NGHỊ QUYẾT 24-NQ/TW CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỚI NHIỆM VỤ CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ
Bài viết tập trung làm rõ một số chủ trương mới của Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới; những nội dung về chuyển đổi số; từ đó liên hệ với yêu cầu chuyển đổi số trong nghiên cứu khoa học lịch sử. Trên cơ sở nhận thức và vận dụng những định hướng của Nghị quyết, bài viết phân tích những chuyển biến tại Viện Sử học, đặc biệt trong triển khai Kế hoạch hành động cao điểm 100 ngày nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn, thúc đẩy các nhiệm vụ chuyển đổi số và đẩy mạnh số hóa dữ liệu phục vụ nghiên cứu khoa học lịch sử.
Trong tiến trình phát triển đất nước trong kỷ
nguyên mới, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang trở
thành những động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng, phương thức
quản trị và tổ chức hoạt động xã hội. Đối với khoa học xã hội và nhân văn nói
chung, khoa học lịch sử nói riêng, sự chuyển biến này không chỉ đặt ra yêu cầu ứng
dụng công nghệ vào hoạt động chuyên môn, mà sâu xa hơn là yêu cầu đổi mới
phương thức tiếp cận tư liệu, tổ chức dữ liệu, tiến hành nghiên cứu, công bố và
lan tỏa tri thức lịch sử. Ngày
22/8/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW về phát huy tính
tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm
của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới. Nghị quyết tiếp tục phát
triển tinh thần của Kết luận số 14-KL/TW ngày 22/9/2021 về chủ trương khuyến
khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung,
đồng thời đặt yêu cầu cao hơn đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên: không chỉ nhận
thức đúng mà phải chủ động hành động, dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm và lấy
sản phẩm, kết quả, hiệu quả thực thi làm thước đo.
Đối với hoạt động nghiên
cứu khoa học lịch sử, tinh thần đó có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi
số đang diễn ra mạnh mẽ. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị
đã xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
quốc gia là “đột phá quan trọng hàng đầu”, đồng thời nhấn mạnh vai trò của dữ
liệu, hạ tầng số, nhân lực và công nghệ. Trên nền tảng đó, chuyển đổi số trong
nghiên cứu lịch sử không còn là một lựa chọn mang tính bổ trợ mà từng bước trở
thành yêu cầu trực tiếp đối với phương thức tổ chức và phát triển khoa học lịch
sử. Từ góc nhìn này, Nghị quyết
số 24-NQ/TW mở ra một cách tiếp cận đáng chú ý: chuyển đổi số không chỉ là câu
chuyện của công nghệ, mà trước hết là câu chuyện về con người, tư duy và trách
nhiệm thực thi. Nếu không có tinh thần tiên phong, gương mẫu, dám nghĩ, dám
làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, việc đầu tư hạ tầng, xây dựng cơ
sở dữ liệu hay số hóa tư liệu khó có thể chuyển hóa thành năng lực nghiên cứu mới.
Bài viết tập trung làm rõ một số chủ trương mới của Nghị quyết số 24-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới; những nội dung về chuyển đổi số; từ đó liên hệ với yêu cầu chuyển đổi số trong nghiên cứu khoa học lịch sử. Trên cơ sở bước đầu nhận thức và vận dụng những định hướng của Nghị quyết, bài viết phân tích những chuyển biến tại Viện Sử học, đặc biệt trong triển khai Kế hoạch hành động cao điểm 100 ngày nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn, thúc đẩy các nhiệm vụ chuyển đổi số và đẩy mạnh số hóa dữ liệu phục vụ nghiên cứu khoa học lịch sử.
1. Nghị
quyết số 24-NQ/TW - từ yêu
cầu về cán bộ đến yêu cầu đổi mới phương thức thực thi nhiệm vụ
Nghị quyết số 24-NQ/TW đặt vấn đề phát huy
tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu
trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong một chỉnh thể thống nhất giữa nhận thức,
thể chế, trao quyền, kiểm soát rủi ro, trách nhiệm giải trình và đánh giá bằng
kết quả, đó là: “Phát huy
tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu
trách nhiệm của cán bộ, đảng viên phải đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp,
toàn diện của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; sự giám sát của Nhân dân; là trách
nhiệm của cả hệ thống chính trị, trước hết là cấp uỷ, tổ chức đảng, người đứng
đầu; Khẳng định dấn thân, đổi mới, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung là phẩm
chất cốt lõi, trách nhiệm chính trị và yêu cầu tự thân của cán bộ, đảng viên
trong kỷ nguyên mới; lấy kết quả, sản phẩm cụ thể, hiệu quả thực thi, khả năng
tháo gỡ điểm nghẽn và mức độ hài lòng của Nhân dân, doanh nghiệp làm thước đo để
đánh giá; Tôn vinh, trọng dụng và bảo vệ cán bộ gắn với hoàn thiện thể chế, đẩy
mạnh phân cấp, phân quyền, quản trị rủi ro và trách nhiệm giải trình; bảo đảm
cán bộ có không gian cống hiến, thẩm quyền và trách nhiệm rõ ràng, được bảo vệ
khi có động cơ trong sáng, thực hiện đúng chủ trương, vì lợi ích chung. Xem xét
miễn trừ, giảm nhẹ trách nhiệm đối với rủi ro khách quan, sai sót trong quá
trình đổi mới, thử nghiệm, trên cơ sở đánh giá đầy đủ bối cảnh thực tiễn và đặt
lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết; Khuyến khích đổi mới, sáng
tạo, kiến tạo cơ chế, chính sách đặc thù, đột phá gắn với siết chặt kỷ luật, kỷ
cương, minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực. Phân định rõ
giữa đổi mới và vi phạm; thực hiện nhất quán, xuyên suốt cơ chế “giao quyền -
giám sát thực thi - quản trị rủi ro - đánh giá bằng kết quả”. Chủ động phòng ngừa,
kiên quyết ngăn chặn và xử lý nghiêm hành vi lợi dụng danh nghĩa đổi mới, sáng
tạo, dấn thân, đột phá để hợp thức hoá sai phạm, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực,
lợi ích nhóm”.
