nhà nước. Theo đề nghị của Chủ
tịch Hồ Chí Minh, tháng 6/1947, đại biểu của Tổng
bộ Việt Minh, Hội Phụ nữ cứu quốc, Cục Chính trị quân đội quốc gia Việt Nam,
Nha Thông tin tuyên truyền và đại diện một số địa phương đã họp tại Đại Từ
(Thái Nguyên) để chọn một ngày trong năm làm ngày Thương binh toàn quốc. Sau
khi cân nhắc nhiều mặt, Hội nghị nhất trí đề nghị Trung ương lấy ngày 27/7 hằng
nằm làm ngày Thương binh toàn quốc.
Năm 1955, ngày Thương binh toàn quốc được đổi thành ngày Thương binh liệt sĩ.
Từ đó, ngày 27/7 trở thành ngày nhân dân cả nước tri ân, chăm sóc và giúp đỡ
thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng.
Trong giai đoạn đầu xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc (1975-1985), sau
khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi hoàn toàn, Đảng và Nhà nước
ta phải đối mặt với những hậu quả xã hội to lớn và phức tạp, trong đó có vấn đề
hàng chục vạn người bị tàn tật sau chiến tranh. Để ổn định đời sống cho các đối
tượng chính sách, việc thực hiện các chủ trương về sắp xếp lao động và giáo dục
không chỉ mang ý nghĩa đền ơn đáp nghĩa mà còn là một phần quan trọng của chính
sách xã hội.
Giai đoạn 1975-1985,
chính sách ưu đãi người có công có những thay đổi bổ sung cho phù hợp tình hình
chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước sau khi Tổ quốc thống nhất. Chính sách
ưu đãi người có công tập trung vào các nhiệm vụ như giải quyết các tồn đọng sau
chiến tranh, thống nhất các chế độ ưu đãi trong cả nước. Trong giai đoạn này, Đảng
và Nhà nước đã ban hành 523 văn bản pháp luật ưu đãi người có công, điển hình
như: Chỉ thị 223/CT-TƯ ngày 8/7/1975 của Ban Bí thư Trung ương Đảng xác
định yêu cầu nhiệm vụ của công tác thương binh, liệt sĩ sau chiến tranh. Ban Đại
diện Trung ương Đảng ở miền Nam có Chỉ thị số 15/CT-76 về việc tăng cuờng
công tác thương binh xã hội ở miền Nam, tập trung vào công tác xác nhận thương
binh, liệt sĩ, cất bốc quy tập mộ liệt sĩ, xây dựng nghĩa trang liệt sĩ, tổ chức
ổn định cuộc sống của người có công... Thực hiện thống nhất chính sách ưu đãi
trong cả nước, Nhà nước đã bổ sung, sửa đổi một số quy định về chế độ đối với
thương binh, gia đình liệt sĩ, về công tác mộ liệt sĩ (Nghị định số 45/CP ngày
13/01/1976; Quyết định số 60/CP ngày 05/4/1976); bổ sung quy định ưu đãi người
có công giúp đỡ cách mạng (Quyết định số 208/CP ngày 20/7/1977) và bệnh binh
(Quyết định số 78/CP ngày 13/4/1978) là đối tượng người có công với cách mạng.
Bổ sung đối tượng, tiêu chuẩn xác nhận thương binh, bệnh binh, liệt sĩ trong
công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế (Quyết định số
301/CP ngày 20/9/1980).
Đối với việc bồi dưỡng, đào tạo, sử dụng thương
binh sau chiến tranh, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ
thị số 223/CP-TW ngày 8/7/1975, trong đó khẳng định: "Chăm lo phục hồi sức khỏe, săn
sóc đời sống, sắp xếp việc làm, tổ chức lao động sản xuất cho các đối tượng, và
bồi dưỡng tinh thần cách mạng, hướng mọi người tùy theo sức mình hăng hái tham
gia xây dựng lại đất nước, làm cho nhân dân đều có đời sống ổn định và từng bước
được cải thiện và có những đóng góp thích hợp trong giai đoạn cách mạng mới".
