image banner

NGHỊ QUYẾT 24-NQ/TW CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỚI NHIỆM VỤ CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ
Bài viết tập trung làm rõ một số chủ trương mới của Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới; những nội dung về chuyển đổi số; từ đó liên hệ với yêu cầu chuyển đổi số trong nghiên cứu khoa học lịch sử. Trên cơ sở nhận thức và vận dụng những định hướng của Nghị quyết, bài viết phân tích những chuyển biến tại Viện Sử học, đặc biệt trong triển khai Kế hoạch hành động cao điểm 100 ngày nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn, thúc đẩy các nhiệm vụ chuyển đổi số và đẩy mạnh số hóa dữ liệu phục vụ nghiên cứu khoa học lịch sử.

 

    Trong tiến trình phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang trở thành những động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng, phương thức quản trị và tổ chức hoạt động xã hội. Đối với khoa học xã hội và nhân văn nói chung, khoa học lịch sử nói riêng, sự chuyển biến này không chỉ đặt ra yêu cầu ứng dụng công nghệ vào hoạt động chuyên môn, mà sâu xa hơn là yêu cầu đổi mới phương thức tiếp cận tư liệu, tổ chức dữ liệu, tiến hành nghiên cứu, công bố và lan tỏa tri thức lịch sử. Ngày 22/8/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới. Nghị quyết tiếp tục phát triển tinh thần của Kết luận số 14-KL/TW ngày 22/9/2021 về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung[1], đồng thời đặt yêu cầu cao hơn đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên: không chỉ nhận thức đúng mà phải chủ động hành động, dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm và lấy sản phẩm, kết quả, hiệu quả thực thi làm thước đo.

    Đối với hoạt động nghiên cứu khoa học lịch sử, tinh thần đó có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đã xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là “đột phá quan trọng hàng đầu”, đồng thời nhấn mạnh vai trò của dữ liệu, hạ tầng số, nhân lực và công nghệ. Trên nền tảng đó, chuyển đổi số trong nghiên cứu lịch sử không còn là một lựa chọn mang tính bổ trợ mà từng bước trở thành yêu cầu trực tiếp đối với phương thức tổ chức và phát triển khoa học lịch sử. Từ góc nhìn này, Nghị quyết số 24-NQ/TW mở ra một cách tiếp cận đáng chú ý: chuyển đổi số không chỉ là câu chuyện của công nghệ, mà trước hết là câu chuyện về con người, tư duy và trách nhiệm thực thi. Nếu không có tinh thần tiên phong, gương mẫu, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, việc đầu tư hạ tầng, xây dựng cơ sở dữ liệu hay số hóa tư liệu khó có thể chuyển hóa thành năng lực nghiên cứu mới.

    Bài viết tập trung làm rõ một số chủ trương mới của Nghị quyết số 24-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới; những nội dung về chuyển đổi số; từ đó liên hệ với yêu cầu chuyển đổi số trong nghiên cứu khoa học lịch sử. Trên cơ sở bước đầu nhận thức và vận dụng những định hướng của Nghị quyết, bài viết phân tích những chuyển biến tại Viện Sử học, đặc biệt trong triển khai Kế hoạch hành động cao điểm 100 ngày nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn, thúc đẩy các nhiệm vụ chuyển đổi số và đẩy mạnh số hóa dữ liệu phục vụ nghiên cứu khoa học lịch sử.

    1. Nghị quyết số 24-NQ/TW - từ yêu cầu về cán bộ đến yêu cầu đổi mới phương thức thực thi nhiệm vụ

    Nghị quyết số 24-NQ/TW đặt vấn đề phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong một chỉnh thể thống nhất giữa nhận thức, thể chế, trao quyền, kiểm soát rủi ro, trách nhiệm giải trình và đánh giá bằng kết quả, đó là: “Phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của cán bộ, đảng viên phải đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; sự giám sát của Nhân dân; là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trước hết là cấp uỷ, tổ chức đảng, người đứng đầu; Khẳng định dấn thân, đổi mới, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung là phẩm chất cốt lõi, trách nhiệm chính trị và yêu cầu tự thân của cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới; lấy kết quả, sản phẩm cụ thể, hiệu quả thực thi, khả năng tháo gỡ điểm nghẽn và mức độ hài lòng của Nhân dân, doanh nghiệp làm thước đo để đánh giá; Tôn vinh, trọng dụng và bảo vệ cán bộ gắn với hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, quản trị rủi ro và trách nhiệm giải trình; bảo đảm cán bộ có không gian cống hiến, thẩm quyền và trách nhiệm rõ ràng, được bảo vệ khi có động cơ trong sáng, thực hiện đúng chủ trương, vì lợi ích chung. Xem xét miễn trừ, giảm nhẹ trách nhiệm đối với rủi ro khách quan, sai sót trong quá trình đổi mới, thử nghiệm, trên cơ sở đánh giá đầy đủ bối cảnh thực tiễn và đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết; Khuyến khích đổi mới, sáng tạo, kiến tạo cơ chế, chính sách đặc thù, đột phá gắn với siết chặt kỷ luật, kỷ cương, minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực. Phân định rõ giữa đổi mới và vi phạm; thực hiện nhất quán, xuyên suốt cơ chế “giao quyền - giám sát thực thi - quản trị rủi ro - đánh giá bằng kết quả”. Chủ động phòng ngừa, kiên quyết ngăn chặn và xử lý nghiêm hành vi lợi dụng danh nghĩa đổi mới, sáng tạo, dấn thân, đột phá để hợp thức hoá sai phạm, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm”[2].

