image banner

CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA TẠP CHÍ KHOA HỌC
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí đột phá quan trọng hàng đầu của phát triển đất nước. Đối với hệ thống tạp chí khoa học, chuyển đổi số không chỉ là quá trình số hóa ấn phẩm mà là sự chuyển đổi toàn diện phương thức quản trị, xuất bản và lan tỏa tri thức. Từ thực tiễn Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử - một tạp chí khoa học có hơn 70 năm hình thành và phát triển - có thể nhận diện khá rõ yêu cầu đặt ra, đánh giá thực trạng, cơ hội và đề xuất lộ trình chuyển đổi số phù hợp với đặc tù của tạp chí khoa học xã hội và nhân văn

Từ khóa: chuyển đổi số, tạp chí khoa học, xuất bản khoa học, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Nghị quyết 57.

1. Nghị quyết số 57-NQ/TW và yêu cầu đổi mới phương thức hoạt động của tạp chí khoa học

Ngày 22/12/2024, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết xác định đây là “đột phá quan trọng hàng đầu”, là động lực chính để đổi mới phương thức quản trị, phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Một điểm đáng chú ý là Nghị quyết không xem chuyển đổi số như một nhiệm vụ kỹ thuật riêng lẻ, mà đặt trong chỉnh thể gồm thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ; trong đó dữ liệu được định hướng trở thành một nguồn lực quan trọng, đồng thời an ninh mạng, an ninh dữ liệu và an toàn thông tin là yêu cầu xuyên suốt[1].

Tinh thần đó có ý nghĩa trực tiếp đối với hoạt động xuất bản khoa học. Tạp chí khoa học vừa là thiết chế công bố kết quả nghiên cứu, vừa là mắt xích tổ chức dữ liệu tri thức, kiểm định chất lượng học thuật và lan tỏa kết quả nghiên cứu tới cộng đồng. Khi môi trường nghiên cứu chuyển mạnh sang không gian số, một tạp chí chỉ duy trì quy trình thủ công, phụ thuộc vào trao đổi bản thảo qua thư điện tử và phát hành bản in sẽ gặp hạn chế không chỉ về tốc độ, mà còn về khả năng truy xuất, liên thông dữ liệu, minh bạch quy trình và đo lường ảnh hưởng khoa học.

Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW được ban hành tại Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 09/01/2025 và tiếp tục được cập nhật tại Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025, cho thấy yêu cầu chuyển từ nhận thức sang nhiệm vụ, sản phẩm và kết quả có thể kiểm đếm. Với tạp chí khoa học, cách tiếp cận phù hợp vì vậy phải là chuyển đổi mô hình vận hành: quy trình số, dữ liệu số có cấu trúc, định danh số, nền tảng quản trị số, công cụ bảo đảm liêm chính học thuật và hệ thống chỉ số theo dõi hiệu quả.

Yêu cầu này càng rõ hơn khi Thông tư số 27/2025/TT-BKHCN ngày 31/10/2025 của Bộ Khoa học và Công nghệ quy định về bài báo khoa học và đánh giá, xếp loại tạp chí khoa học Việt Nam có hiệu lực từ ngày 15/12/2025[2]. Trong bối cảnh đó, năng lực của một tạp chí khoa học không chỉ được thể hiện ở chất lượng nội dung công bố mà ngày càng gắn với tính chuẩn hóa của quy trình, khả năng tổ chức và quản trị dữ liệu, mức độ minh bạch cũng như khả năng hiện diện, kết nối và phổ biến các công trình khoa học trên môi trường số.

Từ cách tiếp cận trên, cần phân biệt số hóa, ứng dụng công nghệ số và chuyển đổi số. Số hóa chủ yếu là chuyển tài liệu từ dạng vật lý sang dạng số, chẳng hạn quét các số tạp chí cũ thành tệp PDF. Ứng dụng công nghệ số là sử dụng website, thư điện tử, phần mềm quản lý bài viết hoặc các công cụ trực tuyến để hỗ trợ một số công đoạn nghiệp vụ. Trong khi đó, chuyển đổi số có phạm vi rộng hơn, hướng tới tổ chức lại hoạt động của tạp chí trên cơ sở công nghệ, dữ liệu và phương thức quản trị phù hợp với môi trường số. Ba cấp độ này không tách rời mà có tính kế thừa: số hóa tạo nguồn dữ liệu ban đầu, ứng dụng công nghệ giúp nâng cao hiệu quả từng công đoạn, còn chuyển đổi số hướng tới kết nối các công đoạn đó thành một quy trình vận hành thống nhất.

