Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí đột phá quan trọng hàng đầu của phát triển đất nước. Đối với hệ thống tạp chí khoa học, chuyển đổi số không chỉ là quá trình số hóa ấn phẩm mà là sự chuyển đổi toàn diện phương thức quản trị, xuất bản và lan tỏa tri thức. Từ thực tiễn Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử - một tạp chí khoa học có hơn 70 năm hình thành và phát triển - có thể nhận diện khá rõ yêu cầu đặt ra, đánh giá thực trạng, cơ hội và đề xuất lộ trình chuyển đổi số phù hợp với đặc tù của tạp chí khoa học xã hội và nhân văn
Từ khóa: chuyển đổi số, tạp
chí khoa học, xuất bản khoa học, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Nghị quyết 57.
1.
Nghị quyết số 57-NQ/TW và yêu cầu đổi mới phương thức hoạt động của tạp chí
khoa học
Ngày
22/12/2024, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển
khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết xác
định đây là “đột phá quan trọng hàng đầu”, là động lực chính để đổi mới phương
thức quản trị, phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại và nâng cao năng lực
cạnh tranh quốc gia. Một điểm đáng chú ý là Nghị quyết không xem chuyển đổi số
như một nhiệm vụ kỹ thuật riêng lẻ, mà đặt trong chỉnh thể gồm thể chế, nhân lực,
hạ tầng, dữ liệu và công nghệ; trong đó dữ liệu được định hướng trở thành một
nguồn lực quan trọng, đồng thời an ninh mạng, an ninh dữ liệu và an toàn thông
tin là yêu cầu xuyên suốt.
Tinh
thần đó có ý nghĩa trực tiếp đối với hoạt động xuất bản khoa học. Tạp chí khoa
học vừa là thiết chế công bố kết quả nghiên cứu, vừa là mắt xích tổ chức dữ liệu
tri thức, kiểm định chất lượng học thuật và lan tỏa kết quả nghiên cứu tới cộng
đồng. Khi môi trường nghiên cứu chuyển mạnh sang không gian số, một tạp chí chỉ
duy trì quy trình thủ công, phụ thuộc vào trao đổi bản thảo qua thư điện tử và
phát hành bản in sẽ gặp hạn chế không chỉ về tốc độ, mà còn về khả năng truy xuất,
liên thông dữ liệu, minh bạch quy trình và đo lường ảnh hưởng khoa học.
Chương
trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW được ban hành tại
Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 09/01/2025 và tiếp tục được cập nhật tại Nghị quyết
số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025, cho thấy yêu cầu chuyển từ nhận thức sang nhiệm vụ,
sản phẩm và kết quả có thể kiểm đếm. Với tạp chí khoa học, cách tiếp cận phù hợp
vì vậy phải là chuyển đổi mô hình vận hành: quy trình số, dữ liệu số có cấu
trúc, định danh số, nền tảng quản trị số, công cụ bảo đảm liêm chính học thuật
và hệ thống chỉ số theo dõi hiệu quả.
Yêu
cầu này càng rõ hơn khi Thông tư số 27/2025/TT-BKHCN ngày 31/10/2025 của Bộ
Khoa học và Công nghệ quy định về bài báo khoa học và đánh giá, xếp loại tạp
chí khoa học Việt Nam có hiệu lực từ ngày 15/12/2025. Trong bối cảnh đó, năng lực
của một tạp chí khoa học không chỉ được thể hiện ở chất lượng nội dung công bố
mà ngày càng gắn với tính chuẩn hóa của quy trình, khả năng tổ chức và quản trị
dữ liệu, mức độ minh bạch cũng như khả năng hiện diện, kết nối và phổ biến các
công trình khoa học trên môi trường số.
Từ cách tiếp cận trên, cần phân biệt số hóa, ứng dụng
công nghệ số và chuyển đổi số. Số hóa chủ yếu là chuyển tài liệu từ dạng vật lý
sang dạng số, chẳng hạn quét các số tạp chí cũ thành tệp PDF. Ứng dụng công nghệ
số là sử dụng website, thư điện tử, phần mềm quản lý bài viết hoặc các công cụ
trực tuyến để hỗ trợ một số công đoạn nghiệp vụ. Trong khi đó, chuyển đổi số có
phạm vi rộng hơn, hướng tới tổ chức lại hoạt động của tạp chí trên cơ sở công
nghệ, dữ liệu và phương thức quản trị phù hợp với môi trường số. Ba cấp độ này
không tách rời mà có tính kế thừa: số hóa tạo nguồn dữ liệu ban đầu, ứng dụng
công nghệ giúp nâng cao hiệu quả từng công đoạn, còn chuyển đổi số hướng tới kết
nối các công đoạn đó thành một quy trình vận hành thống nhất.
Đối với tạp chí khoa học, chuyển đổi số không đồng
nghĩa với việc phủ nhận hoặc thay thế các nguyên tắc và phương thức chuyên môn
đã được hình thành. Những khâu cốt lõi như tiếp nhận bài viết, thẩm định, phản
biện, biên tập, xuất bản và lưu trữ vẫn phải bảo đảm các chuẩn mực khoa học. Điểm
thay đổi chủ yếu nằm ở phương thức tổ chức và quản trị các hoạt động này. Trong
môi trường số, một chu trình xuất bản có thể được tổ chức theo hướng: tác giả →
nộp bài trực tuyến → kiểm tra sơ bộ → phản biện → biên tập → chuẩn hóa dữ liệu
→ xuất bản → định danh → lập chỉ mục → phổ biến → đo lường → lưu trữ lâu dài.
Qua đó, các công đoạn vốn được thực hiện tương đối độc lập có thể được kết nối
thành một quy trình thống nhất, giúp theo dõi lịch sử xử lý bài viết, nâng cao
tính minh bạch, chuẩn hóa dữ liệu và tạo thuận lợi cho việc tra cứu, liên kết
và phổ biến kết quả nghiên cứu.
Như vậy, vấn đề cốt lõi của chuyển đổi số tạp chí
khoa học không nằm ở việc công nghệ có thể thay thế bao nhiêu công việc truyền
thống, mà ở việc công nghệ và dữ liệu có thể hỗ trợ tổ chức quy trình khoa học
tốt hơn, tăng khả năng kiểm chứng, bảo tồn và kết nối tri thức, đồng thời mở rộng
khả năng tiếp cận các kết quả nghiên cứu. Chất lượng học thuật vẫn là giá trị cốt
lõi của tạp chí khoa học; chuyển đổi số tạo thêm những phương thức để duy trì,
phát huy và lan tỏa giá trị đó trong môi trường số.
2.
Chuyển đổi số tạp chí khoa học: cần gắn với quy trình xuất bản
Tạp
chí khoa học là một loại hình xuất bản khoa học, có chức năng công bố kết quả
nghiên cứu, tổ chức trao đổi học thuật, phổ biến tri thức và lưu giữ kết quả
khoa học. Khác với báo chí thời sự, giá trị của bài báo khoa học không phụ thuộc
chủ yếu vào tốc độ mà vào độ tin cậy của dữ liệu, tính mới của nghiên cứu, tính
minh bạch của phương pháp, chất lượng phản biện và khả năng được kiểm chứng,
trích dẫn, sử dụng lâu dài.
Trong
hệ thống báo chí Việt Nam, tạp chí khoa học có vị trí đặc thù. Khác với báo chí thông tin thời sự, tạp chí khoa học chủ yếu
thực hiện chức năng công bố các kết quả nghiên cứu, phổ biến tri thức khoa học,
phản biện học thuật và góp phần cung cấp luận cứ khoa học phục vụ hoạch định
chính sách. Giá trị cốt lõi của tạp chí khoa học không nằm ở tốc độ truyền tải
thông tin mà ở chất lượng học thuật, độ tin cậy của kết quả nghiên cứu và tính
minh bạch của quy trình phản biện.
Bởi
vậy, chuyển đổi số của tạp chí khoa học không chỉ đơn giản là chuyển từ tài liệu
giấy thành tài liệu điện tử, mà phải gắn với quy trình xuất bản trên môi trường
số, từ khi tác giả nộp bản thảo đến khi bài báo được phản biện, chỉnh sửa, biên
tập, định danh, xuất bản, lưu trữ, tìm kiếm, trích dẫn và tái sử dụng dữ liệu.
Trước
hết là chuyển đổi quy trình biên tập - phản biện. Một hệ thống quản lý tạp chí
trực tuyến như Open Journal Systems (OJS) cho phép quản lý thống nhất hồ sơ tác
giả, bản thảo, lịch sử chỉnh sửa, phân công phản biện, thời hạn xử lý và quyết
định biên tập. Giá trị lớn nhất không nằm ở việc thay việc trao đổi bản thảo
qua thư điện tử bằng một giao diện mới, mà ở khả năng tạo ra dấu vết quy trình,
phân quyền trách nhiệm và dữ liệu quản lý quy trình xuất bản. Từ đó, Ban Biên tập
có thể biết một bài đang ở khâu nào, thời gian xử lý trung bình là bao lâu,
khâu nào thường chậm và năng lực phản biện đang tập trung ở những nhóm chuyên
môn nào.