    Điểm nổi bật của Nghị quyết là không dừng lại ở việc kêu gọi cán bộ “dám nghĩ, dám làm”, mà hướng tới tạo lập môi trường thể chế và tổ chức để tinh thần đó có thể được thực hiện trong thực tế. Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu khắc phục tình trạng e ngại, sợ sai, làm việc cầm chừng, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm; đồng thời khẳng định việc đánh giá cán bộ phải dựa nhiều hơn vào sản phẩm, hiệu quả công việc, khả năng tháo gỡ điểm nghẽn và giải quyết những nhiệm vụ mới, khó. “Khắc phục triệt để tình trạng e ngại, sợ sai, làm việc cầm chừng, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm; tạo chuyển biến rõ nét về kỷ luật, kỷ cương, chất lượng và hiệu quả thực thi nhiệm vụ; góp phần xây dựng nền công vụ năng động, liêm chính, chuyên nghiệp, sáng tạo, lấy sản phẩm, kết quả thực thi và sự hài lòng của Nhân dân, doanh nghiệp làm thước đo chủ yếu; Thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực, quản trị rủi ro, phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm và bảo vệ cán bộ đúng người, đúng việc, đúng bản chất”[3].

    Về chuyển đổi số, Nghị quyết số 24-NQ/TW nhấn mạnh đây là một trong những lĩnh vực cần tập trung tháo gỡ điểm nghẽn, trong đó xác định rõ: “Tập trung tháo gỡ điểm nghẽn trong khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển các thành phần kinh tế, giáo dục, y tế, văn hoá và các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao như tài chính, tài sản công, đầu tư công, đấu thầu, đất đai, năng lượng”. Nghị quyết đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số gắn với xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất, bảo đảm chất lượng và khả năng phục vụ quản lý, theo dõi, đánh giá: “Đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất về sáng kiến, đề xuất đổi mới bảo đảm dữ liệu ‘đúng, đủ, sạch, sống’; theo dõi, đánh giá, kiểm soát rủi ro và kịp thời nhân rộng các mô hình hiệu quả”. Đáng chú ý, chuyển đổi số còn được đặt trong quá trình đổi mới công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, với yêu cầu chuyển trọng tâm sang chủ động phòng ngừa, cảnh báo và hỗ trợ khắc phục: “Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra gắn với chuyển đổi số theo hướng chuyển trọng tâm sang chủ động phòng ngừa, cảnh báo và hỗ trợ khắc phục từ sớm, từ xa”. Cùng với đó, Nghị quyết yêu cầu khai thác hiệu quả cơ sở dữ liệu để hỗ trợ ra quyết định và giám sát thường xuyên: “Khai thác hiệu quả cơ sở dữ liệu quốc gia về đổi mới, sáng tạo để làm căn cứ hỗ trợ ra quyết định, giám sát thường xuyên và bảo vệ cán bộ”. Đặc biệt, trong tổ chức thực hiện, Nghị quyết giao Đảng uỷ Chính phủ “Chủ trì xây dựng nền tảng số quản trị đổi mới và cơ sở dữ liệu quốc gia về sáng kiến, đề xuất đổi mới, sáng tạo, bảo đảm kết nối, chia sẻ, phục vụ quản trị, giám sát và đánh giá”. Qua đó, chuyển đổi số được nhấn mạnh không chỉ ở việc ứng dụng công nghệ mà còn gắn với xây dựng nền tảng số, cơ sở dữ liệu, kết nối và chia sẻ dữ liệu, hỗ trợ ra quyết định, giám sát và nâng cao hiệu quả quản trị.

    Từ chủ trương tại Nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính trị đến chuyển đổi số trong nghiên cứu khoa học thể hiện trên ba vấn đề.

    Thứ nhất, dám đổi mới nhận thức. Cán bộ, đảng viên phải nhận thức rõ rằng trong kỷ nguyên mới, những phương thức làm việc cũ không phải lúc nào cũng đủ khả năng giải quyết những vấn đề mới. Đặc biệt, trong những lĩnh vực có tốc độ biến đổi nhanh như khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, tâm lý chờ đợi, chỉ làm theo tiền lệ hoặc né tránh quyết định có thể trở thành một điểm nghẽn đối với chính sự phát triển.

    Thứ hai, đổi mới phải chuyển thành hành động. Nghị quyết yêu cầu chuyển từ tư duy quản lý hành chính, phục tùng “máy móc” sang tư duy kiến tạo, hành động, chủ động giải quyết công việc; đồng thời thực hiện cơ chế “giao quyền - giám sát thực thi - quản trị rủi ro - đánh giá bằng kết quả”[4]. Điều này đặc biệt phù hợp với chuyển đổi số, bởi đây là lĩnh vực mà nhiều vấn đề chưa có tiền lệ, công nghệ thay đổi nhanh, mô hình tổ chức và phương thức khai thác dữ liệu liên tục xuất hiện những yêu cầu mới.

    Thứ ba, đổi mới phải tạo ra sản phẩm và hiệu quả thực chất. Nghị quyết không đồng nhất đổi mới với số lượng sáng kiến hay mức độ sử dụng công nghệ. Một sáng kiến chỉ thực sự có ý nghĩa khi giải quyết được một vấn đề cụ thể, tiết kiệm nguồn lực, nâng cao hiệu quả hoặc tạo ra khả năng nhân rộng.

    Đối với nghiên cứu khoa học lịch sử, cách tiếp cận này gợi mở một yêu cầu quan trọng: không nên đánh giá chuyển đổi số bằng số lượng tài liệu được quét - scan, số lượng máy móc được trang bị hay việc có thêm một website, một kho dữ liệu lớn - big data,… mà phải đánh giá bằng khả năng làm cho tư liệu dễ tiếp cận hơn, dữ liệu được tổ chức tốt hơn, quá trình nghiên cứu hiệu quả hơn và những sản phẩm tri thức mới được tạo ra.