Đối với tạp chí khoa học, chuyển đổi số không đồng nghĩa với việc phủ nhận hoặc thay thế các nguyên tắc và phương thức chuyên môn đã được hình thành. Những khâu cốt lõi như tiếp nhận bài viết, thẩm định, phản biện, biên tập, xuất bản và lưu trữ vẫn phải bảo đảm các chuẩn mực khoa học. Điểm thay đổi chủ yếu nằm ở phương thức tổ chức và quản trị các hoạt động này. Trong môi trường số, một chu trình xuất bản có thể được tổ chức theo hướng: tác giả → nộp bài trực tuyến → kiểm tra sơ bộ → phản biện → biên tập → chuẩn hóa dữ liệu → xuất bản → định danh → lập chỉ mục → phổ biến → đo lường → lưu trữ lâu dài. Qua đó, các công đoạn vốn được thực hiện tương đối độc lập có thể được kết nối thành một quy trình thống nhất, giúp theo dõi lịch sử xử lý bài viết, nâng cao tính minh bạch, chuẩn hóa dữ liệu và tạo thuận lợi cho việc tra cứu, liên kết và phổ biến kết quả nghiên cứu.

Như vậy, vấn đề cốt lõi của chuyển đổi số tạp chí khoa học không nằm ở việc công nghệ có thể thay thế bao nhiêu công việc truyền thống, mà ở việc công nghệ và dữ liệu có thể hỗ trợ tổ chức quy trình khoa học tốt hơn, tăng khả năng kiểm chứng, bảo tồn và kết nối tri thức, đồng thời mở rộng khả năng tiếp cận các kết quả nghiên cứu. Chất lượng học thuật vẫn là giá trị cốt lõi của tạp chí khoa học; chuyển đổi số tạo thêm những phương thức để duy trì, phát huy và lan tỏa giá trị đó trong môi trường số.

2. Chuyển đổi số tạp chí khoa học: cần gắn với quy trình xuất bản

Tạp chí khoa học là một loại hình xuất bản khoa học, có chức năng công bố kết quả nghiên cứu, tổ chức trao đổi học thuật, phổ biến tri thức và lưu giữ kết quả khoa học. Khác với báo chí thời sự, giá trị của bài báo khoa học không phụ thuộc chủ yếu vào tốc độ mà vào độ tin cậy của dữ liệu, tính mới của nghiên cứu, tính minh bạch của phương pháp, chất lượng phản biện và khả năng được kiểm chứng, trích dẫn, sử dụng lâu dài.

Trong hệ thống báo chí Việt Nam, tạp chí khoa học có vị trí đặc thù. Khác với báo chí thông tin thời sự, tạp chí khoa học chủ yếu thực hiện chức năng công bố các kết quả nghiên cứu, phổ biến tri thức khoa học, phản biện học thuật và góp phần cung cấp luận cứ khoa học phục vụ hoạch định chính sách. Giá trị cốt lõi của tạp chí khoa học không nằm ở tốc độ truyền tải thông tin mà ở chất lượng học thuật, độ tin cậy của kết quả nghiên cứu và tính minh bạch của quy trình phản biện.

Bởi vậy, chuyển đổi số của tạp chí khoa học không chỉ đơn giản là chuyển từ tài liệu giấy thành tài liệu điện tử, mà phải gắn với quy trình xuất bản trên môi trường số, từ khi tác giả nộp bản thảo đến khi bài báo được phản biện, chỉnh sửa, biên tập, định danh, xuất bản, lưu trữ, tìm kiếm, trích dẫn và tái sử dụng dữ liệu.