Điểm nổi bật của Nghị quyết là không dừng lại ở
việc kêu gọi cán bộ “dám nghĩ, dám làm”, mà hướng tới tạo lập môi trường thể chế
và tổ chức để tinh thần đó có thể được thực hiện trong thực tế. Nghị quyết nhấn
mạnh yêu cầu khắc phục tình trạng e ngại, sợ sai, làm việc cầm chừng, né tránh,
đùn đẩy trách nhiệm; đồng thời khẳng định việc đánh giá cán bộ phải dựa nhiều
hơn vào sản phẩm, hiệu quả công việc, khả năng tháo gỡ điểm nghẽn và giải quyết
những nhiệm vụ mới, khó. “Khắc phục triệt để tình trạng e ngại, sợ sai, làm việc
cầm chừng, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm; tạo chuyển biến rõ nét về kỷ luật, kỷ
cương, chất lượng và hiệu quả thực thi nhiệm vụ; góp phần xây dựng nền công vụ
năng động, liêm chính, chuyên nghiệp, sáng tạo, lấy sản phẩm, kết quả thực thi
và sự hài lòng của Nhân dân, doanh nghiệp làm thước đo chủ yếu; Thiết lập cơ chế
kiểm soát quyền lực, quản trị rủi ro, phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm và bảo
vệ cán bộ đúng người, đúng việc, đúng bản chất”.
Về chuyển đổi số, Nghị quyết số 24-NQ/TW nhấn mạnh đây là một trong những lĩnh vực cần tập trung tháo gỡ điểm nghẽn, trong đó xác định rõ: “Tập trung tháo gỡ điểm nghẽn trong khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển các thành phần kinh tế, giáo dục, y tế, văn hoá và các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao như tài chính, tài sản công, đầu tư công, đấu thầu, đất đai, năng lượng”. Nghị quyết đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số gắn với xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất, bảo đảm chất lượng và khả năng phục vụ quản lý, theo dõi, đánh giá: “Đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất về sáng kiến, đề xuất đổi mới bảo đảm dữ liệu ‘đúng, đủ, sạch, sống’; theo dõi, đánh giá, kiểm soát rủi ro và kịp thời nhân rộng các mô hình hiệu quả”. Đáng chú ý, chuyển đổi số còn được đặt trong quá trình đổi mới công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, với yêu cầu chuyển trọng tâm sang chủ động phòng ngừa, cảnh báo và hỗ trợ khắc phục: “Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra gắn với chuyển đổi số theo hướng chuyển trọng tâm sang chủ động phòng ngừa, cảnh báo và hỗ trợ khắc phục từ sớm, từ xa”. Cùng với đó, Nghị quyết yêu cầu khai thác hiệu quả cơ sở dữ liệu để hỗ trợ ra quyết định và giám sát thường xuyên: “Khai thác hiệu quả cơ sở dữ liệu quốc gia về đổi mới, sáng tạo để làm căn cứ hỗ trợ ra quyết định, giám sát thường xuyên và bảo vệ cán bộ”. Đặc biệt, trong tổ chức thực hiện, Nghị quyết giao Đảng uỷ Chính phủ “Chủ trì xây dựng nền tảng số quản trị đổi mới và cơ sở dữ liệu quốc gia về sáng kiến, đề xuất đổi mới, sáng tạo, bảo đảm kết nối, chia sẻ, phục vụ quản trị, giám sát và đánh giá”. Qua đó, chuyển đổi số được nhấn mạnh không chỉ ở việc ứng dụng công nghệ mà còn gắn với xây dựng nền tảng số, cơ sở dữ liệu, kết nối và chia sẻ dữ liệu, hỗ trợ ra quyết định, giám sát và nâng cao hiệu quả quản trị.