    Trước đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là một chỉnh thể thống nhất của mô hình phát triển mới; đồng thời nhấn mạnh vai trò của thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược. Đối với nghiên cứu khoa học, điều đó có nghĩa chuyển đổi số không thể được hiểu đơn giản là tin học hóa một số công đoạn, mà phải gắn với thay đổi phương thức tổ chức và sản xuất tri thức[5].

    Đối với khoa học lịch sử, nhận thức này càng có ý nghĩa bởi tư liệu là nền tảng của toàn bộ hoạt động nghiên cứu. Trong thời gian dài, công việc của nhà sử học về cơ bản được tổ chức theo chu trình: tìm kiếm tư liệu, đọc và phê phán sử liệu, ghi chép, phân tích, xây dựng luận chứng, viết và công bố. Công nghệ số không làm mất đi logic căn bản ấy, nhưng đang làm thay đổi sâu sắc môi trường trong đó từng công đoạn được thực hiện. Tư liệu ngày càng được số hóa với quy mô lớn; tìm kiếm toàn văn cho phép tiếp cận những nguồn trước đây khó phát hiện; các công cụ như GIS, phân tích mạng lưới, khai phá văn bản và trí tuệ nhân tạo mở rộng khả năng xử lý những tập hợp tư liệu lớn. Vì vậy, câu hỏi đặt ra không còn đơn giản là nhà sử học có sử dụng công nghệ số hay không, mà là sử dụng công nghệ như thế nào để tạo ra tri thức lịch sử tốt hơn. Do đó, chuyển đổi số trong nghiên cứu lịch sử không nên được nhìn như một trào lưu công nghệ bên ngoài sử học, mà là một vấn đề bên trong thực hành sử học. Quan trọng hơn, cần chuyển từ “số hóa” sang tổ chức dữ liệu, xây dựng cơ sở dữ liệu, liên thông, tái sử dụng và tạo lập tri thức mới[6].

    Như vậy, nhận thức về chuyển đổi số trong nghiên cứu lịch sử có thể được xác lập ở ba cấp độ. Một là, từ tư liệu giấy sang tư liệu số. Đây là bước khởi đầu, tạo điều kiện bảo quản và mở rộng khả năng tiếp cận. Hai là, từ tư liệu số sang dữ liệu có cấu trúc. Tài liệu phải được gắn metadata, xác định nguồn gốc, niên đại, tác giả, nơi lưu giữ, quyền khai thác và các thông tin cần thiết khác để có thể tìm kiếm, liên kết và sử dụng. Ba là, từ dữ liệu sang hạ tầng tri thức. Khi các dữ liệu được chuẩn hóa, kết nối và tái sử dụng, chúng mới thực sự trở thành nguồn lực cho nghiên cứu.

    Vì vậy, một kho tài liệu gồm hàng triệu trang PDF chưa hẳn hoặc đương nhiên là một hệ thống nghiên cứu số. Chỉ khi dữ liệu số làm thay đổi năng lực khai thác sử liệu, phương thức đặt câu hỏi và khả năng tạo lập tri thức mới thì chuyển đổi số mới đạt tới chiều sâu thực chất. Ở đây, cần hiểu rằng số hóa tài liệu lịch sử phải đi cùng công cụ tìm kiếm và cơ sở dữ liệu phù hợp; tài liệu sau khi scan cần có thông tin về tên tài liệu, niên đại, tác giả, nơi lưu giữ và phương pháp nhận dạng ký tự. Quan trọng hơn, vấn đề bản quyền, quyền tiếp cận, bảo quản và duy trì dữ liệu lâu dài phải được tính đến ngay trong quá trình số hóa[7].

    2. Vận dụng tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm” vào thực hành nghiên cứu lịch sử trong bối cảnh chuyển đổi số

    Tinh thần của Nghị quyết số 24-NQ/TW đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ nghiên cứu khoa học, phải chủ động tìm cách đưa chủ trương vào công việc cụ thể.

    Dám thay đổi phương thức tiếp cận và khai thác sử liệu: Một biểu hiện đầu tiên của tinh thần đổi mới là sẵn sàng thay đổi phương thức tiếp cận tư liệu. Nhà sử học truyền thống thường phải trực tiếp đến thư viện, kho lưu trữ, bảo tàng hoặc các trung tâm tư liệu để tìm kiếm và khai thác nguồn sử liệu. Không gian số đang làm thay đổi điều đó. Nhiều nguồn tư liệu có thể được tiếp cận từ xa; công cụ tìm kiếm toàn văn giúp phát hiện những thông tin trước đây khó tìm; các cơ sở dữ liệu cho phép liên kết nhiều nhóm tư liệu khác nhau. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận nhanh hơn không đồng nghĩa với việc nghiên cứu trở nên đơn giản hơn. Ngược lại, khi lượng thông tin tăng lên, yêu cầu phê phán sử liệu càng cao. Nhà sử học phải xác định nguồn gốc, bối cảnh hình thành, mức độ tin cậy, tính đại diện và khả năng biến đổi của tài liệu trong quá trình số hóa. Do đó, “dám làm” trong nghiên cứu lịch sử số không có nghĩa là sử dụng càng nhiều công nghệ càng tốt, mà là dám thử nghiệm những phương pháp mới nhưng không từ bỏ các chuẩn mực căn bản của sử học.