Để thực hiện đầy đủ và triệt để những yêu cầu trên, Nhà nước đã tập trung giải
quyết các chính sách dành cho thương binh một cách quyết tâm, tích cực, chủ động,
sáng tạo, toàn diện, vững chắc và thống nhất trong phạm vi cả nước, phù hợp với
điều kiện và hoàn cảnh thực tế.
2. Bố trí việc làm cho thương binh
sau điều trị
Đảng và Chính phủ xác định việc phục hồi sức khỏe,
sắp xếp việc làm và tổ chức lao động sản xuất cho thương binh là nhiệm vụ trọng
tâm của công tác thương binh sau chiến tranh. Tư tưởng chủ đạo xuyên suốt công
tác này là tinh thần "tàn nhưng không phế" do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi
xướng. Theo đó, thương binh sau khi hồi phục sức khỏe được tạo điều kiện tham
gia lao động phù hợp với khả năng, góp phần khôi phục và xây dựng đất nước.
Đối với những thương binh đã điều trị ổn định tại các trại điều dưỡng,
yêu cầu đặt ra là phải bố trí
công việc phù hợp với sức khỏe và
năng lực. Công tác sắp xếp việc làm nhằm
ổn định đời sống cho thương binh đã được các địa phương triển khai tích cực. Chủ
trương chung là thương binh trước khi đi bộ đội ở đâu thì sau khi xuất ngũ lại
trở về nơi đó để được tiếp tục làm việc. Do đó, phần lớn thương binh đã về địa
phương tham gia sản xuất trong các hợp tác xã nông nghiệp, thủ công nghiệp; gần
1/3 số thương binh được sắp xếp vào làm việc trong các cơ quan, xí nghiệp nhà
nước. Thương binh trở về địa phương tham gia công tác và sản xuất chiếm 73% tổng
số chuyển ngành, phần lớn đã được sắp xếp việc làm và ổn định đời sống.
Đến năm 1981, Bộ Lao động thương binh xã hội đã sắp xếp việc làm cho khoảng
2.860 thương binh. Việc tiếp nhận và sắp xếp việc làm được thực hiện tốt ở một
số tỉnh có nhiều thương binh như Hà Nam Ninh, Thái Bình, Hải Hưng, Thanh Hóa,
Nghệ Tĩnh. Đặc biệt tỉnh Bình Trị Thiên đã sắp xếp được 166 thương binh.
Một số ít thương binh nặng, hoàn cảnh gia đình có khó khăn, đã được sắp xếp vào
làm việc trong các xí nghiệp tổ chức riêng dành cho thương binh. Năm 1982, Nhà nước tiếp tục giải quyết chế
độ cho 1.318 thương binh, bao gồm chuyển ngành (231 người), đi học ở các trường
Đại học và Trung học chuyên nghiệp (258 người), về hưu và nghỉ mất sức lao động
(513 người), phục viên (316 người).
Ngoài ra còn giải quyết cho 316 thương binh nặng về an dưỡng với gia đình. Việc
đưa thương binh nặng về an dưỡng được thực hiện trên cơ sở xem xét nguyện vọng
của thương binh và điều kiện bảo đảm của gia đình.
Đối với thương binh nhẹ còn khả
năng lao động, chính sách tập trung hỗ trợ họ tự ổn định và cải thiện đời sống.
Người còn sức lao động được tạo điều kiện nhận ruộng khoán; những trường hợp sức
khỏe hạn chế được bố trí làm việc tại các vườn cây hoặc tổ sản xuất ở địa
phương. Các gia đình chính sách cũng được hỗ trợ phát triển kinh tế hộ thông
qua làm vườn, chăn nuôi và nghề thủ công. Tại một số địa phương, đặc biệt là
Thái Bình và Nghĩa Bình, việc tạo việc làm cho thương binh, thân nhân liệt sĩ
và các đối tượng chính sách đạt kết quả tích cực, góp phần cải thiện thu nhập
và ổn định đời sống. Tuy nhiên, trong giai đoạn 1975-1985, mô hình này chưa được triển khai phổ
biến trên phạm vi cả nước; nhiều địa phương vẫn ưu tiên tổ chức các cơ sở sản
xuất tập trung hơn là tạo điều kiện để người hưởng chính sách lao động tại gia
đình. Cách làm này tuy đáp ứng được nhu cầu việc làm của một bộ phận thương
binh nhưng phạm vi tác động còn hạn chế. Tại một số cơ sở điều dưỡng thương
binh việc tổ chức lao động tạo thêm thu nhập đã góp phần cải thiện đời sống và
nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị.