Từ chủ trương tại Nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính trị
đến chuyển đổi số trong nghiên cứu khoa học thể hiện trên ba vấn đề.
Thứ nhất, dám đổi mới
nhận thức. Cán bộ, đảng viên phải nhận thức rõ rằng trong kỷ nguyên mới, những
phương thức làm việc cũ không phải lúc nào cũng đủ khả năng giải quyết những vấn
đề mới. Đặc biệt, trong những lĩnh vực có tốc độ biến đổi nhanh như khoa học,
công nghệ và chuyển đổi số, tâm lý chờ đợi, chỉ làm theo tiền lệ hoặc né tránh
quyết định có thể trở thành một điểm nghẽn đối với chính sự phát triển.
Thứ hai, đổi mới phải chuyển thành hành động. Nghị
quyết yêu cầu chuyển từ tư duy quản lý hành chính, phục tùng “máy móc” sang tư
duy kiến tạo, hành động, chủ động giải quyết công việc; đồng thời thực hiện cơ
chế “giao quyền - giám sát thực thi - quản trị rủi ro - đánh giá bằng kết quả”. Điều này đặc biệt phù hợp với chuyển đổi số, bởi
đây là lĩnh vực mà nhiều vấn đề chưa có tiền lệ, công nghệ thay đổi nhanh, mô
hình tổ chức và phương thức khai thác dữ liệu liên tục xuất hiện những yêu cầu
mới.
Thứ ba, đổi mới phải tạo ra sản phẩm và hiệu quả thực
chất. Nghị quyết không đồng nhất đổi mới với số lượng sáng kiến hay mức độ sử dụng
công nghệ. Một sáng kiến chỉ thực sự có ý nghĩa khi giải quyết được một vấn đề
cụ thể, tiết kiệm nguồn lực, nâng cao hiệu quả hoặc tạo ra khả năng nhân rộng.
Đối với nghiên cứu khoa học lịch sử, cách tiếp
cận này gợi mở một yêu cầu quan trọng: không nên đánh giá chuyển đổi số bằng số
lượng tài liệu được quét - scan, số lượng
máy móc được trang bị hay việc có thêm một website, một kho dữ liệu lớn -
big data,… mà phải
đánh giá bằng khả năng làm cho tư liệu dễ tiếp cận hơn, dữ liệu được tổ chức tốt
hơn, quá trình nghiên cứu hiệu quả hơn và những sản phẩm tri thức mới được tạo
ra.
Trước đó, Nghị
quyết số 57-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi
số là một chỉnh thể thống nhất của mô hình phát triển mới; đồng thời nhấn mạnh
vai trò của thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược. Đối với
nghiên cứu khoa học, điều đó có nghĩa chuyển đổi số không thể được hiểu đơn giản
là tin học hóa một số công đoạn, mà phải gắn với thay đổi phương thức tổ chức
và sản xuất tri thức.
Đối với khoa học lịch sử, nhận thức này càng
có ý nghĩa bởi tư liệu là nền tảng của toàn bộ hoạt động nghiên cứu. Trong thời
gian dài, công việc của nhà sử học về cơ bản được tổ chức theo chu trình: tìm
kiếm tư liệu, đọc và phê phán sử liệu, ghi chép, phân tích, xây dựng luận chứng,
viết và công bố. Công nghệ số không làm mất đi logic căn bản ấy, nhưng đang làm
thay đổi sâu sắc môi trường trong đó từng công đoạn được thực hiện. Tư liệu ngày càng được số hóa với quy mô lớn;
tìm kiếm toàn văn cho phép tiếp cận những nguồn trước đây khó phát hiện; các
công cụ như GIS, phân tích mạng lưới, khai phá văn bản và trí tuệ nhân tạo mở rộng
khả năng xử lý những tập hợp tư liệu lớn. Vì vậy, câu hỏi đặt ra không còn đơn
giản là nhà sử học có sử dụng công nghệ số hay không, mà là sử dụng công nghệ
như thế nào để tạo ra tri thức lịch sử tốt hơn. Do đó, chuyển đổi số trong nghiên cứu lịch sử không
nên được nhìn như một trào lưu công nghệ bên ngoài sử học, mà là một vấn đề bên
trong thực hành sử học. Quan trọng hơn, cần chuyển từ “số hóa” sang tổ chức dữ
liệu, xây dựng cơ sở dữ liệu, liên thông, tái sử dụng và tạo lập tri thức mới.
Như vậy, nhận thức về chuyển đổi số trong
nghiên cứu lịch sử có thể được xác lập ở ba cấp độ. Một là, từ tư liệu giấy sang tư liệu số. Đây là bước
khởi đầu, tạo điều kiện bảo quản và mở rộng khả năng tiếp cận. Hai là, từ tư liệu số sang dữ liệu có cấu trúc. Tài
liệu phải được gắn metadata, xác định nguồn gốc, niên đại, tác giả, nơi lưu giữ,
quyền khai thác và các thông tin cần thiết khác để có thể tìm kiếm, liên kết và
sử dụng. Ba là, từ dữ liệu sang hạ tầng tri thức. Khi các dữ
liệu được chuẩn hóa, kết nối và tái sử dụng, chúng mới thực sự trở thành nguồn
lực cho nghiên cứu.