Thứ
hai là chuẩn hóa dữ liệu xuất bản. DOI giúp mỗi bài báo có một định danh số bền
vững; ORCID hỗ trợ định danh tác giả; metadata có cấu trúc giúp máy tìm kiếm và
cơ sở dữ liệu hiểu được tiêu đề, tác giả, từ khóa, tóm tắt, tài liệu tham khảo;
XML-JATS cho phép thực hiện nội dung bài báo theo cấu trúc máy đọc được. Khi
các thành phần này được triển khai đồng bộ, bài báo không còn là một tệp PDF
“đóng”, mà trở thành một đơn vị dữ liệu khoa học có thể kết nối, truy xuất và
trao đổi trong hệ sinh thái học thuật.
Thứ
ba là chuyển đổi hoạt động phổ biến và đánh giá ảnh hưởng. Trên nền tảng số, phạm
vi tiếp cận của tạp chí không còn bị giới hạn bởi số lượng bản in. Các chỉ số
như lượt xem, lượt tải, nguồn truy cập, trích dẫn, chủ đề được quan tâm có thể
trở thành dữ liệu phục vụ điều hành... từ đó tạo cơ sở từng bước đánh giá ảnh
hưởng của tạp chí.
Thứ
tư là hình thành kho dữ liệu học thuật dài hạn. Đối với khoa học xã hội và nhân
văn, giá trị của tạp chí khoa học không chỉ nằm ở các số mới xuất bản. Kho bài
cũ, tư liệu, tranh luận học thuật và lịch sử phát triển ngành có giá trị nghiên
cứu lâu dài. Vì vậy, số hóa hồi cố, gắn metadata và xây dựng khả năng tìm kiếm
toàn văn có thể biến một kho ấn phẩm thành hạ tầng dữ liệu phục vụ nghiên cứu.
Đây là điểm mà các tạp chí khoa học có lịch sử lâu đời có lợi thế đặc biệt.
Cuối
cùng, chuyển đổi số phải gắn với an toàn và bền vững. Nghị quyết số 57-NQ/TW nhấn
mạnh yêu cầu bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu và an toàn thông tin. Với tạp
chí khoa học, dữ liệu bản thảo chưa công bố, ý kiến phản biện, thông tin cá
nhân của tác giả và phản biện, tài khoản quản trị và kho dữ liệu số đều cần được
bảo vệ. Do đó, sao lưu, phân quyền, mã hóa kết nối, giám sát, tường lửa ứng dụng
web và quy trình xử lý sự cố phải được coi là một phần của thiết kế chuyển đổi
số ngay từ đầu.
3.
Hoạt động chuyển đổi số trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử
Tạp
chí Nghiên cứu Lịch sử - Một kho tư liệu học thuật phong phú
Tạp
chí Nghiên cứu Lịch sử là một trong những tạp chí khoa học chuyên ngành có bề
dày truyền thống lâu đời tại Việt Nam. Tiền thân của Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử
là Tập san Văn-Sử-Địa, xuất bản từ tháng 6 năm 1954. Tháng 3 năm 1959, trên
nền tẩng của Tập san Văn Sử Địa, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử chính thức ra mắt số
đầu tiên với tư cách là cơ quan ngôn luận của Viện Sử học. Trong hơn 70 năm phát
triển, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử đã trở thành diễn đàn học thuật quan trọng, uy
tín, công bố nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về lịch sử Việt Nam và lịch
sử thế giới, góp phần hình thành hệ thống tư liệu khoa học lịch sử phục vụ
nghiên cứu, giảng dạy, cung cấp luận cứ và hoạch định chính sách.
Hiện
nay, Tạp chí là cơ quan ngôn luận của Viện Sử học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội
Việt Nam. Tạp chí có chức năng công bố các công trình nghiên cứu khoa học lịch
sử, phổ biến tri thức lịch sử, đồng thời cung cấp các luận cứ khoa học phục vụ
công tác hoạch định chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Về
mặt học thuật, Tạp chí hiện được Hội đồng Giáo sư Nhà nước công nhận là tạp chí
tính điểm của bốn hội đồng ngành và liên ngành, trong đó đạt mức cao nhất là
1,0 điểm đối với ngành Sử học - Khảo cổ học - Dân tộc học - Nhân học. Đây là
tiêu chí quan trọng phản ánh uy tín chuyên môn và chất lượng học thuật của Tạp
chí trong hệ thống xuất bản khoa học Việt Nam, đồng thời tạo nền tảng thuận lợi
để Tạp chí tiếp tục chuẩn hóa hoạt động và mở rộng kết nối với cộng đồng khoa học
trong nước và quốc tế.
Với
bề dày lịch sử, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử hình thành một kho tư liệu học thuật
phong phú và có giá trị đối với ngành Sử học. Cho đến hết năm 7/2026, Tạp chí
đã xuất bản hơn 600 số tiếng Việt, 4 số tiếng Anh với hơn 6.100 bài nghiên cứu,
bao quát nhiều lĩnh vực từ lịch sử Việt Nam, lịch sử thế giới đến phương pháp
luận, tư liệu lịch sử và trao đổi học thuật... Khối lượng công trình được tích
lũy qua nhiều thế hệ học giả không chỉ phản ánh thành quả nghiên cứu mà còn cho
thấy sự phong phú, đa dạng của các vấn đề nghiên cứu của ngành khoa học lịch sử.
Đây
cũng là một nguồn lực quan trọng cho quá trình chuyển đổi số của Tạp chí. Thay
vì chỉ chuyển tài liệu giấy thành các tệp điện tử, việc số hóa cần hướng tới bảo
tồn, tổ chức và nâng cao khả năng khai thác kho tư liệu hiện có. Khi các bài viết
được số hóa toàn văn, chuẩn hóa metadata và liên kết theo tác giả, chủ đề, thời
kỳ, nhân vật, sự kiện, địa danh hay tài liệu tham khảo, những tài liệu vốn được
lưu giữ theo từng số xuất bản có thể từng bước hình thành một hệ thống dữ liệu
có khả năng tìm kiếm và khai thác sâu hơn. Theo định hướng phát triển, Tạp chí
sẽ số hóa các số đã xuất bản từ năm 1954 đến nay, triển khai DOI, chuẩn hóa
metadata và từng bước kết nối với các cơ sở dữ liệu khoa học. Qua đó, kho tư liệu
được tích lũy trong hơn 70 năm có thể từng bước phát triển thành kho tri thức số
về lịch sử, phục vụ hiệu quả hơn cho nghiên cứu, giảng dạy và phổ biến tri thức
lịch sử.
Những
kết quả bước đầu
Có
thể thấy, xét trên phương diện chuyên môn, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử đã xây dựng
được vị thế học thuật vững chắc. Tuy nhiên, trong bối cảnh chuyển đổi số báo
chí, những lợi thế về truyền thống và chất lượng nội dung không còn là điều kiện
đủ để duy trì năng lực cạnh tranh. Giá trị của một tạp chí khoa học hiện đại
không chỉ được đo bằng chất lượng bài viết mà còn được đánh giá thông qua mức độ
chuẩn hóa quy trình quản trị, khả năng số hóa dữ liệu, mức độ hiện diện trên
các cơ sở dữ liệu quốc tế và khả năng tiếp cận của cộng đồng học thuật toàn cầu.
Đây chính là thách thức lớn đặt ra đối với mô hình hoạt động hiện nay của Tạp
chí.
Từ
yêu cầu của thực tiễn, dưới sự chỉ đạo của lãnh đạo Viện Sử học, Viện Hàn lâm
Khoa học xã hội Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử đã xác định chuyển đổi số
là nhiệm vụ trọng tâm giai đoạn 2026-2030 và đã triển khai một số nội dung phục
vụ công tác chuyển đổi số Tạp chí như: xây dựng website điện tử; số hóa một phần
các số tạp chí đã xuất bản; hoàn thiện đề án chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030
và từng bước chuẩn hóa dữ liệu xuất bản và quy trình quản lý. Đây là nền tảng
quan trọng để chuyển từ mô hình xuất bản truyền thống sang mô hình xuất bản
khoa học trên nền tảng số.
Trong
giai đoạn 2026-2030, Tạp chí đã xác định lộ trình tương đối rõ:
Giai
đoạn 2026-2027 tập trung hoàn thiện website, chuẩn hóa quy trình tiếp nhận, phản
biện, biên tập và xuất bản trên môi trường số; triển khai DOI; chuẩn hóa dữ liệu;
kiểm soát 100% bài viết bằng công cụ kiểm tra trùng lặp; và hoàn thiện các tiêu
chí theo Thông tư số 27/2025/TT-BKHCN.
Giai
đoạn 2028-2030 tiếp tục hoàn thiện số hóa kho tạp chí từ năm 1954 đến nay; xây
dựng Đề án Tạp chí điện tử; tăng xuất bản tiếng Anh lên 1-2 số/năm; mở rộng Hội
đồng Biên tập, mạng lưới phản biện quốc tế và từng bước tham gia các hệ thống
chỉ mục quốc tế.
Đặt
trong tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW, chuyển đổi số của Tạp chí Nghiên cứu Lịch
sử không nên chỉ hướng tới việc hình thành một tạp chí điện tử, mà xa hơn là
nâng cao khả năng tổ chức, kết nối và khai thác nguồn tri thức sử học đã được
tích lũy trong hơn bảy thập niên. Trên cơ sở đó, Tạp chí có thể từng bước trở
thành một nguồn dữ liệu học thuật quan trọng, đóng góp vào quá trình hình thành
hạ tầng tri thức số của ngành Sử học Việt Nam.
Tạp
chí có những nền tảng thuận lợi cho định hướng này, gồm bề dày hoạt động hơn 70
năm, hơn 6.100 bài nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực của khoa học lịch sử, đội
ngũ chuyên môn, mạng lưới tác giả và phản biện, Hội đồng biên tập có sự tham
gia của các nhà khoa học trong và ngoài nước, cùng hệ thống độc giả tại các viện
nghiên cứu, trường đại học và thư viện. Khi kho tư liệu hiện có được số hóa và
chuẩn hóa thành dữ liệu có cấu trúc, các bài viết có thể được tổ chức và liên kết
theo tác giả, chủ đề, nhân vật, sự kiện, địa danh, thời kỳ lịch sử và tài liệu
tham khảo. Trên cơ sở đó, người sử dụng không chỉ tìm kiếm từng bài viết riêng
lẻ mà còn có thể tiếp cận các nhóm công trình theo chủ đề, theo dõi sự phát triển
của một vấn đề nghiên cứu hoặc nhận diện những xu hướng nghiên cứu qua từng
giai đoạn.
Theo
hướng phát triển này, quá trình chuyển đổi số của Tạp chí có thể được thực hiện
từng bước, từ số hóa kho tư liệu, phát triển tạp chí điện tử, chuẩn hóa và liên
kết dữ liệu, hình thành cơ sở dữ liệu học thuật, tiến tới xây dựng một kho tri
thức số về lịch sử phục vụ nghiên cứu, giảng dạy và phổ biến tri thức. Khi được
kết nối với các nguồn dữ liệu và nền tảng nghiên cứu khác, kho tri thức này có
thể trở thành một thành phần hữu ích của hạ tầng tri thức số ngành Sử học, đồng
thời tạo thêm điều kiện cho việc ứng dụng các phương pháp nghiên cứu lịch sử số,
nhân văn số và nghiên cứu liên ngành.
4.
Kết luận
Chuyển
đổi số đang tạo ra sự thay đổi căn bản đối với hoạt động xuất bản khoa học trên
thế giới cũng như tại Việt Nam. Dưới tác động của Nghị quyết số 57-NQ/TW, các tạp
chí khoa học không còn chỉ thực hiện chức năng công bố kết quả nghiên cứu mà
còn phải trở thành hạ tầng tổ chức, quản trị và lan tỏa tri thức trên môi trường
số.
Đối
với Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, lợi thế lớn nhất không chỉ nằm ở uy tín học thuật
mà còn ở kho tư liệu được tích lũy liên tục từ năm 1954 đến nay với hàng nghìn
công trình nghiên cứu có giá trị. Nếu được số hóa toàn diện, chuẩn hóa dữ liệu
và kết nối theo các chuẩn quốc tế, kho tư liệu này sẽ phát triển từ một hệ thống
lưu trữ ấn phẩm thành kho tri thức sử học số, phục vụ hiệu quả cho nghiên cứu,
đào tạo và hoạch định chính sách.
Thành
công của chuyển đổi số vì vậy không được đo bằng việc có một website hay một tạp
chí điện tử, mà bằng khả năng xây dựng một hệ sinh thái xuất bản khoa học hiện
đại, minh bạch và bền vững, trong đó chất lượng học thuật tiếp tục là giá trị cốt
lõi, còn công nghệ đóng vai trò động lực nâng cao năng lực quản trị và lan tỏa
tri thức.
Tài
liệu tham khảo
1. Bộ
Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển
khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
2. Chính
phủ (2025), Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW.
3. Bộ
Khoa học và Công nghệ (2025), Thông tư số 27/2025/TT-BKHCN quy định về bài báo
khoa học và đánh giá, xếp loại tạp chí khoa học Việt Nam.
4. Viện
Sử học (2026), Đề án hoạt động Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử theo hướng đổi mới
sáng tạo và chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030.
5. Báo
cáo thực trạng tổ chức và hoạt động của Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử năm 2026.
Viện Sử học (2026), Đề án
hoạt động Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử theo hướng đổi mới sáng tạo và chuyển đổi
số giai đoạn 2026-2030.