Trước hết là chuyển đổi quy trình biên tập - phản biện. Một hệ thống quản lý tạp chí trực tuyến như Open Journal Systems (OJS) cho phép quản lý thống nhất hồ sơ tác giả, bản thảo, lịch sử chỉnh sửa, phân công phản biện, thời hạn xử lý và quyết định biên tập. Giá trị lớn nhất không nằm ở việc thay việc trao đổi bản thảo qua thư điện tử bằng một giao diện mới, mà ở khả năng tạo ra dấu vết quy trình, phân quyền trách nhiệm và dữ liệu quản lý quy trình xuất bản. Từ đó, Ban Biên tập có thể biết một bài đang ở khâu nào, thời gian xử lý trung bình là bao lâu, khâu nào thường chậm và năng lực phản biện đang tập trung ở những nhóm chuyên môn nào.

Thứ hai là chuẩn hóa dữ liệu xuất bản. DOI giúp mỗi bài báo có một định danh số bền vững; ORCID hỗ trợ định danh tác giả; metadata có cấu trúc giúp máy tìm kiếm và cơ sở dữ liệu hiểu được tiêu đề, tác giả, từ khóa, tóm tắt, tài liệu tham khảo; XML-JATS cho phép thực hiện nội dung bài báo theo cấu trúc máy đọc được. Khi các thành phần này được triển khai đồng bộ, bài báo không còn là một tệp PDF “đóng”, mà trở thành một đơn vị dữ liệu khoa học có thể kết nối, truy xuất và trao đổi trong hệ sinh thái học thuật.

Thứ ba là chuyển đổi hoạt động phổ biến và đánh giá ảnh hưởng. Trên nền tảng số, phạm vi tiếp cận của tạp chí không còn bị giới hạn bởi số lượng bản in. Các chỉ số như lượt xem, lượt tải, nguồn truy cập, trích dẫn, chủ đề được quan tâm có thể trở thành dữ liệu phục vụ điều hành... từ đó tạo cơ sở từng bước đánh giá ảnh hưởng của tạp chí.

Thứ tư là hình thành kho dữ liệu học thuật dài hạn. Đối với khoa học xã hội và nhân văn, giá trị của tạp chí khoa học không chỉ nằm ở các số mới xuất bản. Kho bài cũ, tư liệu, tranh luận học thuật và lịch sử phát triển ngành có giá trị nghiên cứu lâu dài. Vì vậy, số hóa hồi cố, gắn metadata và xây dựng khả năng tìm kiếm toàn văn có thể biến một kho ấn phẩm thành hạ tầng dữ liệu phục vụ nghiên cứu. Đây là điểm mà các tạp chí khoa học có lịch sử lâu đời có lợi thế đặc biệt.

Cuối cùng, chuyển đổi số phải gắn với an toàn và bền vững. Nghị quyết số 57-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu và an toàn thông tin. Với tạp chí khoa học, dữ liệu bản thảo chưa công bố, ý kiến phản biện, thông tin cá nhân của tác giả và phản biện, tài khoản quản trị và kho dữ liệu số đều cần được bảo vệ. Do đó, sao lưu, phân quyền, mã hóa kết nối, giám sát, tường lửa ứng dụng web và quy trình xử lý sự cố phải được coi là một phần của thiết kế chuyển đổi số ngay từ đầu.

3. Hoạt động chuyển đổi số trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử

Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử - Một kho tư liệu học thuật phong phú

Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử là một trong những tạp chí khoa học chuyên ngành có bề dày truyền thống lâu đời tại Việt Nam. Tiền thân của Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử là Tập san Văn-Sử-Địa, xuất bản từ tháng 6 năm 1954. Tháng 3 năm 1959, trên nền tẩng của Tập san Văn Sử Địa, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử chính thức ra mắt số đầu tiên với tư cách là cơ quan ngôn luận của Viện Sử học. Trong hơn 70 năm phát triển, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử đã trở thành diễn đàn học thuật quan trọng, uy tín, công bố nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về lịch sử Việt Nam và lịch sử thế giới, góp phần hình thành hệ thống tư liệu khoa học lịch sử phục vụ nghiên cứu, giảng dạy, cung cấp luận cứ và hoạch định chính sách.

Hiện nay, Tạp chí là cơ quan ngôn luận của Viện Sử học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Tạp chí có chức năng công bố các công trình nghiên cứu khoa học lịch sử, phổ biến tri thức lịch sử, đồng thời cung cấp các luận cứ khoa học phục vụ công tác hoạch định chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Về mặt học thuật, Tạp chí hiện được Hội đồng Giáo sư Nhà nước công nhận là tạp chí tính điểm của bốn hội đồng ngành và liên ngành, trong đó đạt mức cao nhất là 1,0 điểm đối với ngành Sử học - Khảo cổ học - Dân tộc học - Nhân học. Đây là tiêu chí quan trọng phản ánh uy tín chuyên môn và chất lượng học thuật của Tạp chí trong hệ thống xuất bản khoa học Việt Nam, đồng thời tạo nền tảng thuận lợi để Tạp chí tiếp tục chuẩn hóa hoạt động và mở rộng kết nối với cộng đồng khoa học trong nước và quốc tế.

Với bề dày lịch sử, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử hình thành một kho tư liệu học thuật phong phú và có giá trị đối với ngành Sử học. Cho đến hết năm 7/2026, Tạp chí đã xuất bản hơn 600 số tiếng Việt, 4 số tiếng Anh với hơn 6.100 bài nghiên cứu, bao quát nhiều lĩnh vực từ lịch sử Việt Nam, lịch sử thế giới đến phương pháp luận, tư liệu lịch sử và trao đổi học thuật... Khối lượng công trình được tích lũy qua nhiều thế hệ học giả không chỉ phản ánh thành quả nghiên cứu mà còn cho thấy sự phong phú, đa dạng của các vấn đề nghiên cứu của ngành khoa học lịch sử.

Đây cũng là một nguồn lực quan trọng cho quá trình chuyển đổi số của Tạp chí. Thay vì chỉ chuyển tài liệu giấy thành các tệp điện tử, việc số hóa cần hướng tới bảo tồn, tổ chức và nâng cao khả năng khai thác kho tư liệu hiện có. Khi các bài viết được số hóa toàn văn, chuẩn hóa metadata và liên kết theo tác giả, chủ đề, thời kỳ, nhân vật, sự kiện, địa danh hay tài liệu tham khảo, những tài liệu vốn được lưu giữ theo từng số xuất bản có thể từng bước hình thành một hệ thống dữ liệu có khả năng tìm kiếm và khai thác sâu hơn. Theo định hướng phát triển, Tạp chí sẽ số hóa các số đã xuất bản từ năm 1954 đến nay, triển khai DOI, chuẩn hóa metadata và từng bước kết nối với các cơ sở dữ liệu khoa học. Qua đó, kho tư liệu được tích lũy trong hơn 70 năm có thể từng bước phát triển thành kho tri thức số về lịch sử, phục vụ hiệu quả hơn cho nghiên cứu, giảng dạy và phổ biến tri thức lịch sử.

Những kết quả bước đầu

Có thể thấy, xét trên phương diện chuyên môn, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử đã xây dựng được vị thế học thuật vững chắc. Tuy nhiên, trong bối cảnh chuyển đổi số báo chí, những lợi thế về truyền thống và chất lượng nội dung không còn là điều kiện đủ để duy trì năng lực cạnh tranh. Giá trị của một tạp chí khoa học hiện đại không chỉ được đo bằng chất lượng bài viết mà còn được đánh giá thông qua mức độ chuẩn hóa quy trình quản trị, khả năng số hóa dữ liệu, mức độ hiện diện trên các cơ sở dữ liệu quốc tế và khả năng tiếp cận của cộng đồng học thuật toàn cầu. Đây chính là thách thức lớn đặt ra đối với mô hình hoạt động hiện nay của Tạp chí.

Từ yêu cầu của thực tiễn, dưới sự chỉ đạo của lãnh đạo Viện Sử học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử đã xác định chuyển đổi số là nhiệm vụ trọng tâm giai đoạn 2026-2030 và đã triển khai một số nội dung phục vụ công tác chuyển đổi số Tạp chí như: xây dựng website điện tử; số hóa một phần các số tạp chí đã xuất bản; hoàn thiện đề án chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030 và từng bước chuẩn hóa dữ liệu xuất bản và quy trình quản lý. Đây là nền tảng quan trọng để chuyển từ mô hình xuất bản truyền thống sang mô hình xuất bản khoa học trên nền tảng số.

Trong giai đoạn 2026-2030, Tạp chí đã xác định lộ trình tương đối rõ[3]:

Giai đoạn 2026-2027 tập trung hoàn thiện website, chuẩn hóa quy trình tiếp nhận, phản biện, biên tập và xuất bản trên môi trường số; triển khai DOI; chuẩn hóa dữ liệu; kiểm soát 100% bài viết bằng công cụ kiểm tra trùng lặp; và hoàn thiện các tiêu chí theo Thông tư số 27/2025/TT-BKHCN.

Giai đoạn 2028-2030 tiếp tục hoàn thiện số hóa kho tạp chí từ năm 1954 đến nay; xây dựng Đề án Tạp chí điện tử; tăng xuất bản tiếng Anh lên 1-2 số/năm; mở rộng Hội đồng Biên tập, mạng lưới phản biện quốc tế và từng bước tham gia các hệ thống chỉ mục quốc tế.

Đặt trong tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW, chuyển đổi số của Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử không nên chỉ hướng tới việc hình thành một tạp chí điện tử, mà xa hơn là nâng cao khả năng tổ chức, kết nối và khai thác nguồn tri thức sử học đã được tích lũy trong hơn bảy thập niên. Trên cơ sở đó, Tạp chí có thể từng bước trở thành một nguồn dữ liệu học thuật quan trọng, đóng góp vào quá trình hình thành hạ tầng tri thức số của ngành Sử học Việt Nam.

Tạp chí có những nền tảng thuận lợi cho định hướng này, gồm bề dày hoạt động hơn 70 năm, hơn 6.100 bài nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực của khoa học lịch sử, đội ngũ chuyên môn, mạng lưới tác giả và phản biện, Hội đồng biên tập có sự tham gia của các nhà khoa học trong và ngoài nước, cùng hệ thống độc giả tại các viện nghiên cứu, trường đại học và thư viện. Khi kho tư liệu hiện có được số hóa và chuẩn hóa thành dữ liệu có cấu trúc, các bài viết có thể được tổ chức và liên kết theo tác giả, chủ đề, nhân vật, sự kiện, địa danh, thời kỳ lịch sử và tài liệu tham khảo. Trên cơ sở đó, người sử dụng không chỉ tìm kiếm từng bài viết riêng lẻ mà còn có thể tiếp cận các nhóm công trình theo chủ đề, theo dõi sự phát triển của một vấn đề nghiên cứu hoặc nhận diện những xu hướng nghiên cứu qua từng giai đoạn.

Theo hướng phát triển này, quá trình chuyển đổi số của Tạp chí có thể được thực hiện từng bước, từ số hóa kho tư liệu, phát triển tạp chí điện tử, chuẩn hóa và liên kết dữ liệu, hình thành cơ sở dữ liệu học thuật, tiến tới xây dựng một kho tri thức số về lịch sử phục vụ nghiên cứu, giảng dạy và phổ biến tri thức. Khi được kết nối với các nguồn dữ liệu và nền tảng nghiên cứu khác, kho tri thức này có thể trở thành một thành phần hữu ích của hạ tầng tri thức số ngành Sử học, đồng thời tạo thêm điều kiện cho việc ứng dụng các phương pháp nghiên cứu lịch sử số, nhân văn số và nghiên cứu liên ngành.

4. Kết luận

Chuyển đổi số đang tạo ra sự thay đổi căn bản đối với hoạt động xuất bản khoa học trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Dưới tác động của Nghị quyết số 57-NQ/TW, các tạp chí khoa học không còn chỉ thực hiện chức năng công bố kết quả nghiên cứu mà còn phải trở thành hạ tầng tổ chức, quản trị và lan tỏa tri thức trên môi trường số.

Đối với Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, lợi thế lớn nhất không chỉ nằm ở uy tín học thuật mà còn ở kho tư liệu được tích lũy liên tục từ năm 1954 đến nay với hàng nghìn công trình nghiên cứu có giá trị. Nếu được số hóa toàn diện, chuẩn hóa dữ liệu và kết nối theo các chuẩn quốc tế, kho tư liệu này sẽ phát triển từ một hệ thống lưu trữ ấn phẩm thành kho tri thức sử học số, phục vụ hiệu quả cho nghiên cứu, đào tạo và hoạch định chính sách.

Thành công của chuyển đổi số vì vậy không được đo bằng việc có một website hay một tạp chí điện tử, mà bằng khả năng xây dựng một hệ sinh thái xuất bản khoa học hiện đại, minh bạch và bền vững, trong đó chất lượng học thuật tiếp tục là giá trị cốt lõi, còn công nghệ đóng vai trò động lực nâng cao năng lực quản trị và lan tỏa tri thức.

Tài liệu tham khảo

1.    Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

2.    Chính phủ (2025), Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW.

3.    Bộ Khoa học và Công nghệ (2025), Thông tư số 27/2025/TT-BKHCN quy định về bài báo khoa học và đánh giá, xếp loại tạp chí khoa học Việt Nam.

4.    Viện Sử học (2026), Đề án hoạt động Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử theo hướng đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030.

5.    Báo cáo thực trạng tổ chức và hoạt động của Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử năm 2026.



[1] Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ: https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-ve-dot-pha-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-quoc-gia-119241224180048642.htm

[2] Bộ Khoa học và Công nghệ (2025), Thông tư số 27/2025/TT-BKHCN ngày 31/10/2025 quy định về bài báo khoa học và đánh giá, xếp loại tạp chí khoa học Việt Nam.

[3] Viện Sử học (2026), Đề án hoạt động Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử theo hướng đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030.

 

TS. Lê Thị Thu Hằng, Phó Viện trưởng Viện Sử học, TBT Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử
Tin nổi bật
  • Bộ sách gồm 10 tập, Viện Sử học dịch, Nxb KHXH xuất bản.
    23/04/2013
  • Đại Nam nhất thống chí đời Tự Đức là bộ sách địa lý học Việt Nam đầy đủ nhất dưới thời phong kiến. Đại Nam nhất thống chí theo bộ Đại Thanh nhất thống chí của Trung Quốc mà chia ra các mục như: phương vi, phân dã, kiến trí, duyên cách, phủ huyện, hình thế, khí hậu, phong tục, thành trì, học hiệu, hộ khẩu, điền phú, sơn xuyên, quan tấn, dịch trạm, thị lập, tứ miếu, tự quán, phân việt, thổ sản, v.v... Ngoài ra, Đại Nam nhất thống chí còn có quyển chép riêng về Cao Miên (Campuchia), Xiêm La, Miến Điện, Nam Chưởng, Vạn Tượng.
    22/04/2013
  • Trong tập sách này, các tác giả không chỉ trình bày các sự kiện về quân sự, chính trị mà còn nêu lên nhiều sự kiện khác thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại....
    27/09/2012
  • "Việt Nam những sự kiện lịch sử (Từ khởi thủy đến 1858)" là cuốn sách ghi lại các sự kiện lịch sử nước nhà từ khởi thủy đến khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược vào giữa thế kỷ XIX.
    27/09/2012
  • Đại Nam liệt truyện là một bộ sách có quy mô khá đồ sộ trong kho tàng thư tịch cổ viết bằng chữ Hán của Việt Nam, do cơ quan làm sử chính thức của nhà Nguyễn là Quốc sử quán biên soạn vào giữa thế kỷ XIX.
    24/09/2012
  • Lịch triều hiến chương loại chí là bộ bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam. Có nghĩa là Phép tắc các triều đại chép theo thể phân loại do Phan Huy Chú soạn trong 10 năm (1809-1819).
    23/09/2012
  • Là bộ sử có giá trị to lớn và quan trọng bậc nhất trong nền sử học Việt Nam thời kỳ cổ trung đại. Bộ chính sử do Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê biên soạn.
    22/09/2012
  • Cuốn sách Cổ luật Việt Nam gốm 2 bộ Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ. Quốc triều hình luật (còn gọi là bộ luật Hồng Đức) và Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là bộ luật Gia Long) là hai bộ cổ luật duy nhất còn lại cho đến nay của các triều đại phong kiến Việt Nam; là những di sản quý giá có giá trị tham khảo về nhiều mặt cho chúng ta ngày nay.
    19/09/2012
  • Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ là một bộ sách được biên soạn dưới triều Nguyễn theo thể loại Hội điển. Thể loại này được đặt ra nhằm ghi chép lại các điển pháp, quy chuẩn và các dữ kiện liên quan đến tổ chức và hoạt động của một triều đại, một Nhà nước.
    19/09/2012
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1