    Dám chuyển từ “nguồn” sang “nguồn như dữ liệu”: Một thay đổi quan trọng của nghiên cứu lịch sử trong bối cảnh chuyển đổi số là chuyển từ cách nhìn “nguồn” sang “nguồn như dữ liệu”. Khi một tập hợp tư liệu được cấu trúc thành dữ liệu, nhà nghiên cứu có thể khảo sát không chỉ từng tài liệu riêng lẻ mà cả những tập hợp lớn. Khai phá văn bản có thể giúp nhận diện chủ đề, từ khóa và sự biến đổi của diễn ngôn; phân tích mạng lưới có thể làm rõ quan hệ giữa các nhân vật, tổ chức; GIS có thể giúp khảo sát các hiện tượng lịch sử trong không gian. Những phương pháp này không thay thế phương pháp sử học mà mở rộng khả năng đặt câu hỏi và kiểm chứng giả thuyết. Nhà sử học vẫn là người xác định câu hỏi nghiên cứu, lựa chọn nguồn, đánh giá dữ liệu, giải thích bối cảnh và xây dựng luận chứng.

    Dám hợp tác liên ngành: Chuyển đổi số cũng đặt ra yêu cầu vượt khỏi mô hình nghiên cứu hoàn toàn cá nhân. Nhà sử học không nhất thiết phải trở thành chuyên gia lập trình, dữ liệu hay trí tuệ nhân tạo. Nhưng họ cần có khả năng làm việc với chuyên gia công nghệ, ngôn ngữ học, địa lý học, lưu trữ học và các lĩnh vực liên quan. Điều này phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 24-NQ/TW về đổi mới tư duy, phương pháp và lề lối làm việc. Trong môi trường nghiên cứu mới, năng lực của một nhà khoa học không chỉ thể hiện ở việc làm tốt công việc chuyên môn truyền thống, mà còn ở khả năng kết nối tri thức và tổ chức nguồn lực để giải quyết một bài toán mới.

    Dám sử dụng AI nhưng không phụ thuộc vào AI: Trí tuệ nhân tạo đang mở ra nhiều khả năng mới đối với nghiên cứu lịch sử: nhận dạng văn bản, chuyển đổi hình ảnh thành văn bản, nhận diện nhân vật - địa danh - sự kiện, tìm kiếm và tổng hợp thông tin trong những tập hợp tư liệu lớn. Tuy nhiên, AI không thể thay thế tư duy phê phán của nhà sử học. Những thông tin do AI tạo ra có thể sai, thiếu bối cảnh hoặc thậm chí tạo ra những dữ liệu không tồn tại - “phi lịch sử”. Vì vậy, nguyên tắc quan trọng phải là: AI hỗ trợ nhà sử học xử lý tư liệu, nhưng nhà sử học chịu trách nhiệm về tính xác thực và giá trị khoa học của kết quả. Điều đó đòi hỏi xây dựng chuẩn mực sử dụng AI trong nghiên cứu lịch sử, trong đó đặc biệt coi trọng khả năng truy nguyên nguồn dữ liệu, kiểm chứng và tái kiểm chứng.

    3. Từ chủ trương đến hành động - 100 ngày cao điểm chuyển đổi số tại Viện Sử học

    Từ chủ trương đến hành động: Hiện nay, Viện Sử học đang triển khai Kế hoạch hành động cao điểm 100 ngày tháo gỡ các điểm nghẽn, thúc đẩy các nhiệm vụ chuyển đổi số và Kế hoạch số hóa dữ liệu. Kế hoạch được xây dựng trên cơ sở Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW ngày 11/7/2026 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; Kế hoạch hành động cao điểm 100 ngày của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam theo Quyết định số 1507-QĐ/VHLKHXHVN ngày 7/8/2026 cùng các chủ trương, chương trình hành động có liên quan. Điểm đáng chú ý của kế hoạch là không tiếp cận chuyển đổi số đơn thuần dưới góc độ đầu tư công nghệ mà tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn về dữ liệu, hạ tầng, nền tảng, nhân lực và tổ chức thực hiện. Đối với Viện Sử học, năm nhóm dữ liệu được xác định có liên quan trực tiếp đến hoạt động của đơn vị gồm: quản trị hành chính, nghiên cứu khoa học, tạp chí, thư viện và công tác Đảng[8]. Đây là bước chuyển rất đáng chú ý. Chuyển đổi số không còn được nhìn như công việc riêng của bộ phận kỹ thuật mà trở thành nhiệm vụ gắn với toàn bộ hoạt động của một cơ quan nghiên cứu.

    Số hóa hồ sơ Đảng, hồ sơ chính quyền và dữ liệu quản trị: Việc số hóa hồ sơ Đảng, hồ sơ chính quyền và các nhóm hồ sơ quản trị góp phần tạo lập nền tảng dữ liệu phục vụ hoạt động thường xuyên của Viện. Giá trị của công việc này không chỉ nằm ở việc giảm sử dụng hồ sơ giấy. Khi dữ liệu được phân loại, chuẩn hóa, lưu trữ và phân quyền hợp lý, cơ quan có thể từng bước chuyển từ quản lý dựa trên hồ sơ vật lý sang quản trị dựa trên dữ liệu. Đây chính là sự cụ thể hóa yêu cầu đổi mới phương thức làm việc được Nghị quyết số 24-NQ/TW đặt ra: công việc phải rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời gian và rõ kết quả.

    Số hóa hồ sơ và sản phẩm đề tài cấp Viện, cấp Bộ: Đối với hoạt động nghiên cứu khoa học, một nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt là số hóa hồ sơ và sản phẩm các đề tài cấp Viện, cấp Bộ, nhất là giai đoạn 2020-2025. Đây là nguồn dữ liệu khoa học có giá trị trực tiếp đối với hoạt động nghiên cứu. Mỗi đề tài không chỉ có sản phẩm cuối cùng mà còn có thuyết minh, báo cáo, chuyên đề, phụ lục, tư liệu, dữ liệu khảo sát và các sản phẩm khoa học liên quan. Khi những tài liệu này được số hóa, chuẩn hóa và tổ chức thành hệ thống, sản phẩm của một đề tài đã nghiệm thu không còn chỉ được nhìn nhận như “một hồ sơ đã hoàn thành”, mà có thể trở thành nguồn dữ liệu khoa học có khả năng tái sử dụng. Đây là một thay đổi rất quan trọng đối với nghiên cứu lịch sử. Tính kế thừa của sử học rất cao; một bộ tư liệu, danh mục nhân vật, địa danh, sự kiện, bảng thống kê hoặc kết quả điều tra của một đề tài có thể tiếp tục phục vụ nhiều câu hỏi nghiên cứu khác. Vì vậy, số hóa sản phẩm đề tài chính là quá trình biến “kết quả nghiên cứu đã hoàn thành” thành “tài sản dữ liệu khoa học có khả năng tích lũy và tái sử dụng”.

    Số hóa tài liệu và hình thành hạ tầng tư liệu nghiên cứu: Thư viện là một trong những bộ phận có vai trò quan trọng nhất đối với chuyển đổi số tại Viện Sử học. Nếu số hóa chỉ dừng ở việc tạo các tệp ảnh hoặc PDF, giá trị khai thác sẽ còn hạn chế. Tài liệu cần được gắn thông tin về tác giả, nhan đề, thời gian, chủ đề, từ khóa, nơi lưu giữ và các thông tin thư mục cần thiết. Khi đó, thư viện có thể từng bước chuyển từ nơi lưu giữ tài liệu thành hạ tầng dữ liệu phục vụ nghiên cứu. Nhiệm vụ này hướng tới mục tiêu, số hóa đi cùng công cụ tìm kiếm, cơ sở dữ liệu, metadata, quyền tiếp cận, bản quyền và bảo quản lâu dài[9].

    Số hóa Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử: Một hướng có ý nghĩa đặc biệt là chuyển đổi số Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử. Theo Đề án hoạt động Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử theo hướng đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030, chuyển đổi số của tạp chí khoa học không chỉ là chuyển ấn phẩm giấy thành bản điện tử mà phải hướng tới thay đổi toàn diện phương thức quản trị, xuất bản và lan tỏa tri thức. Đối với Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, nhiệm vụ này càng có ý nghĩa bởi Tạp chí có bề dày hơn 70 năm và đang sở hữu một kho tư liệu học thuật rất lớn[10]. Theo định hướng được công bố, Tạp chí đã xây dựng website điện tử - tạp chí điện tử, đang từng bước số hóa các số đã xuất bản, chuẩn hóa dữ liệu xuất bản và quy trình quản lý. Giai đoạn 2026-2027 tập trung vào quy trình tiếp nhận, phản biện, biên tập và xuất bản trên môi trường số, triển khai gắn mã DOI, chuẩn hóa dữ liệu và các tiêu chí liên quan. Giai đoạn 2028-2030 tiếp tục hoàn thiện số hóa kho tạp chí từ năm 1954 đến nay, xây dựng Đề án Tạp chí điện tử, mở rộng xuất bản tiếng Anh và từng bước kết nối với các hệ thống chỉ mục quốc tế[11]. Nếu được thực hiện đồng bộ, kho ấn phẩm của Tạp chí sẽ không chỉ là nơi lưu trữ các số báo đã xuất bản mà có thể trở thành kho tri thức sử học số, trong đó các bài viết được liên kết theo tác giả, chủ đề, nhân vật, sự kiện, địa danh, thời kỳ và tài liệu tham khảo.

    Từ “làm nhiệm vụ” sang “quản trị bằng sản phẩm và minh chứng”: Đợt cao điểm được triển khai từ ngày 8/8 đến hết ngày 15/11/2026[12]; các nhiệm vụ số hóa còn lại tiếp tục thực hiện đến hết năm 2026. Kế hoạch tổ chức thực hiện theo nguyên tắc “6 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian và rõ kết quả. Nhiệm vụ chỉ được coi là hoàn thành khi có sản phẩm hoặc minh chứng cụ thể[13]. Đây là điểm có ý nghĩa về phương pháp quản trị. Trước đây, một nhiệm vụ có thể được đánh giá chủ yếu dựa trên việc đã triển khai hay chưa. Trong môi trường quản trị số, câu hỏi phải chuyển thành: đã có sản phẩm gì, dữ liệu nào, tiến độ ra sao, ai chịu trách nhiệm và có thể kiểm chứng bằng minh chứng nào?

    Do Kế hoạch 100 ngày hiện vẫn đang được triển khai, chưa nên đánh giá đây là một quá trình đã hoàn tất. Tuy nhiên, có thể nhận diện một số chuyển biến bước đầu và những giá trị nền tảng đang được hình thành. Thứ nhất, nhận thức về chuyển đổi số đang chuyển từ “công nghệ” sang “dữ liệu”. Dữ liệu được nhìn nhận là tài sản chung của cơ quan, cần được rà soát, phân loại, chuẩn hóa và tổ chức để có thể sử dụng lâu dài. Thứ hai, phạm vi chuyển đổi số được mở rộng từ một số khâu chuyên môn sang toàn bộ hoạt động của Viện. Hồ sơ Đảng, hồ sơ chính quyền, quản trị hành chính, đề tài khoa học, Tạp chí và Thư viện đều trở thành những bộ phận của cùng một quá trình chuyển đổi. Thứ ba, sản phẩm nghiên cứu được nhìn nhận như nguồn dữ liệu có khả năng tái sử dụng. Đây có thể là một trong những kết quả quan trọng nhất đối với hoạt động nghiên cứu lịch sử. Các đề tài đã hoàn thành không bị “đóng lại” sau nghiệm thu mà có khả năng tiếp tục tạo giá trị khoa học. Thứ tư, phương thức tổ chức công việc có sự thay đổi. Việc xác định rõ người, việc, trách nhiệm, thời gian và kết quả tạo điều kiện chuyển từ quản lý nhiệm vụ sang quản trị bằng sản phẩm và dữ liệu. Thứ năm, khả năng hình thành hạ tầng tri thức số của Viện được mở ra. Khi dữ liệu quản trị, đề tài, thư viện, tạp chí và các nguồn tư liệu khác được chuẩn hóa và kết nối, chúng có thể tạo thành những lớp dữ liệu bổ trợ lẫn nhau, phục vụ cả quản trị và nghiên cứu.

    Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng số hóa mới chỉ là điều kiện cần. Hiệu quả cuối cùng phải được đánh giá bằng khả năng khai thác dữ liệu và tạo ra giá trị mới. Vấn đề không chỉ là số hóa được bao nhiêu tài liệu mà quan trọng hơn là tài liệu sau khi số hóa có thực sự được sử dụng hay không[14]. Do đó, thước đo chuyển đổi số trong nghiên cứu lịch sử cần được chuyển từ: “Số hóa được bao nhiêu?” sang: “Khai thác được gì?” và cao hơn nữa: “Tạo ra tri thức mới gì?”,…

    4. Kết luận và những vấn đề đặt ra

    Nghị quyết số 24-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra một yêu cầu có ý nghĩa sâu sắc đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới: phải chuyển mạnh từ nhận thức sang hành động, từ tâm lý an toàn sang tinh thần tiên phong, từ cách làm theo tiền lệ sang chủ động đổi mới, từ hoàn thành nhiệm vụ sang tạo ra sản phẩm và hiệu quả thực chất. Đối với nghiên cứu khoa học lịch sử, yêu cầu đó gặp gỡ trực tiếp với quá trình chuyển đổi số đang diễn ra dưới tác động của Nghị quyết số 57-NQ/TW. Công nghệ số đang làm thay đổi cách nhà sử học tiếp cận tư liệu, tổ chức dữ liệu, phân tích sử liệu, hợp tác nghiên cứu và công bố tri thức. Nhưng công nghệ không tự tạo ra sự chuyển đổi. Con người, tư duy và cách tổ chức thực hiện mới là yếu tố quyết định.

    Thực tiễn tại Viện Sử học, đặc biệt là việc triển khai Kế hoạch hành động cao điểm 100 ngày tháo gỡ các điểm nghẽn, thúc đẩy chuyển đổi số và kế hoạch số hóa dữ liệu, cho thấy một bước chuyển đáng chú ý: từ nhận thức chung về chuyển đổi số sang xác định những nhiệm vụ cụ thể về dữ liệu, hạ tầng, nền tảng, nhân lực và quy trình. Việc số hóa hồ sơ Đảng, hồ sơ chính quyền, hồ sơ khoa học, sản phẩm đề tài cấp Viện, cấp Bộ, dữ liệu Thư viện và Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử đang tạo nền tảng cho một phương thức quản trị và nghiên cứu mới[15].

    Tuy nhiên, giá trị của quá trình này sẽ không được quyết định bởi số lượng tài liệu được số hóa, mà bởi khả năng biến những tài liệu ấy thành dữ liệu có cấu trúc, dữ liệu thành hạ tầng nghiên cứu, hạ tầng thành công cụ phát hiện và kiểm chứng, và cuối cùng tạo ra tri thức lịch sử mới. Ở phương diện đó, chuyển đổi số chính là một phép thử đối với tinh thần tiên phong, gương mẫu, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học. Và cũng từ đó có thể thấy một yêu cầu có tính nguyên tắc: nhà sử học không thể đứng ngoài chuyển đổi số, nhưng cũng không thể để công nghệ dẫn dắt phương pháp sử học. Công nghệ phải trở thành công cụ để sử học thực hiện tốt hơn chức năng cốt lõi của mình: phát hiện, kiểm chứng, giải thích và kiến tạo tri thức lịch sử. Nếu làm được điều đó, quá trình chuyển đổi số hiện nay sẽ không chỉ tạo ra những kho tài liệu điện tử hay những quy trình làm việc mới, mà có thể góp phần hình thành hạ tầng dữ liệu và hạ tầng tri thức số của ngành Sử học Việt Nam, qua đó nâng cao năng lực nghiên cứu, đào tạo, bảo tồn và phát huy giá trị của tri thức lịch sử trong kỷ nguyên mới.

    Nhìn từ Nghị quyết số 24-NQ/TW, vấn đề cuối cùng và cũng là vấn đề quyết định không nằm ở máy móc hay phần mềm mà ở con người. Chuyển đổi số có thể tạo ra hạ tầng, cơ sở dữ liệu và công cụ mới, nhưng chính cán bộ là người quyết định dữ liệu nào cần được số hóa, tổ chức ra sao, sử dụng thế nào và biến dữ liệu thành tri thức bằng cách nào. Đối với đội ngũ nghiên cứu lịch sử, tính tiên phong, gương mẫu trước hết thể hiện ở việc chủ động học hỏi và thích ứng với phương thức nghiên cứu mới; không đứng ngoài chuyển đổi số nhưng cũng không chạy theo công nghệ một cách hình thức.

    Tinh thần “dám nghĩ” là dám đặt ra những câu hỏi nghiên cứu mới dựa trên nguồn dữ liệu mới. “Dám làm” là dám thử nghiệm phương pháp mới, công cụ mới, mô hình nghiên cứu mới. “Dám chịu trách nhiệm” là chịu trách nhiệm về chất lượng dữ liệu, phương pháp xử lý, tính xác thực của kết quả và tính trung thực của công bố khoa học. Đặc biệt, đối với cán bộ quản lý, tinh thần tiên phong còn phải thể hiện ở khả năng tạo môi trường khuyến khích đổi mới. Không thể yêu cầu cán bộ nghiên cứu đổi mới nếu mọi sáng kiến đều phải đi theo lối mòn; cũng không thể thúc đẩy chuyển đổi số nếu trách nhiệm được giao không đi kèm thẩm quyền, nguồn lực và cơ chế hỗ trợ. Đây chính là điểm Nghị quyết số 24-NQ/TW nhấn mạnh khi đặt đổi mới, phân cấp, quản trị rủi ro, trách nhiệm giải trình và bảo vệ cán bộ trong cùng một cơ chế[16].

    Từ thực tiễn trên, để chuyển đổi số trong nghiên cứu lịch sử đi vào chiều sâu, có thể tập trung vào một số yêu cầu sau.

    Một là, xây dựng chiến lược dữ liệu sử học thay vì chỉ thực hiện các dự án số hóa riêng lẻ. Mỗi nhiệm vụ số hóa cần được đặt trong kiến trúc dữ liệu chung, bảo đảm khả năng kết nối và tái sử dụng.

    Hai là, thống nhất chuẩn dữ liệu. Cần từng bước xây dựng chuẩn metadata đối với tài liệu lịch sử, đề tài khoa học, sách, bài tạp chí, nhân vật, địa danh, sự kiện và các nhóm tư liệu khác.

    Ba là, gắn số hóa với quyền truy cập, bản quyền và bảo mật. Không phải tài liệu nào số hóa cũng có thể công khai. Cần xác định rõ nguồn gốc, tình trạng pháp lý, quyền tác giả, mức độ mật và phạm vi khai thác.

    Bốn là, xây dựng năng lực số cho nhà sử học, cán bộ nghiên cứu, quản trị. Năng lực số không có nghĩa nhà sử học, cán bộ nghiên cứu, quản trị phải trở thành chuyên gia công nghệ, mà cần có khả năng quản trị dữ liệu nghiên cứu, sử dụng công cụ tìm kiếm, hiểu metadata, sử dụng OCR/HTR, GIS, khai phá văn bản và AI ở mức phù hợp; đồng thời hiểu rõ giới hạn của các công cụ này.

    Năm là, hình thành các nhóm nghiên cứu liên ngành. Những bài toán lớn của sử học số cần sự phối hợp giữa nhà sử học, chuyên gia công nghệ thông tin, dữ liệu, lưu trữ, thư viện, ngôn ngữ học và địa lý học.

    Sáu là, xây dựng chuẩn mực sử dụng AI trong nghiên cứu lịch sử. AI phải được coi là công cụ hỗ trợ, không phải nguồn chân lý. Mọi thông tin do AI hỗ trợ tạo ra đều phải được kiểm chứng bằng nguồn sử liệu đáng tin cậy.

    Bảy là, đánh giá chuyển đổi số bằng sản phẩm và hiệu quả nghiên cứu. Sản phẩm cuối cùng phải được nhìn ở khả năng làm cho nhà sử học tìm kiếm nhanh hơn, xử lý được nhiều dữ liệu hơn, kiểm chứng tốt hơn, đặt ra câu hỏi mới và tạo ra những công trình nghiên cứu có giá trị hơn.

 
Chú thích:

[1] Bộ Chính trị (2021), Kết luận số 14-KL/TW ngày 22/9/2021 về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/ket-luan-so-14-kltw-ngay-2292021-cua-bo-chinh-tri-ve-chu-truong-khuyen-khich-va-bao-ve-can-bo-nang-dong-sang-tao-vi-7831, truy cập 25-8-2026.

[2] Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-24-nq-tw-ngay-22-8-2026-cua-bo-chinh-tri-ve-phat-huy-tinh-tien-phong-guong-mau-tinh-than-doi-moi-dam-nghi-.html, truy cập 25-8-2026.

[3] Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-24-nq-tw-ngay-22-8-2026-cua-bo-chinh-tri-ve-phat-huy-tinh-tien-phong-guong-mau-tinh-than-doi-moi-dam-nghi-.html, truy cập 25-8-2026.

[4] Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-24-nq-tw-ngay-22-8-2026-cua-bo-chinh-tri-ve-phat-huy-tinh-tien-phong-guong-mau-tinh-than-doi-moi-dam-nghi-.html, truy cập 25-8-2026.

[5] Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-57-nqtw-ngay-22122024-cua-bo-chinh-tri-ve-dot-pha-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-11162, truy cập 26-8-2026.

[6] PGS.TS. Võ Xuân Vinh (2026), “Chuyển đổi số trong nghiên cứu lịch sử: Từ nhận thức đến hành động”, https://viensuhoc.vass.gov.vn/chuyen-doi-so/chuyen-doi-so-trong-nghien-cuu-lich-su-tu-nhan-thuc-den-hanh-dong-579770, truy cập 27-8-2026.

[7] TS. Nguyễn Lan Dung (2026), “Số hóa tài liệu trong nghiên cứu lịch sử - Những vấn đề đặt ra”, https://viensuhoc.vass.gov.vn/chuyen-doi-so/so-hoa-tai-lieu-trong-nghien-cuu-lich-su-nhung-van-de-dat-ra-579505, truy cập 27-8-2026.

[8] Quang Lê (2026), “100 ngày tháo gỡ điểm nghẽn, tạo chuyển biến thực chất trong chuyển đổi số tại Viện Sử học”, https://viensuhoc.vass.gov.vn/chuyen-doi-so/100-ngay-thao-go-diem-nghen-tao-chuyen-bien-thuc-chat-trong-chuyen-doi-so-tai-vien-su-hoc-579454, truy cập 28-8-2026.

[9] TS. Nguyễn Lan Dung (2026), “Số hóa tài liệu trong nghiên cứu lịch sử - Những vấn đề đặt ra”, https://viensuhoc.vass.gov.vn/chuyen-doi-so/so-hoa-tai-lieu-trong-nghien-cuu-lich-su-nhung-van-de-dat-ra-579505, truy cập 27-8-2026.

[10] TS. Lê Thị Thu Hằng (2026), “Chuyển đổi số trong hoạt động của Tạp chí Khoa học”, https://viensuhoc.vass.gov.vn/chuyen-doi-so/chuyen-doi-so-trong-hoat-dong-cua-tap-chi-khoa-hoc-580101, truy cập 29-8-2026.

[11] Viện Sử học (2026), Đề án hoạt động Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử theo hướng đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030, Tài liệu lưu Viện Sử học.

[12] Theo Kế hoạch số 229-KH/VHKKHXHVN, ngày 28/8/2026 về Phát động Phong trào thi đua cao điểm lập thành tích chào mừng Kỷ niệm 73 năm Ngày thành lập Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (02/12/1953 - 02/12/2026), thì cao điểm từ ngày 03/9/2026 đến ngày 25/11/2026.

[13] Viện Sử học (2026), Quyết định Ban hành Kế hoạch số hóa tài liệu của Viện Sử học năm 2026 và lộ trình giai đoạn 2027-2030, Tài liệu lưu Viện Sử học.

[14] TS. Nguyễn Lan Dung (2026), “Số hóa tài liệu trong nghiên cứu lịch sử - Những vấn đề đặt ra”, https://viensuhoc.vass.gov.vn/chuyen-doi-so/so-hoa-tai-lieu-trong-nghien-cuu-lich-su-nhung-van-de-dat-ra-579505, truy cập 27-8-2026.

[15] Quang Lê (2026), “100 ngày tháo gỡ điểm nghẽn, tạo chuyển biến thực chất trong chuyển đổi số tại Viện Sử học”, https://viensuhoc.vass.gov.vn/chuyen-doi-so/100-ngay-thao-go-diem-nghen-tao-chuyen-bien-thuc-chat-trong-chuyen-doi-so-tai-vien-su-hoc-579454, truy cập 28-8-2026.

[16] Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-24-nq-tw-ngay-22-8-2026-cua-bo-chinh-tri-ve-phat-huy-tinh-tien-phong-guong-mau-tinh-than-doi-moi-dam-nghi-.html, truy cập 25-8-2026.

TS. Ngô Hoàng Nam, Viện Sử học, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam
Tin nổi bật
  • Bộ sách gồm 10 tập, Viện Sử học dịch, Nxb KHXH xuất bản.
    23/04/2013
  • Đại Nam nhất thống chí đời Tự Đức là bộ sách địa lý học Việt Nam đầy đủ nhất dưới thời phong kiến. Đại Nam nhất thống chí theo bộ Đại Thanh nhất thống chí của Trung Quốc mà chia ra các mục như: phương vi, phân dã, kiến trí, duyên cách, phủ huyện, hình thế, khí hậu, phong tục, thành trì, học hiệu, hộ khẩu, điền phú, sơn xuyên, quan tấn, dịch trạm, thị lập, tứ miếu, tự quán, phân việt, thổ sản, v.v... Ngoài ra, Đại Nam nhất thống chí còn có quyển chép riêng về Cao Miên (Campuchia), Xiêm La, Miến Điện, Nam Chưởng, Vạn Tượng.
    22/04/2013
  • Trong tập sách này, các tác giả không chỉ trình bày các sự kiện về quân sự, chính trị mà còn nêu lên nhiều sự kiện khác thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại....
    27/09/2012
  • "Việt Nam những sự kiện lịch sử (Từ khởi thủy đến 1858)" là cuốn sách ghi lại các sự kiện lịch sử nước nhà từ khởi thủy đến khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược vào giữa thế kỷ XIX.
    27/09/2012
  • Đại Nam liệt truyện là một bộ sách có quy mô khá đồ sộ trong kho tàng thư tịch cổ viết bằng chữ Hán của Việt Nam, do cơ quan làm sử chính thức của nhà Nguyễn là Quốc sử quán biên soạn vào giữa thế kỷ XIX.
    24/09/2012
  • Lịch triều hiến chương loại chí là bộ bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam. Có nghĩa là Phép tắc các triều đại chép theo thể phân loại do Phan Huy Chú soạn trong 10 năm (1809-1819).
    23/09/2012
  • Là bộ sử có giá trị to lớn và quan trọng bậc nhất trong nền sử học Việt Nam thời kỳ cổ trung đại. Bộ chính sử do Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê biên soạn.
    22/09/2012
  • Cuốn sách Cổ luật Việt Nam gốm 2 bộ Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ. Quốc triều hình luật (còn gọi là bộ luật Hồng Đức) và Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là bộ luật Gia Long) là hai bộ cổ luật duy nhất còn lại cho đến nay của các triều đại phong kiến Việt Nam; là những di sản quý giá có giá trị tham khảo về nhiều mặt cho chúng ta ngày nay.
    19/09/2012
  • Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ là một bộ sách được biên soạn dưới triều Nguyễn theo thể loại Hội điển. Thể loại này được đặt ra nhằm ghi chép lại các điển pháp, quy chuẩn và các dữ kiện liên quan đến tổ chức và hoạt động của một triều đại, một Nhà nước.
    19/09/2012
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1