Chủ trương sắp xếp việc làm cho
thương binh, bệnh binh còn khả năng lao động có ý nghĩa quan trọng trong chính
sách ưu đãi người có công sau chiến tranh. Việc đưa đông đảo thương binh trở lại
lao động sản xuất và công tác không chỉ góp phần ổn định đời sống mà còn tạo điều
kiện để họ tiếp tục cống hiến cho quá trình khôi phục và phát triển đất nước.
3. Tổ chức dạy nghề và ổn định việc
làm cho thương binh
Bên cạnh việc bố
trí việc làm, đào tạo nghề được xác định là giải pháp lâu dài nhằm giúp thương
binh còn khả năng lao động ổn định cuộc sống và tái hòa nhập xã hội. Bộ Lao động
- Thương binh và Xã hội phối hợp với các địa phương tổ chức các lớp đào tạo nghề
phù hợp với tình trạng sức khỏe và khả năng lao động của thương binh. Cuối năm
1975, sau khi tiếp nhận hơn 40.000 thương binh, bệnh binh từ Bộ Quốc phòng, Bộ
đã tổ chức bồi dưỡng văn hóa, đào tạo nghề và bố trí khoảng 30.000 người vào
làm việc tại các cơ quan, xí nghiệp. Đến năm 1982 công tác đào tạo
nghề đã thu hút 3.320 người tham gia, trong đó có khoảng 1.200 thương binh, bệnh
binh miền Nam được chuyển từ học văn hóa sang học nghề để sớm trở về địa phương
công tác.
Cùng với đào tạo nghề, hệ
thống xí nghiệp thương binh từng bước được mở rộng, trở thành mô hình kết hợp
giữa giải quyết việc làm và tổ chức sản xuất. Năm 1981, ngành Lao động - Thương
binh và Xã hội đào tạo nghề cho 528 thương binh, đồng thời thành lập thêm hai
xí nghiệp, nâng tổng số lên 43 xí nghiệp với 2.863 thương binh làm việc.
Đến năm 1982, có 544 thương binh được đào tạo và bố trí việc làm phù hợp; 42 xí
nghiệp thương binh do ngành quản lý hoàn thành kế hoạch sản xuất với tổng giá
trị sản lượng hơn 36 triệu đồng, bảo đảm thu nhập và đời sống cho người lao động.
Nhà nước và các địa phương đã xây dựng 54 xí nghiệp thương binh cùng 18 cơ sở dạy
nghề, tạo điều kiện cho hơn 4.000 thương binh, bệnh binh học nghề và trên 2.000
người tham gia lao động sản xuất; nhiều cơ sở sau đó được chuyển thành xí nghiệp
quốc doanh.
Để duy trì hoạt động của các cơ sở sản xuất, ngành Lao động - Thương binh và Xã
hội chủ động phối hợp với các bộ, ngành nhằm tìm kiếm đơn hàng, cung ứng nguyên
liệu và đa dạng hóa sản phẩm. Những biện pháp này góp phần duy trì sản xuất, ổn
định việc làm và từng bước cải thiện đời sống của thương binh. Tuy nhiên, do nền
kinh tế còn nhiều khó khăn, nhiều xí nghiệp vẫn thiếu nguyên liệu, mặt bằng và
thị trường tiêu thụ nên hoạt động chưa thật sự ổn định.
Việc kết hợp giữa đào tạo nghề, tổ
chức sản xuất và giải quyết việc làm đã trở thành một hướng đi quan trọng trong
chính sách chăm sóc thương binh giai đoạn 1975-1985. Đối với các cơ sở điều dưỡng thương binh nặng, việc tổ chức
lao động phù hợp với sức khỏe không chỉ tạo thêm thu nhập mà còn hỗ trợ quá
trình điều trị, phục hồi chức năng và nâng cao đời sống tinh thần của thương
binh.