Vì vậy, một kho tài liệu gồm hàng triệu trang
PDF chưa hẳn hoặc đương nhiên là một hệ thống nghiên cứu số. Chỉ
khi dữ liệu số làm thay đổi năng lực khai thác sử liệu, phương thức đặt câu hỏi
và khả năng tạo lập tri thức mới thì chuyển đổi số mới đạt tới chiều sâu thực
chất. Ở đây, cần hiểu rằng số hóa tài liệu lịch sử phải đi cùng
công cụ tìm kiếm và cơ sở dữ liệu phù hợp; tài liệu sau khi scan cần có thông
tin về tên tài liệu, niên đại, tác giả, nơi lưu giữ và phương pháp nhận dạng ký
tự. Quan trọng hơn, vấn đề bản quyền, quyền tiếp cận, bảo quản và duy trì dữ liệu
lâu dài phải được tính đến ngay trong quá trình số hóa.
2. Vận dụng
“tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm”
vào thực hành nghiên cứu lịch sử trong bối cảnh chuyển đổi số
Tinh thần của Nghị quyết số 24-NQ/TW đòi hỏi đội
ngũ cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ nghiên cứu khoa học, phải chủ động
tìm cách đưa chủ trương vào công việc cụ thể.
Dám thay đổi phương thức tiếp cận và khai thác
sử liệu: Một biểu hiện đầu tiên của tinh thần đổi mới
là sẵn sàng thay đổi phương thức tiếp cận tư liệu. Nhà sử học truyền thống thường phải trực tiếp
đến thư viện, kho lưu trữ, bảo tàng hoặc các trung tâm tư liệu để tìm kiếm và
khai thác nguồn sử liệu. Không gian số đang làm thay đổi điều đó. Nhiều nguồn
tư liệu có thể được tiếp cận từ xa; công cụ tìm kiếm toàn văn giúp phát hiện những
thông tin trước đây khó tìm; các cơ sở dữ liệu cho phép liên kết nhiều nhóm tư
liệu khác nhau. Tuy
nhiên, khả năng tiếp cận nhanh hơn không đồng nghĩa với việc nghiên cứu trở nên
đơn giản hơn. Ngược lại, khi lượng thông tin tăng lên, yêu cầu phê phán sử liệu
càng cao. Nhà sử học phải xác định nguồn gốc, bối cảnh hình thành, mức độ tin cậy,
tính đại diện và khả năng biến đổi của tài liệu trong quá trình số hóa. Do đó, “dám làm” trong nghiên cứu lịch sử số
không có nghĩa là sử dụng càng nhiều công nghệ càng tốt, mà là dám thử nghiệm
những phương pháp mới nhưng không từ bỏ các chuẩn mực căn bản của sử học.
Dám chuyển từ “nguồn” sang “nguồn như dữ liệu”: Một thay đổi quan trọng của nghiên cứu lịch sử trong bối cảnh chuyển đổi số là chuyển từ cách nhìn “nguồn” sang “nguồn như
dữ liệu”. Khi một
tập hợp tư liệu được cấu trúc thành dữ liệu, nhà nghiên cứu có thể khảo sát
không chỉ từng tài liệu riêng lẻ mà cả những tập hợp lớn. Khai phá văn bản có
thể giúp nhận diện chủ đề, từ khóa và sự biến đổi của diễn ngôn; phân tích mạng
lưới có thể làm rõ quan hệ giữa các nhân vật, tổ chức; GIS có thể giúp khảo sát
các hiện tượng lịch sử trong không gian. Những
phương pháp này không thay thế phương pháp sử học mà mở rộng khả năng đặt câu hỏi
và kiểm chứng giả thuyết. Nhà sử học vẫn là người xác định câu hỏi nghiên cứu,
lựa chọn nguồn, đánh giá dữ liệu, giải thích bối cảnh và xây dựng luận chứng.
Dám hợp tác liên ngành: Chuyển đổi số cũng đặt ra yêu cầu vượt khỏi mô
hình nghiên cứu hoàn toàn cá nhân. Nhà sử
học không nhất thiết phải trở thành chuyên gia lập trình, dữ liệu hay trí tuệ
nhân tạo. Nhưng họ cần có khả năng làm việc với chuyên gia công nghệ, ngôn ngữ
học, địa lý học, lưu trữ học và các lĩnh vực liên quan. Điều này phù hợp với tinh thần Nghị quyết số
24-NQ/TW về đổi mới tư duy, phương pháp và lề lối làm việc. Trong môi trường
nghiên cứu mới, năng lực của một nhà khoa học không chỉ thể hiện ở việc làm tốt
công việc chuyên môn truyền thống, mà còn ở khả năng kết nối tri thức và tổ chức
nguồn lực để giải quyết một bài toán mới.
Dám sử dụng AI nhưng “không phụ thuộc vào AI”: Trí tuệ nhân tạo đang mở ra nhiều khả năng mới
đối với nghiên cứu lịch sử: nhận dạng văn bản, chuyển đổi hình ảnh thành văn bản,
nhận diện nhân vật - địa danh - sự kiện, tìm kiếm và tổng hợp thông tin trong
những tập hợp tư liệu lớn. Tuy
nhiên, AI không thể thay thế tư duy phê phán của nhà sử học. Những thông tin do
AI tạo ra có thể sai, thiếu bối cảnh hoặc thậm chí tạo ra những dữ liệu không tồn
tại - “phi lịch sử”. Vì vậy, nguyên tắc quan trọng phải là: AI hỗ trợ nhà sử học xử lý tư liệu, nhưng nhà
sử học chịu trách nhiệm về tính xác thực và giá trị khoa học của kết quả. Điều đó đòi hỏi xây dựng chuẩn mực sử dụng AI
trong nghiên cứu lịch sử, trong đó đặc biệt coi trọng khả năng truy nguyên nguồn
dữ liệu, kiểm chứng và tái kiểm chứng.
3. Từ chủ
trương đến hành động - 100 ngày cao điểm chuyển đổi số tại Viện Sử học
Từ chủ trương đến hành động: Hiện nay, Viện Sử học đang triển khai Kế hoạch
hành động cao điểm 100 ngày tháo gỡ các điểm nghẽn, thúc đẩy các nhiệm vụ chuyển
đổi số và Kế hoạch số hóa dữ liệu. Kế hoạch
được xây dựng trên cơ sở Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW ngày 11/7/2026 của Ban Chỉ đạo
Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số;
Kế hoạch hành động cao điểm 100 ngày của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
theo Quyết định số 1507-QĐ/VHLKHXHVN ngày 7/8/2026 cùng các chủ trương, chương
trình hành động có liên quan. Điểm
đáng chú ý của kế hoạch là không tiếp cận chuyển đổi số đơn thuần dưới góc độ đầu
tư công nghệ mà tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn về dữ liệu, hạ tầng, nền tảng,
nhân lực và tổ chức thực hiện. Đối với Viện Sử học, năm nhóm dữ liệu được xác định
có liên quan trực tiếp đến hoạt động của đơn vị gồm: quản trị hành chính,
nghiên cứu khoa học, tạp chí, thư viện và công tác Đảng. Đây là bước chuyển rất đáng chú ý. Chuyển đổi
số không còn được nhìn như công việc riêng của bộ phận kỹ thuật mà trở thành
nhiệm vụ gắn với toàn bộ hoạt động của một cơ quan nghiên cứu.
Số hóa hồ sơ Đảng, hồ sơ chính quyền và dữ liệu
quản trị: Việc số hóa hồ sơ Đảng, hồ sơ chính quyền và
các nhóm hồ sơ quản trị góp phần tạo lập nền tảng dữ liệu phục vụ hoạt động thường
xuyên của Viện. Giá trị
của công việc này không chỉ nằm ở việc giảm sử dụng hồ sơ giấy. Khi dữ liệu được
phân loại, chuẩn hóa, lưu trữ và phân quyền hợp lý, cơ quan có thể từng bước
chuyển từ quản lý dựa trên hồ sơ vật lý sang quản trị dựa trên dữ liệu. Đây chính là sự cụ thể hóa yêu cầu đổi mới
phương thức làm việc được Nghị quyết số 24-NQ/TW đặt ra: công việc phải rõ người,
rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời gian và rõ kết quả.
Số hóa hồ sơ và sản phẩm đề tài cấp Viện, cấp
Bộ: Đối với hoạt động nghiên cứu khoa học, một nhiệm
vụ có ý nghĩa đặc biệt là số hóa hồ sơ và sản phẩm các đề tài cấp Viện, cấp Bộ,
nhất là giai đoạn 2020-2025. Đây là nguồn dữ liệu khoa học có giá trị trực
tiếp đối với hoạt động nghiên cứu. Mỗi đề tài không chỉ có sản phẩm cuối cùng
mà còn có thuyết minh, báo cáo, chuyên đề, phụ lục, tư liệu, dữ liệu khảo sát
và các sản phẩm khoa học liên quan. Khi những
tài liệu này được số hóa, chuẩn hóa và tổ chức thành hệ thống, sản phẩm của một
đề tài đã nghiệm thu không còn chỉ được nhìn nhận như “một hồ sơ đã hoàn
thành”, mà có thể trở thành nguồn dữ liệu khoa học có khả năng tái sử dụng. Đây là một thay đổi rất quan trọng đối với
nghiên cứu lịch sử. Tính kế thừa của sử học rất cao; một bộ tư liệu, danh mục
nhân vật, địa danh, sự kiện, bảng thống kê hoặc kết quả điều tra của một đề tài
có thể tiếp tục phục vụ nhiều câu hỏi nghiên cứu khác. Vì vậy, số hóa sản phẩm đề tài chính là quá
trình biến “kết quả nghiên cứu đã hoàn thành” thành “tài sản dữ liệu khoa học
có khả năng tích lũy và tái sử dụng”.
Số hóa tài liệu và
hình thành hạ tầng tư liệu nghiên cứu: Thư viện
là một trong những bộ phận có vai trò quan trọng nhất đối với chuyển đổi số tại
Viện Sử học. Nếu số
hóa chỉ dừng ở việc tạo các tệp ảnh hoặc PDF, giá trị khai thác sẽ còn hạn chế.
Tài liệu cần được gắn thông tin về tác giả, nhan đề, thời gian, chủ đề, từ
khóa, nơi lưu giữ và các thông tin thư mục cần thiết. Khi đó, thư viện có thể từng bước chuyển từ
nơi lưu giữ tài liệu thành hạ tầng dữ liệu phục vụ nghiên cứu. Nhiệm vụ này hướng tới
mục tiêu, số hóa
đi cùng công cụ tìm kiếm, cơ sở dữ liệu, metadata, quyền tiếp cận, bản quyền và
bảo quản lâu dài.
Số hóa Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử: Một hướng có ý nghĩa đặc biệt là chuyển đổi số
Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử. Theo Đề
án hoạt động Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử theo hướng đổi mới sáng tạo và chuyển đổi
số giai đoạn 2026-2030, chuyển đổi số của tạp chí khoa học không chỉ là chuyển ấn
phẩm giấy thành bản điện tử mà phải hướng tới thay đổi toàn diện phương thức quản
trị, xuất bản và lan tỏa tri thức. Đối với Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, nhiệm vụ
này càng có ý nghĩa bởi Tạp chí có bề dày hơn 70 năm và đang sở hữu một kho tư
liệu học thuật rất lớn. Theo định hướng được công bố, Tạp chí đã xây dựng website điện tử - tạp chí điện tử, đang từng bước số hóa các số đã xuất bản,
chuẩn hóa dữ liệu xuất bản và quy trình quản lý. Giai đoạn
2026-2027 tập trung vào quy trình tiếp nhận, phản
biện, biên tập và xuất bản trên môi trường số, triển khai gắn mã DOI, chuẩn hóa dữ liệu và các tiêu chí liên
quan. Giai đoạn 2028-2030 tiếp
tục hoàn thiện số hóa kho tạp chí từ năm 1954 đến nay, xây dựng Đề án Tạp chí
điện tử, mở rộng xuất bản tiếng Anh và từng bước kết nối với các hệ thống chỉ mục
quốc tế. Nếu được thực hiện đồng bộ, kho ấn phẩm của Tạp
chí sẽ không chỉ là nơi lưu trữ các số báo đã xuất bản mà có thể trở thành kho
tri thức sử học số, trong đó các bài viết được liên kết theo tác giả, chủ đề,
nhân vật, sự kiện, địa danh, thời kỳ và tài liệu tham khảo.
Từ “làm
nhiệm vụ” sang “quản trị bằng sản phẩm và minh chứng”: Đợt cao điểm được triển khai từ ngày 8/8 đến hết
ngày 15/11/2026; các
nhiệm vụ số hóa còn lại tiếp tục thực hiện đến hết năm 2026. Kế hoạch tổ chức
thực hiện theo nguyên tắc “6 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm
quyền, rõ thời gian và rõ kết quả. Nhiệm vụ chỉ được coi là hoàn thành khi có sản
phẩm hoặc minh chứng cụ thể. Đây là điểm có ý nghĩa về phương pháp quản trị. Trước đây, một nhiệm vụ có thể được đánh giá
chủ yếu dựa trên việc đã triển khai hay chưa. Trong môi trường quản trị số, câu
hỏi phải chuyển thành: đã có sản phẩm gì, dữ liệu nào, tiến độ ra sao, ai chịu
trách nhiệm và có thể kiểm chứng bằng minh chứng nào?
Do Kế hoạch 100 ngày hiện vẫn đang được triển
khai, chưa nên đánh giá đây là một quá trình đã hoàn tất. Tuy nhiên, có thể nhận
diện một số chuyển biến bước đầu và những giá trị nền tảng đang được hình
thành. Thứ nhất, nhận thức về chuyển đổi số đang chuyển từ
“công nghệ” sang “dữ liệu”. Dữ liệu
được nhìn nhận là tài sản chung của cơ quan, cần được rà soát, phân loại, chuẩn
hóa và tổ chức để có thể sử dụng lâu dài. Thứ hai, phạm vi chuyển đổi số được mở rộng từ một số
khâu chuyên môn sang toàn bộ hoạt động của Viện. Hồ sơ Đảng, hồ sơ chính quyền, quản trị hành
chính, đề tài khoa học, Tạp chí và Thư viện đều trở thành những bộ phận của
cùng một quá trình chuyển đổi. Thứ ba, sản phẩm nghiên cứu được nhìn nhận như nguồn
dữ liệu có khả năng tái sử dụng. Đây có
thể là một trong những kết quả quan trọng nhất đối với hoạt động nghiên cứu lịch
sử. Các đề tài đã hoàn thành không bị “đóng lại” sau nghiệm thu mà có khả năng
tiếp tục tạo giá trị khoa học. Thứ tư, phương thức tổ chức công việc có sự thay đổi. Việc xác định rõ người, việc, trách nhiệm, thời
gian và kết quả tạo điều kiện chuyển từ quản lý nhiệm vụ sang quản trị bằng sản
phẩm và dữ liệu. Thứ năm, khả năng hình thành hạ tầng tri thức số của
Viện được mở ra. Khi dữ
liệu quản trị, đề tài, thư viện, tạp chí và các nguồn tư liệu khác được chuẩn
hóa và kết nối, chúng có thể tạo thành những lớp dữ liệu bổ trợ lẫn nhau, phục
vụ cả quản trị và nghiên cứu.
Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng số hóa mới chỉ
là điều kiện cần. Hiệu quả cuối cùng phải được đánh giá bằng khả năng khai thác
dữ liệu và tạo ra giá trị mới. Vấn đề
không chỉ là số hóa được bao nhiêu tài liệu mà quan trọng hơn là tài liệu sau
khi số hóa có thực sự được sử dụng hay không. Do đó, thước đo chuyển đổi số trong nghiên cứu
lịch sử cần được chuyển từ: “Số hóa
được bao nhiêu?” sang: “Khai thác được gì?” và cao hơn nữa: “Tạo ra tri thức mới gì?”,…
4. Kết luận và những vấn đề đặt
ra
Nghị quyết số 24-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra
một yêu cầu có ý nghĩa sâu sắc đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ
nguyên mới: phải chuyển mạnh từ nhận thức sang hành động, từ tâm lý an toàn
sang tinh thần tiên phong, từ cách làm theo tiền lệ sang chủ động đổi mới, từ
hoàn thành nhiệm vụ sang tạo ra sản phẩm và hiệu quả thực chất. Đối với nghiên cứu khoa học lịch sử, yêu cầu
đó gặp gỡ trực tiếp với quá trình chuyển đổi số đang diễn ra dưới tác động của
Nghị quyết số 57-NQ/TW. Công nghệ số đang làm thay đổi cách nhà sử học tiếp cận
tư liệu, tổ chức dữ liệu, phân tích sử liệu, hợp tác nghiên cứu và công bố tri
thức. Nhưng công nghệ không tự tạo ra sự chuyển đổi. Con người, tư duy và cách
tổ chức thực hiện mới là yếu tố quyết định.
Thực tiễn tại Viện Sử học, đặc biệt là việc
triển khai Kế hoạch hành động cao điểm 100 ngày tháo gỡ các điểm nghẽn, thúc đẩy
chuyển đổi số và kế hoạch số hóa dữ liệu, cho thấy một bước chuyển đáng chú ý:
từ nhận thức chung về chuyển đổi số sang xác định những nhiệm vụ cụ thể về dữ
liệu, hạ tầng, nền tảng, nhân lực và quy trình. Việc số hóa hồ sơ Đảng, hồ sơ
chính quyền, hồ sơ khoa học, sản phẩm đề tài cấp Viện, cấp Bộ, dữ liệu Thư viện
và Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử đang tạo nền tảng cho một phương thức quản trị và
nghiên cứu mới.
Tuy nhiên, giá trị của quá trình này sẽ không
được quyết định bởi số lượng tài liệu được số hóa, mà bởi khả năng biến những
tài liệu ấy thành dữ liệu có cấu trúc, dữ liệu thành hạ tầng nghiên cứu, hạ tầng
thành công cụ phát hiện và kiểm chứng, và cuối cùng tạo ra tri thức lịch sử mới. Ở phương diện đó, chuyển đổi số chính là một
phép thử đối với tinh thần tiên phong, gương mẫu, dám nghĩ, dám làm, dám chịu
trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học.
Và cũng từ đó có thể thấy một yêu cầu có tính nguyên tắc: nhà sử học không thể
đứng ngoài chuyển đổi số, nhưng cũng không thể để công nghệ dẫn dắt phương pháp
sử học. Công nghệ phải trở thành công cụ để sử học thực hiện tốt hơn chức năng
cốt lõi của mình: phát hiện, kiểm chứng, giải thích và kiến tạo tri thức lịch sử. Nếu làm được điều đó, quá trình chuyển đổi số
hiện nay sẽ không chỉ tạo ra những kho tài liệu điện tử hay những quy trình làm
việc mới, mà có thể góp phần hình thành hạ tầng dữ liệu và hạ tầng tri thức số
của ngành Sử học Việt Nam, qua đó nâng cao năng lực nghiên cứu, đào tạo, bảo tồn
và phát huy giá trị của tri thức lịch sử trong kỷ nguyên mới.
Nhìn từ Nghị quyết số 24-NQ/TW, vấn đề cuối
cùng và cũng là vấn đề quyết định không nằm ở máy móc hay phần mềm mà ở con người. Chuyển đổi số có thể tạo ra hạ tầng, cơ sở dữ
liệu và công cụ mới, nhưng chính cán bộ là người quyết định dữ liệu nào cần được
số hóa, tổ chức ra sao, sử dụng thế nào và biến dữ liệu thành tri thức bằng
cách nào. Đối với
đội ngũ nghiên cứu lịch sử, tính tiên phong, gương mẫu trước hết thể hiện ở việc
chủ động học hỏi và thích ứng với phương thức nghiên cứu mới; không đứng ngoài
chuyển đổi số nhưng cũng không chạy theo công nghệ một cách hình thức.
Tinh thần “dám nghĩ” là dám đặt ra những câu hỏi
nghiên cứu mới dựa trên nguồn dữ liệu mới. “Dám làm” là dám thử nghiệm phương pháp mới,
công cụ mới, mô hình nghiên cứu mới. “Dám chịu
trách nhiệm” là chịu trách nhiệm về chất lượng dữ liệu, phương pháp xử lý, tính
xác thực của kết quả và tính trung thực của công bố khoa học. Đặc biệt, đối với cán bộ quản lý, tinh thần
tiên phong còn phải thể hiện ở khả năng tạo môi trường khuyến khích đổi mới.
Không thể yêu cầu cán bộ nghiên cứu đổi mới nếu mọi sáng kiến đều phải đi theo
lối mòn; cũng không thể thúc đẩy chuyển đổi số nếu trách nhiệm được giao không
đi kèm thẩm quyền, nguồn lực và cơ chế hỗ trợ. Đây chính là điểm Nghị quyết số 24-NQ/TW nhấn
mạnh khi đặt đổi mới, phân cấp, quản trị rủi ro, trách nhiệm giải trình và bảo
vệ cán bộ trong cùng một cơ chế.
Từ thực tiễn trên, để chuyển đổi số trong
nghiên cứu lịch sử đi vào chiều sâu, có thể tập trung vào một số yêu cầu sau.
Một là, xây dựng chiến lược dữ liệu sử học thay vì
chỉ thực hiện các dự án số hóa riêng lẻ. Mỗi nhiệm
vụ số hóa cần được đặt trong kiến trúc dữ liệu chung, bảo đảm khả năng kết nối
và tái sử dụng.
Hai là, thống nhất chuẩn dữ liệu. Cần từng bước xây dựng chuẩn metadata đối với
tài liệu lịch sử, đề tài khoa học, sách, bài tạp chí, nhân vật, địa danh, sự kiện
và các nhóm tư liệu khác.
Ba là, gắn số hóa với quyền truy cập, bản quyền và
bảo mật. Không
phải tài liệu nào số hóa cũng có thể công khai. Cần xác định rõ nguồn gốc, tình
trạng pháp lý, quyền tác giả, mức độ mật và phạm vi khai thác.
Bốn là, xây dựng năng lực số cho nhà sử học, cán bộ nghiên cứu, quản trị. Năng lực số không có nghĩa nhà sử học, cán bộ nghiên cứu, quản trị phải trở
thành chuyên gia công nghệ, mà cần có khả năng quản trị dữ liệu nghiên cứu, sử
dụng công cụ tìm kiếm, hiểu metadata, sử dụng OCR/HTR, GIS, khai phá văn bản và
AI ở mức phù hợp; đồng thời hiểu rõ giới hạn của các công cụ này.
Năm là, hình thành các nhóm nghiên cứu liên ngành. Những bài toán lớn của sử học số cần sự phối hợp
giữa nhà sử học, chuyên gia công nghệ thông tin, dữ liệu, lưu trữ, thư viện,
ngôn ngữ học và địa lý học.
Sáu là, xây dựng chuẩn mực sử dụng AI trong nghiên cứu
lịch sử. AI phải
được coi là công cụ hỗ trợ, không phải nguồn chân lý. Mọi thông tin do AI hỗ trợ
tạo ra đều phải được kiểm chứng bằng nguồn sử liệu đáng tin cậy.
Bảy là, đánh giá chuyển đổi số bằng sản phẩm và hiệu
quả nghiên cứu. Sản phẩm
cuối cùng phải được nhìn ở khả năng làm cho nhà sử học tìm kiếm nhanh hơn, xử
lý được nhiều dữ liệu hơn, kiểm chứng tốt hơn, đặt ra câu hỏi mới và tạo ra những
công trình nghiên cứu có giá trị hơn.