4. Chính sách giáo dục đối với thương binh và con liệt sĩ
Song song với
chính sách việc làm, Nhà nước coi giáo dục và đào tạo là một giải pháp quan trọng
nhằm nâng cao trình độ, tạo điều kiện để thương binh tiếp tục cống hiến trong
thời kỳ xây dựng đất nước. Các chương trình bổ túc văn hóa, ôn thi và đào tạo
chuyên môn được triển khai tại nhiều địa phương, đặc biệt ở Hà Nam Ninh, Thái
Bình và Hải Hưng. Năm 1975, có 1.042 thương binh trúng tuyển vào các trường đại
học, trung học chuyên nghiệp và cơ sở đào tạo nghề.
Năm 1976, khoảng 1.800 thương binh tham gia ôn thi; trong đó có 1/2 dự thi vào các trường trung học
chuyên nghiệp, 1/4 dự thi đại học và 1/4 dự thi vào các trường công nhân kỹ thuật.
Đến năm 1982, Nhà nước tiếp tục bố trí 258 thương binh theo học tại các trường
đại học và trung học chuyên nghiệp.
Chính sách giáo dục
trong giai đoạn 1975-1985
không chỉ hướng tới bản thân thương binh, bệnh binh mà còn mở rộng đến con em
và gia đình người có công. Theo đó,
con thương binh, bệnh binh và đặc biệt là con liệt sĩ được hưởng nhiều chính
sách ưu tiên về học phí, điều kiện học tập, đào tạo nghề và tiếp cận khoa học,
kỹ thuật mới. Nhờ đó, hàng vạn con em gia đình chính sách tại các địa phương được
tạo điều kiện học tập, góp phần nâng cao trình độ và tạo nền tảng nghề nghiệp.
Đối với con liệt sĩ, nhất
là trẻ em mồ côi hoặc không nơi nương tựa, Nhà nước dành sự quan tâm đặc biệt.
Chỉ thị 223/CT-TW (năm 1975) yêu cầu các cấp chính quyền tăng cường chăm sóc và
giáo dục con liệt sĩ, đồng thời tiếp tục duy trì truyền thống nhận con liệt sĩ
làm con nuôi đã được hình thành từ trước đây. Tại các vùng mới giải phóng, hệ
thống trường học và cơ sở nuôi dưỡng trẻ mồ côi được tiếp quản, củng cố và duy
trì hoạt động dưới sự quản lý của chính quyền địa phương nhằm bảo đảm điều kiện
học tập và sinh hoạt cho các em.
Trong những năm tiếp
theo, hệ thống chính sách ưu đãi về giáo dục, đào tạo và dạy nghề đối với người
có công tiếp tục được hoàn thiện thông qua việc bổ sung và sửa đổi các văn bản
pháp luật. Đồng thời, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm
nghèo và đào tạo nghề được lồng ghép với chính sách ưu đãi người có công, nhất
là tại vùng sâu, vùng xa và vùng đặc biệt khó khăn. Những chính sách này không
chỉ góp phần nâng cao trình độ học vấn và nghề nghiệp của thương binh, con em
người có công mà còn hướng tới mục tiêu lâu dài là bảo đảm đời sống của các gia
đình chính sách.
5. Kết luận
Chính sách việc làm và giáo dục đối
với thương binh và gia đình liệt sĩ giai
đoạn 1975-1985 đã thể hiện sự
kết hợp hài hòa giữa trách nhiệm quốc gia và đạo lý dân tộc. Bằng cách sắp xếp
lao động, tổ chức đào tạo và
thực hiện các ưu đãi giáo dục, Đảng và Nhà nước đã tạo ra điểm tựa vững chắc để
các đối tượng chính sách vượt qua khó khăn, ổn định đời sống và tiếp tục đóng
góp cho sự nghiệp xây dựng Tổ quốc.
Chính sách thương binh, liệt sĩ và người có
công với cách mạng là một trong những chính sách lớn của Đảng và nhà nước ta.
Đây là một vấn đề chính trị-xã hội của quốc gia, dân tộc. Trong những năm qua,
toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta luôn quan tâm và dành những tình cảm, trách
nhiệm để chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ và người có công bằng những
chính sách cụ thể, thiết thực và phù hợp với từng giai đoạn cách mạng. Điều đó
thể hiện đạo lý và truyền thống "uống nước, nhớ nguồn", "đền ơn,
đáp nghĩa" của dân tộc Việt Nam.
Chú thích: